LẺ BÓNG và ĐÔI BÓNG
Ở một nơi xa nửa vòng trái đất. Mượn quê người làm một chút quê hương. Những hạt thơ rơi bên ngoài Tổ quốc. Vẫn nẩy mầm, vẫn nở đóa yêu thương.
THAY LỜI CHÀO MỪNG!
LỜI CHÀO MỪNG
CẢM ƠN QUÝ THÂN HỮU ĐÃ MỞ CỬA VÀO NGÔI NHÀ ĐƠN SƠ "QUA DẤU BỤI THỜI GIAN" CỦA TRẦN KIÊU BẠC.
Saturday, November 1, 2014
TỪ BẠN BÈ GỞI
Phiếm Bàn Về “TÂM SỰ BÀ HUYỆN THANH QUAN” Trong Bài Qua Đèo Ngang Của Bà Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân
Theo Từ Điển Wikipedia ghi nhận, thì Bà Huyện Thanh Quan đã để lại cho đời gồm 6 bài thơ bằng chữ Nôm theo thể Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật

QUA ĐÈO NGANG
Bước tới đèo ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá lá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ (rợ) mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta !
Theo Từ Điển Wikipedia ghi nhận, thì Bà Huyện Thanh Quan đã để lại cho đời gồm 6 bài thơ bằng chữ Nôm theo thể Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật như sau :
1.- Thăng Long Thành Hoài Cổ.
2.- Qua Chùa Trấn Bắc.
3.- Qua Đèo Ngang.
4.- Chiều Hôm Nhớ Nhà.
5.- Tức Cảnh Chiều Thu.
6.- Cảnh Đền Trấn Võ.
Một số ý kiến khác lại cho rằng, Bà Huyện Thanh Quan chỉ để lại 4 bài là Thăng Long Hoài Cổ; Chiều Hôm Nhớ Nhà; Qua Chùa Trấn Bắc và Qua Đèo Ngang, còn những bài khác thì chưa chắc, trong đó lại có bài nằm trong nhóm tác phẩm của Bà Hồ Xuân Hương.
Trong bốn bài thơ đó đều tuyệt tác, người ta thấy tấm lòng “hoài cổ” của Bà rõ nét rất nhiều, nhưng trừ bài Qua Đèo Ngang, thì 3 bài kia lại có nhiều thành ngữ chữ Hán. Xin được nêu ra đây để thấy sự khác biệt với bài Qua Đèo Ngang, mặc dù cũng cùng chung một tấc lòng hoài cổ như đã nêu trên của tác giả.
THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ
Tạo hóa gây chi cuộc hí trường,
Đến nay thắm thoát mấy tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương,
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.
(Những chữ Hán là : tạo hóa, hí trường, tinh sương, thu thảo, lâu đài,
tịch dương, tuế nguyệt, tang thương, kim cổ, đoạn trường).
CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ
(Có sách gọi bài này là Chiều Hôm, còn
Chiều Hôm Nhớ Nhà lại là bài khác)
Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn.
Gác mái ngư ông về viễn phố,
Gỏ sừng mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Kẻ chốn chương đài người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn.
(Những chữ Hán là : hoàng hôn, ngư ông, viễn phố, mục tử, cô thôn,
chương đài, lữ thứ, hàn ôn).
QUA CHÙA TRẤN BẮC
Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu,
Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau.
Mấy tòa sen tỏa hơi hương ngự,
Năm thức mây phong nếp áo chầu.
Sóng lớp phế hưng coi đã rộn,
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau.
Người xưa cảnh cũ nào đâu tá,
Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu.
(Những chữ Hán là : hành cung, cố quốc, hương ngự, phong, phế hưng,
kim cổ)
QUA ĐÈO NGANG
Bước tới đèo ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá lá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ (rợ) mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta !
- Hai chữ Quốc quốc và Gia gia vừa là chữ Hán, mà cũng là hai chữ tượng thanh của chim Cuốc (tức chim Đỗ Quyên) và chim Đa Đa (Gà Gô).
Trước khi cố gắng phân tích về tâm tình hoài cổ và nỗi nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan, xin phép được lược qua về tiểu sử của Bà để bạn đọc rộng đường tìm hiểu thêm.
Theo Giáo Sư Dương Quảng Hàm trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu trang 396 thì ghi là : không rõ họ tên của Bà. Còn các tác giả về sau này lại cho rằng Bà tên là Nguyễn Thị Hinh sinh năm 1805 và mất năm 1848, người Làng Nghi Tàm, Huyện Vĩnh Thuận ở ven Hồ Tây, Hà Nội. Bà là con của vị danh nho Nguyễn Lý (1755-1837) vốn là một cựu thần nhà Lê, sống ở thế kỷ 19, (khoảng cuối triều Lê, đầu Nguyễn). Bà kết duyên cùng ông Lưu Nguyên Ôn (1804-1847) bút hiệu Lưu Ái Lan (có sách còn chép là Lưu Nghi hay Lưu Nguyên Uẩn), đỗ cử nhân triều Minh Mệnh, và được bổ làm Tri huyện Thanh Quan, nay là huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Vì là phu nhân của huyện quan, nên người đời gọi là Bà Huyện Thanh Quan. Bà cũng được vua Minh Mệnh triệu vào kinh phong chức Cung Trung Giáo Tập để dạy các công chúa, phi tần và cung nữ.
Có tác giả nói Bà là học trò của danh sĩ Phạm Quý Thích bạn thân với Thi Hào Nguyễn Du, nhưng cũng có tác giả cho rằng cha của Bà mới là học trò của cụ Phạm Quý Thích, chứ không phải là Bà.
Xem ra thì tiểu sử hãy còn mù mờ, vì mỗi tài liệu ghi mỗi khác nhất là năm sinh và mất của Bà. Xin tạm theo Wikipedia, mà Wikipedia cũng ghi theo một vài tác giả sau này căn cứ vào chồng Bà (1804-1847), để nói về năm sinh 1805 và mất 1848 của Bà vậy. Ở đây xin tạm vin vào cái mốc 1805-1848 này, để lý giải phần nào về tâm sự của Bà. Đó là tâm sự “hoài Lê” mà nhiều người đã từng nghĩ như thế.
Xuyên qua ba bài thơ “Thăng Long Thành Hoài Cổ, Chiều Hôm Nhớ Nhà và Qua Chùa Trấn Bắc”, ta thấy rõ tâm sự “nhớ về triều đình cũ” hơn là nỗi nhớ nhà của Bà như :
- Nào là “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo; Nền cũ lâu đài bóng tịch dương” trong bài Thăng Long Thành Hoài Cổ.
- Nào là “hành cung”, “cố quốc”, “mùi hương ngự”, “nếp áo chầu”, “sóng lớp phế hưng”, “người xưa cảnh cũ” trong bài Qua Chùa Trấn Bắc.
- Còn bài Chiều Hôm Nhớ Nhà thì rõ ràng là tả cảnh kẻ đi ngoài “dặm liễu sương sa” mà nhớ về kẻ ở “chương đài”, cho nên biết ai mà “kể nỗi hàn ôn ấm lạnh”.
Kẻ đi ngoài dặm liễu, cho phép ta liên tưởng đến bước đường muôn dặm của Bà phải đi từ huyện Thanh Quan, tỉnh Thái Bình vào kinh thành ở Phú Xuân (Huế) do lệnh vua phong làm Cung Trung Giáo Tập.
Còn danh từ “Chương đài” theo tích “Liễu chương đài” chỉ nơi người đẹp tên Liễu ở con đường Chương Đài trong chuyện của Trương Hoành bên Tàu. Các tác giả Việt Nam ta thường dùng điển tích “chương đài” này để chỉ nơi đài các, hoặc chỉ về các tiểu thơ hay các mệnh phụ phu nhân, cho nên ta có thể hình dung câu “Kẻ chốn chương đài người lữ thứ” trong bài Chiều Hôm Nhớ Nhà, là nói về tâm trạng nhớ nhà, nhớ chồng con đang ở nơi đài các hoặc phủ nha tại huyện Thanh Quan, mà Bà lại là người lữ thứ đang đi ngoài vạn dặm trường đình.
Cái tâm trạng nhớ nhà của Bà, ta cũng thấy bàng bạc ở câu “Thương nhà mỏi miệng cái gia gia” trong bài Qua Đèo Ngang. Tại sao là thương nhà ? Theo nhiều tài liệu ghi lại, thì Ông Huyện Thanh Quan chồng Bà có thời gian bị cách chức vì can án. Vậy thì phải chăng khi Bà lên đường vào Kinh Đô Phú Xuân thụ phong chức Cung Trung Giáo Tập, là lúc chồng Bà đang hồi vận bỉ này, nên Bà mới hạ bút thương nhà ?!
Đọc đi, đọc lại nhiều lần bốn bài thơ Thăng Long Hoài Cổ; Chiều Hôm Nhớ Nhà; Qua Chùa Trấn Bắc và Qua Đèo Ngang, rồi đối chiếu vào lịch sử nước nhà, kẻ viết xin đưa ra những thiển kiến của mình, để lập luận về tinh thần hoài cổ của Bà như sau :
Năm 1786 Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc Hà dưới danh nghĩa “Phù Lê Diệt Trịnh” và đã làm xong sứ mạng. Ngài được vua Lê Hiển Tông gả Công Chúa Ngọc Hân cho. Lúc đó dân chúng cả nước đều căm phẫn việc Chúa Trịnh tiếm quyền vua Lê, và khi Nguyễn Huệ diệt Chúa Trịnh xong ai nấy đều vui mừng hớn hở vì đã trừ xong mầm mống loạn thần, nhất là dân chúng Bắc Hà càng vui mừng gấp bội. Kinh thành Thăng Long lại rực đèn hoa chúc mừng đám cưới của Công Chúa Ngọc Hân sánh duyên cùng hào kiệt đất Tây Sơn là Phò Mã Nguyễn Huệ, lúc đó được tấn phong là Nguyên Súy Dực Chính Phù Vận Uy Quốc Công. Rồi vua cha Lê Hiển Tông băng hà, Nguyễn Huệ đưa Công Chúa Ngọc Hân về Nam. Vua Lê Chiêu Thống lên ngôi, nhưng triều chính rối ren, phe Chúa Trịnh lại nổi lên làm loạn, khiến Nguyễn Huệ phải đưa quân ra Bắc lần nữa mới dẹp yên.
Nhân đó vào tháng 4 năm Đinh Mùi (1787) Nguyễn Nhạc là Anh Cả của Nguyễn Huệ chia vùng đất phía Nam ra làm ba : Từ đèo Hải Vân trở ra Bắc thuộc Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ. Đất Gia Định thuộc về người Anh Thứ Hai của Nguyễn Huệ là Đông Định Vương Nguyễn Lữ. Nguyễn Nhạc tự mình đóng đô ở Qui Nhơn xưng là Trung Ương Hoàng Đế (theo Tóm Tắt Niên Biểu Lịch Sử VN của hai ông Hà Văn Thư và Trần Hồng Đức).
Như vậy quyền hành vua Lê bị tước bỏ, không còn lại là bao; cho nên đến cuối năm 1788 vua Lê Chiêu Thống cõng rắn cắn gà nhà, bằng cách đưa đường cho đội quân xâm lược Mãn Thanh vào chiếm đóng kinh thành Thăng Long. Quân Thanh vô cùng tàn bạo, phá hủy hết đền đài cung điện của kinh thành và tàn sát người dân Việt Nam không chút nương tay.
Đến mùng 5 Tết Kỹ Dậu (1789), Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ hành quân thần tốc, đánh tan 20 vạn quân Thanh tại Gò Đống Đa, đem lại thanh bình cho trăm họ từ Bắc vào Nam…
Khi Bà Huyện Thanh Quan ra đời tại vùng đất Hồ Tây, ngoại ô Thăng Long khoảng năm 1805 cho đến tuổi cặp kê hiểu biết ít nhiều về văn chương lịch sử, tạm cho là khoảng 1820, thì thời điểm này cách với năm “đám cưới lịch sử” của Ngọc Hân Công Chúa và năm “đại thắng quân Thanh” của Hoàng Đế Nguyễn Huệ, chỉ trên dưới 30 năm.
Ắt hẳn Bà vẫn còn nghe được phụ mẫu của mình và những bô lão là dân Thăng Long, ca tụng và truyền tụng hai sự kiện huy hoàng và trọng đại trên, bằng những tấm lòng ngưỡng phục vô cùng.
Nhất là cha của Bà, một quan lại triều thần của thời Lê mạt này, đã chính mắt nhìn thấy và cũng có thể tham dự vào ít nhất là một trong hai sự kiện đó, như tham dự vào đám cưới của Công Chúa Ngọc Hân chẳng hạn.
Rồi khi Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ vào chiếm Thăng Long, vẫn suy tôn vua Lê và trọng dụng các cựu thần cũ của nhà vua. Vị quan nào không muốn tiếp tục phục vụ triều đình, thì cho cáo lão về hưu chứ không hề bắt tội.
Cha của Bà cũng ở trong hoàn cảnh hưởng được ân mưa móc đó, làm sao mà không ngưỡng phục cho được ? Từ đó có thể nói là ảnh hưởng không ít đến lòng ngưỡng mộ của Bà, đối với triều đại hào hùng của Đại Đế Quang Trung.
Chắc chắn rằng những ca tụng, truyền tụng và ngưỡng phục đó, không phải vì triều đình thối nát của nhà Lê trong thời gian cả trăm năm chuyên quyền của Chúa Trịnh, khiến cho đất nước qua phân vì Trịnh Nguyễn; mà vì cái chiến thắng lẫy lừng của Đại Đế Quang Trung, và trước đó, là đám cưới giữa trai anh hùng gái thuyền quyên Nguyễn Huệ, Ngọc Hân nơi hành cung tráng lệ với “hương ngự áo chầu, với ngựa xe rộn rịp uy nghi” ở ven Hồ Tây cảnh trí hữu tình… và cũng là nơi mà Bà Huyện Thanh Quan được sinh ra, nay chỉ còn là “nền cũ lâu đài bóng tịch dương” mà thôi !
Năm 1802 Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn lên ngôi Hoàng Đế, lại cho dời Kinh Đô về Huế, khiến cho đền đài cung điện tại Thăng Long đã hoang phế lại càng hoang phế thêm hơn !
Nhưng khi lên ngôi, Nguyễn Ánh tức vua Gia Long lại đối xử không nương tay với các cựu thần của Tây Sơn, nếu không muốn nói là vô cùng tàn ác, khiến cho lòng người ngán ngẩm mà có dịp so sánh, để ngậm ngùi thương cho triều đại của người anh hùng áo vải Quang Trung.
Thế thì tâm sự hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan, không phải là hoài vọng về triều Lê, trong đó có tên vua bán nước cầu vinh Lê Chiêu Thống, mà đây là tiếc thương cho triều đại Tây Sơn ngắn ngủi với Đức Hoàng Đế Quang Trung : một minh quân kiêu dũng có một không hai trong lịch sử nước nhà.
Đến bài Qua Đèo Ngang, với hai câu “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc; Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”, thì nhận thấy cái ý tưởng hoài vọng về đất nước của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ rõ nét hơn.
Trước khi phân tích thêm về hai câu quốc quốc và gia gia trên, xin được mô tả về địa điểm Đèo Ngang :
Đèo Ngang nằm trên quốc lộ 1A, thuộc dãy Hoành Sơn đoạn chạy ngang ra biển Đông. Đèo dài 6 km, cao khoảng 250 m (750 ft). Phần đất phía Bắc thuộc xã Kỳ Nam, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tỉnh . Phần đất phía Nam là thuộc xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch tỉnh Quảnh Bình.
Đây là ranh giới cũ giữa Đại Việt (và trước đó là Đại Cồ Việt) với Chiêm Thành, từ sau khi người Việt giành được độc lập (năm 939, thời vua Ngô Quyền) và trước thời kỳ Nam tiến của người Việt (năm 1069, thời nhà Lý). Đèo Ngang cách bờ Sông Gianh chảy qua tỉnh Quảng Bình (nơi Trịnh-Nguyễn phân tranh) là 27 km.
Xin nhớ là Nguyễn Nhạc đã phân chia ranh giới từ Đèo Hải Vân (Thừa Thiên) ra Bắc thuộc về Bắc Bình Vương cai quản, mà Đèo Ngang lại nằm trong địa phận đó. Cho nên, khi Bà Huyện Thanh Quan đến Đèo Ngang, hướng mắt nhìn về phương Nam có di tích Sông Gianh phía xa xa… mà tức cảnh sinh tình “nhớ nước đau lòng”.
- Nhớ nước đau lòng đây là những cuộc chiến nồi da xáo thịt của hai nhà Trịnh-Nguyễn, phân chia Đàng Trong, Đàng Ngoài, gây biết bao cảnh thê lương tang tóc cho người dân lành vô tội hơn cả 100 năm !
- Nhớ nước đau lòng đây, cũng là nhớ nước do Nhà Tây Sơn cai quản nói chung, và vùng đất nước của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ nói riêng, có một thời gian ngắn ngủi yên bình, nay đã mất.
Còn thương nhà, là thương cho gia cảnh của mình chăng ? Có thể lập luận về việc này khi biết là do Bà, mà Ông Huyện Thanh Quan bị mất chức.
Cũng theo Wikipedia, sự việc này là nhân lúc Ông huyện Thanh Quan (Lưu Nghi) đi vắng, có một cô gái tên là Nguyễn Thị Đào đã đệ đơn lên trình bày rằng chồng cô đã ruồng bỏ cô để xin được ly dị, lấy chồng khác.
Vì thương cảm, Bà Huyện Thanh Quan đã thay chồng phê đơn cho phép ly hôn bằng mấy câu thơ :
Phó cho con Nguyễn Thị Đào,
Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai ?
Chữ rằng : Xuân bất tái lai,
Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già !
Hay chuyện, chồng cô Đào kiện quan trên. Quan trên ăn của đút, giáng chức Ông huyện Thanh Quan.
Nghe nói vì việc này và cũng còn vì vài nguyên do khác nữa, mà rốt cuộc Ông huyện Thanh Quan bị giáng chức ! Xem ra, thì việc tiếm quyền chồng “làm thơ xử án” của Bà, đã đưa Ông huyện và cả gia đình đến những hậu quả đầy tai hại !
Đề cập đến “quốc quốc và gia gia”, thì cũng xin mạn phép trích ra đây bài viết của ông Nguyễn Vĩnh Tráng đăng trong www.vietthuc.org như sau :
… “Mặt khác, tôi tìm thấy trong Contes et Légendes du Pays d’Annam của Lê Văn Phát, viết năm 1913, in lần thứ 2, tại Imprimerie de l’Union Nguyễn Văn Của, Sàigòn 1925, có bài "Le Râle d’eau".
Trong "Le Râle d'eau" lại có bài "Đèo Ngang", rặt chữ Nôm, văn phong rất mộc mạc, còn nội dung thì giống hệt nội dung bài "Qua Đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan.
Bài "Le Râle d’eau" kể chuyện ngày xưa. Chuyện vua La Hoa (?) nước Chiêm Thành đem quân đánh Giao Chỉ. Môt cận thần tên Quốc đã hết lời can gián và xin hoãn lại cuộc viễn chinh, nhưng nhà vua không nghe.
Biết rằng trận chiến này thế nào cũng thất bại, Quốc xin theo, hầu quyết tâm bảo vệ an toàn cho chúa.
Cuộc chiến xảy ra ở Đèo Ngang. La Hoa, quá hiếu chiến, quá chủ quan, tiến thẳng đến trận tiền, nên bị trúng tên mà chết. Quá đau đớn, Quốc liều xông ra chém giết giữa muôn tên ngàn giáo để báo thù. Nhưng đơn thương độc mã, nên Quốc đã chết dưới làn sóng của địch quân.
Quá uất ức, hồn của Quốc không siêu thoát được, cứ phảng phất quanh Đèo Ngang để tìm xác chủ, nhưng vô hiệu quả. Sau đó Quốc tái sinh dưới dạng con chim Cuốc, để đêm đêm rít lên những tiếng kêu bi ai của một vị trung thần khóc quốc vương tử trận : "Quốc Quốc, La Hoa", Quốc ở đây, còn La Hoa ở đâu ?
Một văn nhân vô danh, đi qua Đèo Ngang, nhớ lại chuyện xưa, đã làm bài thơ "Đèo Ngang".
Ông Lê Văn Phát chỉ để lại hai tác phẩm La vie intime d’un Annamite et ses croyances vulgaires, (Bulletins de la Société des Etudes Indochinoises, Imprimerie F.H Schneider Sàigòn 1907), và Contes et Légendes du Pays d’Annam, (Imprimerie de l’Union Nguyễn Văn Của, Sàigòn 1913), bằng chữ Pháp.
Như thế, có thể ông Lê Văn Phát không biết nhiều về các tác phẩm của Bà Huyện Thanh Quan. Những bài của ông Lê Văn Phát viết, toàn là chuyện cổ tích, huyền thoại dân gian cả.
Bài «Đèo Ngang» trong Contes et Légendes du Pays d’Annam có thể là một giai thoại dân gian lâu đời, có trước thời Bà Huyện Thanh Quan chăng.
Sau đây là bài "Đèo Ngang" theo ông Lê Văn Phát sưu tầm, và “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan :
ĐÈO NGANG (Ô. Lê Văn Phát sưu tầm)
Qua ải Đèo Ngang bóng ác tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen ba.
Non cao rải rác tiều vài lão,
Đất rộng lai rai xóm mấy nhà.
Nhớ chúa đau lòng con Quốc Quốc,
Kêu người mỏi miệng tiếng Hoa Hoa
Dừng chơn ngóng cổ miền non nước,
Một tấm lòng riêng ta với ta.
Vô Danh
- Quốc Quốc là tên của trung thần Quốc.
- Hoa Hoa là tên của vua La Hoa. QUA ĐÈO NGANG
Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá lá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ (rợ) mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con Quốc Quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái Gia Gia.
Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.
Bà Huyện Thanh Quan
- Quốc Quốc là chim Cuốc (Đỗ Quyên).
- Gia Gia là chim Đa Đa (Gà Gô).
Vậy phải chăng Bà Huyện đã lấy bài đó, đã có từ lâu, và trau chuốt lại thành một bài thơ bất hủ như ta đã biết”. (Hết trích).
Căn cứ vào câu chuyện phóng bút “làm thơ xử án” của Bà khiến cho gia cảnh suy sụp, rồi nay chính bản thân Bà, lại phải trải qua muôn dặm đường trường về kinh phó nhậm. Tuy là cũng làm quan đấy, nhưng trong lòng cả hai vợ chồng Bà chắc gì không khỏi buồn phiền.
Nay trên đường xuôi Nam, đứng trên Đèo Ngang nơi có di tích lịch sử xa xưa vinh quang cũng có, mà ô nhục cũng nhiều.
Vinh quang là nơi đây trở về Nam, trước kia là của Chiêm Thành, nay đã được tiền nhân ta mở rộng cõi bờ. Còn ô nhục là cũng chính nơi Đèo Ngang này là điểm đóng quân của Chúa Trịnh, khi xua binh đánh chiếm miền Nam của Chúa Nguyễn gây nên biết bao cảnh tương tàn !
Nếu không có đạo quân với chính nghĩa “phò Lê diệt Trịnh” của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, cũng đã từng đi ngang qua đây tiến ra giải phóng Bắc Hà, thì cảnh qua phân nồi da xáo thịt giữa Trịnh-Nguyễn còn kéo dài đến biết bao giờ mới dứt ?
Tâm trạng hoài cổ của Bà ở đây, có thể cho phép ta suy luận là “hoài Tây Sơn” chứ không phải “hoài Lê”, cho nên mới nhớ nước mà đau lòng cho vị vua anh minh thần võ Nguyễn Huệ sớm đã băng hà !
Nhưng lúc đó, trong triều vua Gia Long tàn sát cựu thần của Tây Sơn rất nhiều, và còn ảnh hưởng đến triều vua Minh Mạng này nữa, nếu cái tâm trạng “hoài Tây Sơn” này của Bà thấu tai đến triều đình, thì khó bảo toàn mạng sống.
Tại sao lại nói vậy ? Xin thưa : Bà được vua vời vào triều đình phong chức Cung Trung Giáo Tập tức là được ân sủng rất nhiều, mà ở bài thơ này lại than là “Nhớ nước đau lòng ?”.
Nhớ nước nào đây mà phải đau lòng ? trong khi đất nước dưới triều Minh Mạng mà vợ chồng bà làm quan đó, muôn dân sống trong cảnh thống nhất thanh bình.
Triều đình đương đại có thể bắt tội Bà bất trung, nếu không mượn điển tích chim Quốc đưa vào để trọn vẹn câu thơ “Nhớ nước đau lòng con Quốc Quốc”, tức câu thơ này ám chỉ trung thần Quốc của vua La Hoa kêu tiếng nhớ nước Chiêm Thành, chứ không phải là tâm trạng của riêng Bà.
Đến câu “Thương nhà mỏi miệng cái Gia Gia”, hẳn nhiên là nỗi thương gia cảnh của chính Bà đang chia biệt với chồng con. Để rồi qua hai câu kết của bài Qua Đèo Ngang, Bà hạ bút : “Dừng chân đứng lại trời, non, nước. Một mảnh tình riêng ta với ta !”.
Thật là giữa trời non nước bao la, nơi đèo cao rừng rậm quạnh hiu này, tai lại nghe chim cuốc chim đa kêu não nuột khiến Bà ôm bao mối tơ tình, mà chỉ có một mình Bà biết một mình Bà hay mà thôi !
Cũng may là chồng Bà về sau này được bổ vào chức Bát Phẩm Thi Lại Bộ Hình, và cuối cùng lên đến Viên Ngoại Lang. Người đời sau cho là do Bà vào cung dạy học nên chồng Bà nhờ đó mà được thăng quan.
Đến năm 1843, sau khi chồng mất được vài tháng, Bà lấy cớ sức yếu xin thôi việc dẫn 4 con về lại Nghi Tàm cho tới lúc qua đời.
Để kết luận và bằng riêng vào tấm lòng thương nhà của Bà như đã nêu, kẻ hậu sinh này xin nương vào “năm vận” trong bài Qua Đèo Ngang, để làm bài thơ Thuận Nghịch Độc “Đèo Ngang Tâm Sự” cả gan mô tả về nỗi thương nhà của Bà trong lúc đó. Đúng hoặc sai, hay hoặc dở cũng xin Bà nhận cho, mà đừng quở trách kẻ hậu sinh này luôn hết lòng ngưỡng phục thi tài trác tuyệt của Bà :
ĐÈO NGANG TÂM SỰ
(Tưởng tượng nỗi thương nhà của Bà Huyện Thanh Quan khi tới Đèo Ngang)
Đọc Xuôi :
Sương chiều nắng ngã bóng dương tà,
Vắng lạnh đèo nghiêng dốc đá hoa.
Thương nhớ nặng sầu quê cách núi,
Chứa chan hoài cảm nỗi xa nhà.
Gương rầu bóng tủi hờn son phấn,
Gối lẻ thân buồn chạnh thất gia.
Vương lệnh nhận lời vâng chỉ phán,
Chương đài lối rẽ chịu đành ta !
Đọc Ngược :
Ta đành chịu rẽ lối đài chương,
Phán chỉ vâng lời nhận lệnh vương.
Gia thất chạnh buồn thân lẻ gối,
Phấn son hờn tủi bóng rầu gương.
Nhà xa nỗi cảm hoài chan chứa,
Núi cách quê sầu nặng nhớ thương.
Hoa đá dốc nghiêng đèo lạnh vắng,
Tà dương bóng ngã nắng chiều sương!
Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân

QUA ĐÈO NGANG
Bước tới đèo ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá lá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ (rợ) mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta !
Theo Từ Điển Wikipedia ghi nhận, thì Bà Huyện Thanh Quan đã để lại cho đời gồm 6 bài thơ bằng chữ Nôm theo thể Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật như sau :
1.- Thăng Long Thành Hoài Cổ.
2.- Qua Chùa Trấn Bắc.
3.- Qua Đèo Ngang.
4.- Chiều Hôm Nhớ Nhà.
5.- Tức Cảnh Chiều Thu.
6.- Cảnh Đền Trấn Võ.
Một số ý kiến khác lại cho rằng, Bà Huyện Thanh Quan chỉ để lại 4 bài là Thăng Long Hoài Cổ; Chiều Hôm Nhớ Nhà; Qua Chùa Trấn Bắc và Qua Đèo Ngang, còn những bài khác thì chưa chắc, trong đó lại có bài nằm trong nhóm tác phẩm của Bà Hồ Xuân Hương.
Trong bốn bài thơ đó đều tuyệt tác, người ta thấy tấm lòng “hoài cổ” của Bà rõ nét rất nhiều, nhưng trừ bài Qua Đèo Ngang, thì 3 bài kia lại có nhiều thành ngữ chữ Hán. Xin được nêu ra đây để thấy sự khác biệt với bài Qua Đèo Ngang, mặc dù cũng cùng chung một tấc lòng hoài cổ như đã nêu trên của tác giả.
THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ
Tạo hóa gây chi cuộc hí trường,
Đến nay thắm thoát mấy tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương,
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.
(Những chữ Hán là : tạo hóa, hí trường, tinh sương, thu thảo, lâu đài,
tịch dương, tuế nguyệt, tang thương, kim cổ, đoạn trường).
CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ
(Có sách gọi bài này là Chiều Hôm, còn
Chiều Hôm Nhớ Nhà lại là bài khác)
Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn.
Gác mái ngư ông về viễn phố,
Gỏ sừng mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Kẻ chốn chương đài người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn.
(Những chữ Hán là : hoàng hôn, ngư ông, viễn phố, mục tử, cô thôn,
chương đài, lữ thứ, hàn ôn).
QUA CHÙA TRẤN BẮC
Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu,
Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau.
Mấy tòa sen tỏa hơi hương ngự,
Năm thức mây phong nếp áo chầu.
Sóng lớp phế hưng coi đã rộn,
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau.
Người xưa cảnh cũ nào đâu tá,
Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu.
(Những chữ Hán là : hành cung, cố quốc, hương ngự, phong, phế hưng,
kim cổ)
QUA ĐÈO NGANG
Bước tới đèo ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá lá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ (rợ) mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta !
- Hai chữ Quốc quốc và Gia gia vừa là chữ Hán, mà cũng là hai chữ tượng thanh của chim Cuốc (tức chim Đỗ Quyên) và chim Đa Đa (Gà Gô).
Trước khi cố gắng phân tích về tâm tình hoài cổ và nỗi nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan, xin phép được lược qua về tiểu sử của Bà để bạn đọc rộng đường tìm hiểu thêm.
Theo Giáo Sư Dương Quảng Hàm trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu trang 396 thì ghi là : không rõ họ tên của Bà. Còn các tác giả về sau này lại cho rằng Bà tên là Nguyễn Thị Hinh sinh năm 1805 và mất năm 1848, người Làng Nghi Tàm, Huyện Vĩnh Thuận ở ven Hồ Tây, Hà Nội. Bà là con của vị danh nho Nguyễn Lý (1755-1837) vốn là một cựu thần nhà Lê, sống ở thế kỷ 19, (khoảng cuối triều Lê, đầu Nguyễn). Bà kết duyên cùng ông Lưu Nguyên Ôn (1804-1847) bút hiệu Lưu Ái Lan (có sách còn chép là Lưu Nghi hay Lưu Nguyên Uẩn), đỗ cử nhân triều Minh Mệnh, và được bổ làm Tri huyện Thanh Quan, nay là huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Vì là phu nhân của huyện quan, nên người đời gọi là Bà Huyện Thanh Quan. Bà cũng được vua Minh Mệnh triệu vào kinh phong chức Cung Trung Giáo Tập để dạy các công chúa, phi tần và cung nữ.
Có tác giả nói Bà là học trò của danh sĩ Phạm Quý Thích bạn thân với Thi Hào Nguyễn Du, nhưng cũng có tác giả cho rằng cha của Bà mới là học trò của cụ Phạm Quý Thích, chứ không phải là Bà.
Xem ra thì tiểu sử hãy còn mù mờ, vì mỗi tài liệu ghi mỗi khác nhất là năm sinh và mất của Bà. Xin tạm theo Wikipedia, mà Wikipedia cũng ghi theo một vài tác giả sau này căn cứ vào chồng Bà (1804-1847), để nói về năm sinh 1805 và mất 1848 của Bà vậy. Ở đây xin tạm vin vào cái mốc 1805-1848 này, để lý giải phần nào về tâm sự của Bà. Đó là tâm sự “hoài Lê” mà nhiều người đã từng nghĩ như thế.
Xuyên qua ba bài thơ “Thăng Long Thành Hoài Cổ, Chiều Hôm Nhớ Nhà và Qua Chùa Trấn Bắc”, ta thấy rõ tâm sự “nhớ về triều đình cũ” hơn là nỗi nhớ nhà của Bà như :
- Nào là “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo; Nền cũ lâu đài bóng tịch dương” trong bài Thăng Long Thành Hoài Cổ.
- Nào là “hành cung”, “cố quốc”, “mùi hương ngự”, “nếp áo chầu”, “sóng lớp phế hưng”, “người xưa cảnh cũ” trong bài Qua Chùa Trấn Bắc.
- Còn bài Chiều Hôm Nhớ Nhà thì rõ ràng là tả cảnh kẻ đi ngoài “dặm liễu sương sa” mà nhớ về kẻ ở “chương đài”, cho nên biết ai mà “kể nỗi hàn ôn ấm lạnh”.
Kẻ đi ngoài dặm liễu, cho phép ta liên tưởng đến bước đường muôn dặm của Bà phải đi từ huyện Thanh Quan, tỉnh Thái Bình vào kinh thành ở Phú Xuân (Huế) do lệnh vua phong làm Cung Trung Giáo Tập.
Còn danh từ “Chương đài” theo tích “Liễu chương đài” chỉ nơi người đẹp tên Liễu ở con đường Chương Đài trong chuyện của Trương Hoành bên Tàu. Các tác giả Việt Nam ta thường dùng điển tích “chương đài” này để chỉ nơi đài các, hoặc chỉ về các tiểu thơ hay các mệnh phụ phu nhân, cho nên ta có thể hình dung câu “Kẻ chốn chương đài người lữ thứ” trong bài Chiều Hôm Nhớ Nhà, là nói về tâm trạng nhớ nhà, nhớ chồng con đang ở nơi đài các hoặc phủ nha tại huyện Thanh Quan, mà Bà lại là người lữ thứ đang đi ngoài vạn dặm trường đình.
Cái tâm trạng nhớ nhà của Bà, ta cũng thấy bàng bạc ở câu “Thương nhà mỏi miệng cái gia gia” trong bài Qua Đèo Ngang. Tại sao là thương nhà ? Theo nhiều tài liệu ghi lại, thì Ông Huyện Thanh Quan chồng Bà có thời gian bị cách chức vì can án. Vậy thì phải chăng khi Bà lên đường vào Kinh Đô Phú Xuân thụ phong chức Cung Trung Giáo Tập, là lúc chồng Bà đang hồi vận bỉ này, nên Bà mới hạ bút thương nhà ?!
Đọc đi, đọc lại nhiều lần bốn bài thơ Thăng Long Hoài Cổ; Chiều Hôm Nhớ Nhà; Qua Chùa Trấn Bắc và Qua Đèo Ngang, rồi đối chiếu vào lịch sử nước nhà, kẻ viết xin đưa ra những thiển kiến của mình, để lập luận về tinh thần hoài cổ của Bà như sau :
Năm 1786 Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc Hà dưới danh nghĩa “Phù Lê Diệt Trịnh” và đã làm xong sứ mạng. Ngài được vua Lê Hiển Tông gả Công Chúa Ngọc Hân cho. Lúc đó dân chúng cả nước đều căm phẫn việc Chúa Trịnh tiếm quyền vua Lê, và khi Nguyễn Huệ diệt Chúa Trịnh xong ai nấy đều vui mừng hớn hở vì đã trừ xong mầm mống loạn thần, nhất là dân chúng Bắc Hà càng vui mừng gấp bội. Kinh thành Thăng Long lại rực đèn hoa chúc mừng đám cưới của Công Chúa Ngọc Hân sánh duyên cùng hào kiệt đất Tây Sơn là Phò Mã Nguyễn Huệ, lúc đó được tấn phong là Nguyên Súy Dực Chính Phù Vận Uy Quốc Công. Rồi vua cha Lê Hiển Tông băng hà, Nguyễn Huệ đưa Công Chúa Ngọc Hân về Nam. Vua Lê Chiêu Thống lên ngôi, nhưng triều chính rối ren, phe Chúa Trịnh lại nổi lên làm loạn, khiến Nguyễn Huệ phải đưa quân ra Bắc lần nữa mới dẹp yên.
Nhân đó vào tháng 4 năm Đinh Mùi (1787) Nguyễn Nhạc là Anh Cả của Nguyễn Huệ chia vùng đất phía Nam ra làm ba : Từ đèo Hải Vân trở ra Bắc thuộc Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ. Đất Gia Định thuộc về người Anh Thứ Hai của Nguyễn Huệ là Đông Định Vương Nguyễn Lữ. Nguyễn Nhạc tự mình đóng đô ở Qui Nhơn xưng là Trung Ương Hoàng Đế (theo Tóm Tắt Niên Biểu Lịch Sử VN của hai ông Hà Văn Thư và Trần Hồng Đức).
Như vậy quyền hành vua Lê bị tước bỏ, không còn lại là bao; cho nên đến cuối năm 1788 vua Lê Chiêu Thống cõng rắn cắn gà nhà, bằng cách đưa đường cho đội quân xâm lược Mãn Thanh vào chiếm đóng kinh thành Thăng Long. Quân Thanh vô cùng tàn bạo, phá hủy hết đền đài cung điện của kinh thành và tàn sát người dân Việt Nam không chút nương tay.
Đến mùng 5 Tết Kỹ Dậu (1789), Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ hành quân thần tốc, đánh tan 20 vạn quân Thanh tại Gò Đống Đa, đem lại thanh bình cho trăm họ từ Bắc vào Nam…
Khi Bà Huyện Thanh Quan ra đời tại vùng đất Hồ Tây, ngoại ô Thăng Long khoảng năm 1805 cho đến tuổi cặp kê hiểu biết ít nhiều về văn chương lịch sử, tạm cho là khoảng 1820, thì thời điểm này cách với năm “đám cưới lịch sử” của Ngọc Hân Công Chúa và năm “đại thắng quân Thanh” của Hoàng Đế Nguyễn Huệ, chỉ trên dưới 30 năm.
Ắt hẳn Bà vẫn còn nghe được phụ mẫu của mình và những bô lão là dân Thăng Long, ca tụng và truyền tụng hai sự kiện huy hoàng và trọng đại trên, bằng những tấm lòng ngưỡng phục vô cùng.
Nhất là cha của Bà, một quan lại triều thần của thời Lê mạt này, đã chính mắt nhìn thấy và cũng có thể tham dự vào ít nhất là một trong hai sự kiện đó, như tham dự vào đám cưới của Công Chúa Ngọc Hân chẳng hạn.
Rồi khi Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ vào chiếm Thăng Long, vẫn suy tôn vua Lê và trọng dụng các cựu thần cũ của nhà vua. Vị quan nào không muốn tiếp tục phục vụ triều đình, thì cho cáo lão về hưu chứ không hề bắt tội.
Cha của Bà cũng ở trong hoàn cảnh hưởng được ân mưa móc đó, làm sao mà không ngưỡng phục cho được ? Từ đó có thể nói là ảnh hưởng không ít đến lòng ngưỡng mộ của Bà, đối với triều đại hào hùng của Đại Đế Quang Trung.
Chắc chắn rằng những ca tụng, truyền tụng và ngưỡng phục đó, không phải vì triều đình thối nát của nhà Lê trong thời gian cả trăm năm chuyên quyền của Chúa Trịnh, khiến cho đất nước qua phân vì Trịnh Nguyễn; mà vì cái chiến thắng lẫy lừng của Đại Đế Quang Trung, và trước đó, là đám cưới giữa trai anh hùng gái thuyền quyên Nguyễn Huệ, Ngọc Hân nơi hành cung tráng lệ với “hương ngự áo chầu, với ngựa xe rộn rịp uy nghi” ở ven Hồ Tây cảnh trí hữu tình… và cũng là nơi mà Bà Huyện Thanh Quan được sinh ra, nay chỉ còn là “nền cũ lâu đài bóng tịch dương” mà thôi !
Năm 1802 Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn lên ngôi Hoàng Đế, lại cho dời Kinh Đô về Huế, khiến cho đền đài cung điện tại Thăng Long đã hoang phế lại càng hoang phế thêm hơn !
Nhưng khi lên ngôi, Nguyễn Ánh tức vua Gia Long lại đối xử không nương tay với các cựu thần của Tây Sơn, nếu không muốn nói là vô cùng tàn ác, khiến cho lòng người ngán ngẩm mà có dịp so sánh, để ngậm ngùi thương cho triều đại của người anh hùng áo vải Quang Trung.
Thế thì tâm sự hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan, không phải là hoài vọng về triều Lê, trong đó có tên vua bán nước cầu vinh Lê Chiêu Thống, mà đây là tiếc thương cho triều đại Tây Sơn ngắn ngủi với Đức Hoàng Đế Quang Trung : một minh quân kiêu dũng có một không hai trong lịch sử nước nhà.
Đến bài Qua Đèo Ngang, với hai câu “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc; Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”, thì nhận thấy cái ý tưởng hoài vọng về đất nước của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ rõ nét hơn.
Trước khi phân tích thêm về hai câu quốc quốc và gia gia trên, xin được mô tả về địa điểm Đèo Ngang :
Đèo Ngang nằm trên quốc lộ 1A, thuộc dãy Hoành Sơn đoạn chạy ngang ra biển Đông. Đèo dài 6 km, cao khoảng 250 m (750 ft). Phần đất phía Bắc thuộc xã Kỳ Nam, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tỉnh . Phần đất phía Nam là thuộc xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch tỉnh Quảnh Bình.
Đây là ranh giới cũ giữa Đại Việt (và trước đó là Đại Cồ Việt) với Chiêm Thành, từ sau khi người Việt giành được độc lập (năm 939, thời vua Ngô Quyền) và trước thời kỳ Nam tiến của người Việt (năm 1069, thời nhà Lý). Đèo Ngang cách bờ Sông Gianh chảy qua tỉnh Quảng Bình (nơi Trịnh-Nguyễn phân tranh) là 27 km.
Xin nhớ là Nguyễn Nhạc đã phân chia ranh giới từ Đèo Hải Vân (Thừa Thiên) ra Bắc thuộc về Bắc Bình Vương cai quản, mà Đèo Ngang lại nằm trong địa phận đó. Cho nên, khi Bà Huyện Thanh Quan đến Đèo Ngang, hướng mắt nhìn về phương Nam có di tích Sông Gianh phía xa xa… mà tức cảnh sinh tình “nhớ nước đau lòng”.
- Nhớ nước đau lòng đây là những cuộc chiến nồi da xáo thịt của hai nhà Trịnh-Nguyễn, phân chia Đàng Trong, Đàng Ngoài, gây biết bao cảnh thê lương tang tóc cho người dân lành vô tội hơn cả 100 năm !
- Nhớ nước đau lòng đây, cũng là nhớ nước do Nhà Tây Sơn cai quản nói chung, và vùng đất nước của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ nói riêng, có một thời gian ngắn ngủi yên bình, nay đã mất.
Còn thương nhà, là thương cho gia cảnh của mình chăng ? Có thể lập luận về việc này khi biết là do Bà, mà Ông Huyện Thanh Quan bị mất chức.
Cũng theo Wikipedia, sự việc này là nhân lúc Ông huyện Thanh Quan (Lưu Nghi) đi vắng, có một cô gái tên là Nguyễn Thị Đào đã đệ đơn lên trình bày rằng chồng cô đã ruồng bỏ cô để xin được ly dị, lấy chồng khác.
Vì thương cảm, Bà Huyện Thanh Quan đã thay chồng phê đơn cho phép ly hôn bằng mấy câu thơ :
Phó cho con Nguyễn Thị Đào,
Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai ?
Chữ rằng : Xuân bất tái lai,
Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già !
Hay chuyện, chồng cô Đào kiện quan trên. Quan trên ăn của đút, giáng chức Ông huyện Thanh Quan.
Nghe nói vì việc này và cũng còn vì vài nguyên do khác nữa, mà rốt cuộc Ông huyện Thanh Quan bị giáng chức ! Xem ra, thì việc tiếm quyền chồng “làm thơ xử án” của Bà, đã đưa Ông huyện và cả gia đình đến những hậu quả đầy tai hại !
Đề cập đến “quốc quốc và gia gia”, thì cũng xin mạn phép trích ra đây bài viết của ông Nguyễn Vĩnh Tráng đăng trong www.vietthuc.org như sau :
… “Mặt khác, tôi tìm thấy trong Contes et Légendes du Pays d’Annam của Lê Văn Phát, viết năm 1913, in lần thứ 2, tại Imprimerie de l’Union Nguyễn Văn Của, Sàigòn 1925, có bài "Le Râle d’eau".
Trong "Le Râle d'eau" lại có bài "Đèo Ngang", rặt chữ Nôm, văn phong rất mộc mạc, còn nội dung thì giống hệt nội dung bài "Qua Đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan.
Bài "Le Râle d’eau" kể chuyện ngày xưa. Chuyện vua La Hoa (?) nước Chiêm Thành đem quân đánh Giao Chỉ. Môt cận thần tên Quốc đã hết lời can gián và xin hoãn lại cuộc viễn chinh, nhưng nhà vua không nghe.
Biết rằng trận chiến này thế nào cũng thất bại, Quốc xin theo, hầu quyết tâm bảo vệ an toàn cho chúa.
Cuộc chiến xảy ra ở Đèo Ngang. La Hoa, quá hiếu chiến, quá chủ quan, tiến thẳng đến trận tiền, nên bị trúng tên mà chết. Quá đau đớn, Quốc liều xông ra chém giết giữa muôn tên ngàn giáo để báo thù. Nhưng đơn thương độc mã, nên Quốc đã chết dưới làn sóng của địch quân.
Quá uất ức, hồn của Quốc không siêu thoát được, cứ phảng phất quanh Đèo Ngang để tìm xác chủ, nhưng vô hiệu quả. Sau đó Quốc tái sinh dưới dạng con chim Cuốc, để đêm đêm rít lên những tiếng kêu bi ai của một vị trung thần khóc quốc vương tử trận : "Quốc Quốc, La Hoa", Quốc ở đây, còn La Hoa ở đâu ?
Một văn nhân vô danh, đi qua Đèo Ngang, nhớ lại chuyện xưa, đã làm bài thơ "Đèo Ngang".
Ông Lê Văn Phát chỉ để lại hai tác phẩm La vie intime d’un Annamite et ses croyances vulgaires, (Bulletins de la Société des Etudes Indochinoises, Imprimerie F.H Schneider Sàigòn 1907), và Contes et Légendes du Pays d’Annam, (Imprimerie de l’Union Nguyễn Văn Của, Sàigòn 1913), bằng chữ Pháp.
Như thế, có thể ông Lê Văn Phát không biết nhiều về các tác phẩm của Bà Huyện Thanh Quan. Những bài của ông Lê Văn Phát viết, toàn là chuyện cổ tích, huyền thoại dân gian cả.
Bài «Đèo Ngang» trong Contes et Légendes du Pays d’Annam có thể là một giai thoại dân gian lâu đời, có trước thời Bà Huyện Thanh Quan chăng.
Sau đây là bài "Đèo Ngang" theo ông Lê Văn Phát sưu tầm, và “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan :
ĐÈO NGANG (Ô. Lê Văn Phát sưu tầm)
Qua ải Đèo Ngang bóng ác tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen ba.
Non cao rải rác tiều vài lão,
Đất rộng lai rai xóm mấy nhà.
Nhớ chúa đau lòng con Quốc Quốc,
Kêu người mỏi miệng tiếng Hoa Hoa
Dừng chơn ngóng cổ miền non nước,
Một tấm lòng riêng ta với ta.
Vô Danh
- Quốc Quốc là tên của trung thần Quốc.
- Hoa Hoa là tên của vua La Hoa. QUA ĐÈO NGANG
Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá lá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ (rợ) mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con Quốc Quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái Gia Gia.
Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.
Bà Huyện Thanh Quan
- Quốc Quốc là chim Cuốc (Đỗ Quyên).
- Gia Gia là chim Đa Đa (Gà Gô).
Vậy phải chăng Bà Huyện đã lấy bài đó, đã có từ lâu, và trau chuốt lại thành một bài thơ bất hủ như ta đã biết”. (Hết trích).
Căn cứ vào câu chuyện phóng bút “làm thơ xử án” của Bà khiến cho gia cảnh suy sụp, rồi nay chính bản thân Bà, lại phải trải qua muôn dặm đường trường về kinh phó nhậm. Tuy là cũng làm quan đấy, nhưng trong lòng cả hai vợ chồng Bà chắc gì không khỏi buồn phiền.
Nay trên đường xuôi Nam, đứng trên Đèo Ngang nơi có di tích lịch sử xa xưa vinh quang cũng có, mà ô nhục cũng nhiều.
Vinh quang là nơi đây trở về Nam, trước kia là của Chiêm Thành, nay đã được tiền nhân ta mở rộng cõi bờ. Còn ô nhục là cũng chính nơi Đèo Ngang này là điểm đóng quân của Chúa Trịnh, khi xua binh đánh chiếm miền Nam của Chúa Nguyễn gây nên biết bao cảnh tương tàn !
Nếu không có đạo quân với chính nghĩa “phò Lê diệt Trịnh” của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, cũng đã từng đi ngang qua đây tiến ra giải phóng Bắc Hà, thì cảnh qua phân nồi da xáo thịt giữa Trịnh-Nguyễn còn kéo dài đến biết bao giờ mới dứt ?
Tâm trạng hoài cổ của Bà ở đây, có thể cho phép ta suy luận là “hoài Tây Sơn” chứ không phải “hoài Lê”, cho nên mới nhớ nước mà đau lòng cho vị vua anh minh thần võ Nguyễn Huệ sớm đã băng hà !
Nhưng lúc đó, trong triều vua Gia Long tàn sát cựu thần của Tây Sơn rất nhiều, và còn ảnh hưởng đến triều vua Minh Mạng này nữa, nếu cái tâm trạng “hoài Tây Sơn” này của Bà thấu tai đến triều đình, thì khó bảo toàn mạng sống.
Tại sao lại nói vậy ? Xin thưa : Bà được vua vời vào triều đình phong chức Cung Trung Giáo Tập tức là được ân sủng rất nhiều, mà ở bài thơ này lại than là “Nhớ nước đau lòng ?”.
Nhớ nước nào đây mà phải đau lòng ? trong khi đất nước dưới triều Minh Mạng mà vợ chồng bà làm quan đó, muôn dân sống trong cảnh thống nhất thanh bình.
Triều đình đương đại có thể bắt tội Bà bất trung, nếu không mượn điển tích chim Quốc đưa vào để trọn vẹn câu thơ “Nhớ nước đau lòng con Quốc Quốc”, tức câu thơ này ám chỉ trung thần Quốc của vua La Hoa kêu tiếng nhớ nước Chiêm Thành, chứ không phải là tâm trạng của riêng Bà.
Đến câu “Thương nhà mỏi miệng cái Gia Gia”, hẳn nhiên là nỗi thương gia cảnh của chính Bà đang chia biệt với chồng con. Để rồi qua hai câu kết của bài Qua Đèo Ngang, Bà hạ bút : “Dừng chân đứng lại trời, non, nước. Một mảnh tình riêng ta với ta !”.
Thật là giữa trời non nước bao la, nơi đèo cao rừng rậm quạnh hiu này, tai lại nghe chim cuốc chim đa kêu não nuột khiến Bà ôm bao mối tơ tình, mà chỉ có một mình Bà biết một mình Bà hay mà thôi !
Cũng may là chồng Bà về sau này được bổ vào chức Bát Phẩm Thi Lại Bộ Hình, và cuối cùng lên đến Viên Ngoại Lang. Người đời sau cho là do Bà vào cung dạy học nên chồng Bà nhờ đó mà được thăng quan.
Đến năm 1843, sau khi chồng mất được vài tháng, Bà lấy cớ sức yếu xin thôi việc dẫn 4 con về lại Nghi Tàm cho tới lúc qua đời.
Để kết luận và bằng riêng vào tấm lòng thương nhà của Bà như đã nêu, kẻ hậu sinh này xin nương vào “năm vận” trong bài Qua Đèo Ngang, để làm bài thơ Thuận Nghịch Độc “Đèo Ngang Tâm Sự” cả gan mô tả về nỗi thương nhà của Bà trong lúc đó. Đúng hoặc sai, hay hoặc dở cũng xin Bà nhận cho, mà đừng quở trách kẻ hậu sinh này luôn hết lòng ngưỡng phục thi tài trác tuyệt của Bà :
ĐÈO NGANG TÂM SỰ
(Tưởng tượng nỗi thương nhà của Bà Huyện Thanh Quan khi tới Đèo Ngang)
Đọc Xuôi :
Sương chiều nắng ngã bóng dương tà,
Vắng lạnh đèo nghiêng dốc đá hoa.
Thương nhớ nặng sầu quê cách núi,
Chứa chan hoài cảm nỗi xa nhà.
Gương rầu bóng tủi hờn son phấn,
Gối lẻ thân buồn chạnh thất gia.
Vương lệnh nhận lời vâng chỉ phán,
Chương đài lối rẽ chịu đành ta !
Đọc Ngược :
Ta đành chịu rẽ lối đài chương,
Phán chỉ vâng lời nhận lệnh vương.
Gia thất chạnh buồn thân lẻ gối,
Phấn son hờn tủi bóng rầu gương.
Nhà xa nỗi cảm hoài chan chứa,
Núi cách quê sầu nặng nhớ thương.
Hoa đá dốc nghiêng đèo lạnh vắng,
Tà dương bóng ngã nắng chiều sương!
Nhật Hồng Nguyễn Thanh Vân
Thursday, October 30, 2014
VUI VUI! (TỪ BẠN BÈ GỞI)
Những cái tên chất nhất Việt Nam, thích nhất tên cuối cùng
Tên một loài rất dễ thương :3

Suýt nhầm là nhớ Castrol

Nhìn tên đoán người

Em ấy chắc cuộc sống rất sa hoa

Thanh niên hàng tốt
)

No comment......

Cao thủ Võ Đang đã đến Việt Nam

Tình đời bạc trắng như voi nên anh ấy mới hận thế

) Em ko dám đọc tên đâu

Hic, cái tên nói lên bản chất?

Dzo là anh xúc hết

Đảo Đào Hoa là của Việt Nam
)

Bảo đảm uy tín giống như tên
)

XMas nhé

Rất Bá Đạo

Ronaldo cũng đã có mặt tại Việt Nam

Đúng cặp trời sinh.
.
Wednesday, October 29, 2014
NHẶT HOA TRÊN NET
Sài Gòn vào mưa, ai có biết?
Em trở mình, day dứt nỗi nhớ mong
Đêm dài vắng lạnh, hiên ngoài rơi tí tách
Mắt ai buồn, khóc nức đợi trông
Em trở mình, day dứt nỗi nhớ mong
Đêm dài vắng lạnh, hiên ngoài rơi tí tách
Mắt ai buồn, khóc nức đợi trông
Sài Gòn chợt mưa, như em khóc
Nơi xa vời, mưa ướt tình dở dang?
Thao thức đêm dài, mưa ơi thôi đừng tạnh!
Để nước mắt buồn hoà quyện hạt mưa bay
Nơi xa vời, mưa ướt tình dở dang?
Thao thức đêm dài, mưa ơi thôi đừng tạnh!
Để nước mắt buồn hoà quyện hạt mưa bay
Tháng chín vào thu, trời xa lạ
Mắt môi buồn, thiếu vắng giọt mưa rơi
Ra đi, Sài Gòn một nỗi nhớ
Nhớ âm thầm, đau khổ giọt mưa côi.
Mắt môi buồn, thiếu vắng giọt mưa rơi
Ra đi, Sài Gòn một nỗi nhớ
Nhớ âm thầm, đau khổ giọt mưa côi.
Sương đầu ngõ, cuộn tròn hoa mới nở
Vạt áo dài bay nhẹ sớm ban mai
Sài Gòn ngừng mưa, em còn nơi ấy,
Mảnh tình buồn sâu lắng ánh mắt xưa.
Vạt áo dài bay nhẹ sớm ban mai
Sài Gòn ngừng mưa, em còn nơi ấy,
Mảnh tình buồn sâu lắng ánh mắt xưa.
Lâm Bình Duy Nhiên
Tuesday, October 28, 2014
NHẶT HOA TRÊN NET
Những thói quen vô duyên nên tránh khi ra nước ngoài
Mang 12 bông hoa cẩm chướng đến một bữa tiệc tối hay nói chuyện với người đối diện mà mắt ngước lên trời là một trong những điều cấm kỵ khi ra nước ngoài.
- .
![]() |
Anh Minh - Việt Chung
Monday, October 27, 2014
Sunday, October 26, 2014
VAN HOC
Đầy đủ tài liệu về Tổ Sư PÉTRUS TRƯƠNG VỈNH KÝ
Petrus Ký là một nhà bác học VN về ngôn ngữ, giỏi tiếng Hán, Nôm và Pháp, người đã có công trong phát triển chữ Quốc ngữ. Tuy nhiên vì là một tín đồ Thiên Chúa nên không được triều đình Huế vinh danh, đến thời kỳ cách mạng dù rằng Cụ Pétrus Ký đã là người thiên cổ nhưng vẫn bị gán cho là theo Pháp. Chúng ta trân trọng tài năng của một nhà bác học Việt Nam đã làm cho chữ quốc ngữ trong sáng ở thời kỳ đầu và trường Trung Học P.Trương Vĩnh Ký Saigon đã đào tạo biết bao thế hệ trí thức và khắp năm châu, các tài năng từ trường Petrus Ký đã đóng góp rất lớn cho trí tuệ khoa học của cả thế giới chứ không riêng gì VN. (Trí Vịnh)
Pétrus Trương Vĩnh Ký
Kể từ khi giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) đến Việt Nam truyền đạo vào năm 1625, Đắc Lộ đã là người tiền phong trong việc quốc ngữ hoá tiếng việt từ gốc hán sang mẩu tự La mã mà tác phẩm nổi tiếng là cuốn tự điển Việt-Bồ-La (Việt-Bồ đào Nha-Latin) ra đời vào năm 1651.
Với hàng trăm tác phẩm, Pétrus Trương Vĩnh Ký là một trong những người đã đóng góp vào việc canh tân và hoàn thiện tiếng việt, một ngôi trường lớn ở Sài Gòn đã lấy tên ông đặt cho trường học nổi tiếng, nơi đã đào tạo những người con ưu tú của miền Nam VN trước 1975 - Ngôi trường đã bị đổi tên sau khi miền Nam được giải phóng - tuy nhiên tên tuổi của Pétrus Trương Vĩnh Ký vẫn còn ngự trị trong tiến trình xây dựng văn hoá và văn học Việt Nam, một vài người đã viết về Pétrus Ký:Trương Vĩnh Ký không đạo mạo, không đài các, không cao kỳ; ông trai trẻ hơn, ông mới hơn… Và nhờ ông, câu văn Việt được giải phóng khỏi những xiềng xích chữ Hán. Chủ trương của ông chính là “cách nói tiếng An Nam ròng” và viết “trơn tuột như lời nói”. Nếu đem phân tích theo ngữ pháp thì thấy lôi thôi, nhưng so với văn xuôi khác ra đời sau ông 20, 30 năm, văn ông vẫn còn hay hơn, mạch lạc khúc chiết hơn.-Thanh Lãng
Ông là người, từ nhỏ được giáo dục theo phương pháp Âu Tây, khi trưởng thành theo giúp việc người Pháp, thế mà bằng hữu viết thư giục ông, ông không nghe, vẫn khăng khăng từ chối để suốt đời được giữ bộ quần áo Việt Nam và suốt đời là một người Việt Nam thuần túy.- Lê Thanh.Trương Vĩnh Ký (6 tháng 12 năm 1837 - 1 tháng 9 năm 1898) khi mới sinh có tên là Trương Chánh Ký, tự Sĩ Tải, theo đạo Công giáo nên có tên thánh: Jean-Baptiste Pétrus, nên còn gọi tắt là Pétrus Ký. Ông là một nhà giáo, nhà báo, nhà văn và là nhà bác học Việt Nam, thông thạo 26 ngôn ngữ, được ghi trong Bách khoa Tự điển Larousse và là một trong 18 văn hào thế giới của thế kỷ 19. Ông để lại hơn 100 tác phẩm về văn học, lịch sử, địa lý, từ điển và dịch thuật.Trương Vĩnh Ký thiết tha với nền văn học Quốc ngữ và được coi là người đặt nền móng cho báo chí quốc ngữ Việt Nam. Ông sáng lập, là tổng biên tập những tờ báo quốc ngữ đầu tiên, cũng là cây bút chủ chốt của rất nhiều báo khác. Vì thế có thể xác định rằng Trương Vĩnh Ký là người tiên phong trong làng báo chí Việt Nam - hay còn gọi là ông tổ của ngành báo chí việt, phương tiện truyền thông đại chúng đầu tiên ở Việt Nam, trước khi có đài phát thanh và truyền hình.Petrus Trương Vĩnh Ký trong y phục triều nhà Nguyễn
Tiểu sử
Trương Vĩnh Ký, người tại ấp Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoàng An, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre - Kiến Hoà cũ). Ông là con thứ ba của Lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu. Năm ông 3 tuổi, thân phụ ông được triều đình cử đi sứ sang Cao Miên rồi mất ở bên ấy.Tượng Petrus Ký ngày nay tại Cái Mơn
Đi học
Nhờ mẹ tần tảo, lên 5 tuổi Trương Vĩnh Ký được đi học chữ Hán, do thầy đồ dạy tại Cái Mơn. Đến năm lên 9 tuổi, ông được linh mục Tám đem về nuôi, vì nhớ ơn lúc nhà Nguyễn cấm đạo Công giáo gắt gao; ông Thi, tức cha của Pétrus Ký, đã hết lòng che giấu ông.Ông Tám mất, có hai nhà truyền giáo người Pháp, thường gọi là Cố Hòa, Cố Long, biết Pétrus Ký vừa có trí thông minh vừa chăm học, nên đem về trường dòng ở Cái Nhum dạy chữ Latin. Năm 1848, Cố Long đưa Pétrus Ký sang học tại Chủng viện Pinhalu ở Phnom Penh, Cao Miên.Nhà bia đá Petrus Ký ở Cái Mơn
Năm 1851, trường này chọn 3 học sinh xuất sắc, trong số đó có Pétrus Ký, để cấp học bổng đi du học tại Chủng viện Giáo Hoàng ở Pinang thuộc (Malaysia). Đây là một trường chuyên đào tạo các tu sĩ cho vùng Viễn Đông...Mặt trước bia đá tại Cái Mơn
Năm 21 tuổi (1858), Trương Vĩnh Ký đang học đến năm thứ 6, và chỉ còn một năm nữa là tốt nghiệp để chịu chức linh mục, thì vào lúc giữa năm, ông phải vội vàng về nước vì được tin người mẹ hiền qua đời.Pétrus Ký trở về quê hương Cái Mơn giữa lúc Pháp đem quân vào chiếm Việt Nam, bắt đầu từ Đà Nẵng ngày 1 tháng 9 năm 1858, rồi Sài Gòn ngày 17 tháng 2 năm 1859, đến Gia Định, tiếp theo là việc mất ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Vì thế, việc cấm đạo công giáo cũng diễn ra gay gắt hơn. Lúc ấy, Pétrus Ký phân vân rồi quyết định không trở lại chủng viện nữa.Mặt sau bia đá tại Cái Mơn
Cộng tác với Pháp
Để tránh bị bắt bớ, Trương Vĩnh Ký chạy lên Sài Gòn vào tá túc nhà vị giám mục người Pháp Lefèbre, và được ông này giới thiệu làm thông ngôn cho Jauréguiberry vào ngày 20 tháng 12 năm 1860.Năm 1861 Pétrus Ký thành hôn với bà Vương Thị Thọ (con gái ông Vương Ngươn, hương chủ làng Nhơn Giang, Chợ Quán) do linh mục Đoan họ đạo Nhơn Giang mối mai và dời về cư ngụ ở Chợ Quán, Sài Gòn.Nhà Petrus Ký cư ngụ ở Chợ Quán - 1889Ngày 8 tháng 5 năm 1862, Pháp thành lập trường Thông ngôn (Collège des Interprètes), ông được nhận vào dạy.Năm 1863, triều đình Huế cử một phái đoàn do Phan Thanh Giản cầm đầu sang Pháp xin chuộc ba tỉnh miền Đông, Phan Thanh Giản xin Trương Vĩnh Ký đi theo làm thông ngôn.Nhà Petrus Ký ngày nay ở Chợ Quán
Sang Pháp, Pétrus Ký cùng phái đoàn nhà Nguyễn được triều kiến Napoléon III, gặp nhiều nhân vật tên tuổi thuộc nhiều lãnh vực khác nhau. Ngoài ra, ông còn được sang thăm Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý và được yết kiến Giáo hoàng tại La Mã.Về nước, năm 1865, Trương Vĩnh Ký viết cho tờ Gia Định báo (tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên) do ông Ernest Potteaux làm quản nhiệm.Phía trong nhà Petrus Ky - Chợ Quán
Năm 1866, ông thay thế linh mục Croc làm hiệu trưởng Trường Thông ngôn. Ngày 15 tháng 9 năm 1869, ông được thủy sư đô đốc Pháp là Ohier bổ nhiệm làm chủ bút tờ Gia Định báo và tờ An Nam chính trị và xã hội.Ngày 1 tháng 1 năm 1871, Trường Sư phạm (École normale) được thành lập, Pétrus Ký được cử làm hiệu trưởng.Ngày 1 tháng 4 năm 1871, Pétrus Ký được Pháp phong hạng nhất huyện (hàm), được cử làm thư ký Hội đồng châu thành Chợ Lớn.Năm 1873, Pétrus Ký được giao nhiệm vụ điều hành trường Tham biện Hậu Bổ (Collège des administrateurs stagiaires), dạy Việt và Hán văn và cũng bắt đầu viết sách.Nhà mồ của Petrus Ký vào khoảng năm 1930
Năm 1876, thống đốc Nam Kỳ Duperré cử ông ra Bắc Kỳ tìm hiểu tình hình miền Bắc. Năm 1877, ông là hội viên duy nhất và đầu tiên người Nam, được cử làm ủy viên hội đồng cai trị Sài Gòn.Năm 1883, ông được Hàn Lâm Viện Pháp phong hàm Viện sĩ (Officier d'Académie).Năm 1886, Paul Bert - nghị sĩ, hội viên Hàn lâm, bác học gia sinh vật học - được cử sang Đông Dương làm khâm sứ Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Vốn là bạn từ trước, nên Paul Bert mời Trương Vĩnh Ký ra Huế giúp việc.Ngỏ vào nhà mồ Petrus Ký, đường Trần Hưng Đạo
Đến Huế, Pétrus Ký được vua Đồng Khánh cho lãnh chức trong Cơ mật viện Tham tá, sung Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ.Ngày 11 tháng 11 năm đó, Paul Bert bất ngờ bị bệnh chết, Trương Vĩnh Ký bị nhóm thực dân không cùng cánh bỏ rơi, bạc đãi; và bản thân Pétrus Ký sau đó cũng bị triều đình Huế nghi kỵ và trù dập nên ông lấy cớ đau phổi xin từ chức về lại Sài Gòn dạy học tại trường Hậu Bổ, trường Thông ngôn và viết sách...Nhà mồ Petrus Ký hiện nayPhiá trong nhà mồ Petrus Ký
Cuối đời
Mặc dù đã trở về đời sống của một viên chức, nhưng Trương Vĩnh Ký vẫn bị người khác phe tìm cách hạ bậc lương và làm khó dễ việc vào ngạch giáo sư sinh ngữ Đông Phương của ông. Rồi năm 1888, trường Thông ngôn đóng cửa, Pétrus Ký gần như thất nghiệp.Và khi trước, lúc còn được ưu ái, những sách của Trương Vĩnh Ký đều được nhà cầm quyền Pháp bỏ tiền ra in, để phân phối cho học sinh. Nhưng từ khi bị hất hủi, lui về ẩn dật ở Chợ Quán, ông phải bỏ tiền riêng ra in ấn và tự phát hành. Sách ế ẩm khiến Pétrus Ký phải mắc nhiều nợ.Tượng Petrus Ký trên Đại Lộ Thống Nhất ở Sài Gòn trước 1975
Năm 1887, sau khi đi công tác ở Bangkok để giải quyết vấn đề giữa Thái Lan và Đông Dương, ông nghỉ hưu. Năm 1888, ông xuất bản tạp chí tư nhân Thông Loại Khóa Trình (Miscellanées) được 18 số (1888 - 1889).Sống trong hoàn cảnh buồn bã, túng quẩn, bệnh hoạn luôn, Pétrus Ký qua đời vào ngày 1 tháng 9 năm 1898.Mộ phần và nhà ở khi xưa của ông (nay là nơi thờ phụng ông), hiện nằm nơi góc đường Trần Hưng Đạo và Trần Bình Trọng thuộc Quận 5, Sài Gòn.Buổi khánh thành tượng Petrus Ký trên Boulevard Norodom
Chức vụ, huân huy chương
Không những Trương Vĩnh Ký là một nhà văn tiền phong của nền văn học chữ quốc ngữ mà ông còn là một học giả rất nổi tiếng. Trong quá trình hoạt động, ông đã được nhận các chức việc và huân huy chương:
- Nhận huy chương Dũng sĩ cứu thế của Tòa thánh La Mã ngày 1 tháng 10 năm 1863.
- Năm 1871, được cử làm hội viên Hội Nhân Văn và Khoa học vùng Tây Nam nước Pháp, Hội nhân chủng học, Hội Giáo dục Á châu.
- Năm 1874, được phong giáo sư ngôn ngữ Á Đông, vì Pétrus Ký đã thông hiểu 27 sinh ngữ trên thế giới.
- Trong cuộc bầu chọn “ Toàn Cầu Bác Học Danh Gia” vào năm 1874, Pétrus Ký đã được bình chọn đứng hàng thứ 17 trong 18 “Thế giới Thập Bát Văn Hào”.
- Nhận huy chương Isabelle la Catholique của Tây Ban Nha ngày 27 tháng 6 năm 1886.
- Trở thành hội viên Hội chuyên khảo về Văn hóa Á Châu ngày 15 tháng 2 năm 1876.
- Trở thành hội viên Hội chuyên học địa dư ở Paris ngày 7 tháng 7 năm 1878.
- Nhận huy chương Hàn Lâm Viện đệ nhị đẳng của Pháp ngày 17 tháng 5 năm 1883.
- Nhận Tứ đẳng Long Tinh, Ngọc Khánh, Long Khánh của Nam triều ngày 17 tháng 5 năm 1886.
- Nhận Bắc Đẩu Bội Tinh đệ ngũ đẳng của Pháp ngày 4 tháng 8 năm 1886.
- Nhận Hàn Lâm Viện đệ nhất đẳng của Pháp ngày 3 tháng 6 năm 1887
- Nhận Hàn Lâm Viện đệ nhất đẳng của Hoàng gia Cam Bốt.
- Vua Đồng Khánh ban cho ông chức Hàn Lâm viện Thị giảng học sĩ.
- Vua Khải Định ban hàm Lễ Bộ Tham Tri.
- Vua Bảo Đại ban hàm Lễ Bộ Thượng Thư.
Trước đây, ông được Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa công nhận là một học giả, có công lao góp vào việc hoàn thiện tiếng việt nên đặt lại tên cho một ngôi trường trung học lớn nhất miền Nam (chuyển từ Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký sang Trường Trung Học Pétrus Ký). Sau năm 1975, trường này được đổi tên là trường trung học Lê Hồng Phong ở Sài Gòn.Tượng Petrus Ký nhìn về hướng Vương Cung Thánh Đường Sài Gòn trước 'Giải Phóng' 1975, nay đã bị phế bỏ.
Hiện nay tại Sài Gòn cũng có 1 trường mang tên Trương Vĩnh Ký là Trường THPT Tư thục Trương Vĩnh Ký.Một số tác phẩm
Ông có rất nhiều tác phẩm (118 tác phẩm hoặc 121 tác phẩm), lược kê một số như:
- Truyện đời xưa
- Abrégé de grammaire annamite (Tóm lược ngữ pháp An Nam)
- Kim Vân Kiều (bản phiên âm ra chữ quốc ngữ đầu tiên)
- Petit cours de géographie de la Basse-Cochinchine
- Cours de langue annamite (Bài giảng ngôn ngữ An Nam)
- Voyage au Tonkin en 1876 (Đông Kinh du ký)
- Guide de la conversation annamite (Hướng dẫn đàm thoại An Nam)
- Phép lịch sự An Nam (Les convenances et les civilités annamites)
- Lục súc tranh công
- Cours de la langue mandarine ou des caractères chinois (Bài giảng tiếng quan thoại hay chữ Trung Quốc)
- Cours d'histoire annamite (Bài giảng lịch sử An Nam)
- Dư đồ thuyết lược (Précis de géographie)
- Đại Nam tam thập nhất tỉnh thành đồ
- Cours de littérature annamite, 1891 (Bài giảng văn chương An nam)
- Cours de géographie générale de l'Indochine (Bài giảng địa lý tổng quát Đông Dương)
- Grand Dictionnaire Annamite-Français (Đại tự điển An Nam-Pháp) v.v...
Hiện còn nhiều trước tác của Trương Vĩnh Ký đã bị thất lạc, không còn đầy đủ hoặc nằm ở thư viện nước ngoài.Nỗi lòng
Hay tin Pétrus Ký, một con người tài giỏi, sẽ ra làm việc với Pháp, một số quan lại nhà Nguyễn đâm ra nghi kỵ ông. Nhưng sau nhiều toan tính, ông nghĩ rằng phải làm việc để giúp đỡ đồng bào, nhất là lúc ấy, Pháp và Nam triều chưa hiểu nhau, chưa thành thật với nhau. Pétrus Ký đã mượn câu châm ngôn Latin Ở với họ mà không theo họ (Sic vos non vobis), để biện minh cho việc nhận lời làm thông ngôn cho Jauréguiberry.Sau 1975, tượng Petrus Ký được dời về Bảo Tàng Nghệ Thuật "Hui Bon Hoa"
Ngày 8 tháng 11 năm 1870, ông có lời di huấn: Người đời sanh ký tử quy, đàng đi nước bước vắn vỏi lắm. Nhưng ai cũng có phận nấy, hể nhập thế cuộc bất khả vô danh vị, cũng phải làm vai tuồng mình cho xong đã, mới chun vô phòng được. Sự sống ở đời tạm nầy, đỏ như hoa nở một hồi sương sa; vạn sự đều chóng qua hết, tan đi như mây như khói. Nên phải liệu sức, tùy phận mà làm vai tuồng mình cho xong....
Bài thơ ông sáng tác lúc gần lâm chung :
Quanh quanh quẩn quẩn lối đường quai,
Xô đẩy người vô giữa cuộc đời.
Học thức gửi tên con mọt sách,
Công danh rốt cuộc cái quan tài.
Dạo hòn, lũ kiến men chân bước,
Bò xối, con sùng chắt lưỡi hoài!
Cuốn sổ bình sanh công với tội,
Tìm nơi thẩm phán để thừa khai.
Và câu ghi nơi nhà mồ bằng tiếng Latinh: Miseremini Mei Satem Vos Amici Mei (Xin hãy thương tôi, ít ra là những bạn hữu của tôi).Về hoa quả ở Cái Mơn
Ông còn được xem là có công trong ngành làm vuờn ở Cái Mơn. Các giống cây ăn trái như làsầu riêng, chôm chôm tróc, măng cụt tróc, bòn bon (Lansium domesticum)... đều do ông đem từ Pinang mỗi khi bãi trường về thăm nhà.Trái bòn bon mà Pétrus Ký đem từ Pinang, Mã Lai về trồng ở Cái Mơn
Vài nét về Trường Trung Học Pétrus Trương Vĩnh Ký
Năm 1925 kiến trúc sư Hebrard de Villeneuf được chỉ định lập bản đồ thiết kế một ngôi trường mới tại Chợ Quán.
Ngày 28-11-1927 Toàn quyền Đông Dương G.Gal ra một nghị định thiết lập tại Chợ Quán một phân hiệu tạm thời của Collège Chasseloup Laubat dành cho học sinh người bản xứ lấy tên là Collège de Cochinchine. Phân hiệu này đặt dưới sự điều hành của Ban Giám Đốc trường Chasseloup Laubat và một giáo sư phụ trách tổng giám thị của phân hiệu.Tượng đặt trong Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký
Năm 1928 khi các khu trường mới xây dựng xong,ngày 11-8-1928 Toàn quyền Đông Dương tạm quyền René Robert ký nghị định số 3116 gồm 6 điều,thành lập tại Chợ Quán ,kể từ kỳ tựu trường 1928-1929,một trường Cao Đẳng Tiểu học Pháp bản xứ, chuyển giao phân hiệu tạm thời của Collège Chasseloup Laubat nói trên vào trường này,và được mang tên là Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký.Cổng trường Petrus Ký trước 1975
Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký , thường gọi tắt là Lycée Petrus Ký khai giảng ngày đầu tiên là ngày 01-10-1928 . Hiệu trưởng đầu tiên là Ông Sainte Luce Banchelin, giám học là Ông Boulé, phát ngân viên là Ông Mahé. Chủ tịch hội đồng quản trị là Ông Gazano và các ủy viên người Việt Nam là Ông Nguyễn Thành Giung, tiến sĩ hóa học, giáo sư khế ước, Ông Hồ Bảo Toàn và Trần Lê Chất, quan chức, là hai phụ huynh học sinh, ủy viên người Pháp là hai Ông Sainte Luce Banchelin và Mahé.Một lớp thử nghiệm hoá chất tại trường Petrus Ký
Từ 1949 đến 1950 học sinh Petrus Ký tham gia các phong trào đấu tranh của học sinh Saigon như chống độc lập giả hiệu, tẩy chay cuộc viếng thăm hai trường Petrus Ký và Gia Long của Bảo Đại vào tháng 9-1949, đòi học tiếng Việt trong nhà trường. Ngày 23-11-1949 toàn trường bãi khóa đòi thả 5 học sinh của trường bị bắt. Ngày 24-11-1949 nhà cầm quyền lúc bấy giờ ra lệnh đóng cửa trường vô thời hạn. Đến tháng 12-1949 phụ huynh và học sinh đòi nhà cầm quyền mở cửa trường trở lại cho học sinh đi học. Nha học chánh Saigon bắt buộc học sinh muốn học lại phải làm cam kết. Cuộc đấu tranh dằng co đến ngày 9-01-1950 học sinh các trường đồng loạt hẹn nhau đi biểu tình yêu cầu Giám đốc Nha học chánh và Thủ hiến giải quyết. Chánh quyền không giải quyết được và lúc 12g30 theo lệnh của thực dân Pháp đưa lính đến giải tán và đàn áp cuộc biểu tình dẫn đến cái chết của Anh Trần Văn Ơn, học sinh lớp Seconde (lớp 10 bây giờ) của trường Petrus Ký.Lối vào chính của trường Petrus Ký trước 1975
Cái chết anh Trần Văn Ơn dấy lên làn sóng căm phẩn cả nước. Ngày 12-01-1950 gần cả triệu người ở Saigon và nhiều tỉnh về dự đám tang anh Ơn, hầu như cả Thành phố Saigon ngưng hoạt động, ngưng họp chợ, các cửa hàng đóng cửa, công chức không đến Sở làm việc, học sinh, sinh viên trường công tư, công nhân, người buôn bán, xích lô... đến dự lễ truy điệu anh Ơn tại trường Petrus Ký. Sau đó trường mở cửa lại và nhà cầm quyền Pháp bãi bỏ chế độ nội trú của trường.Dãy lớp học ở Petrus Ký khoảng cuối thập niên 50
Muốn vào học trường Petrus Ký học sinh ưu tú của Saigon và các tỉnh phía Nam phải qua kỳ thi tuyển rất gay go, từ khi mới thành lập cũng vậy mà sau này cũng vậy. Vì thuộc thành phần chọn lọc như vậy cho nên học sinh Petrus Ký đậu rất nhiều và rất cao trong các kỳ thị Kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp năm 1959 chẳng hạn là kỳ thi rất hóc búa, toàn quốc chỉ có một người đậu hạng Bình mà thôi, và người đó là học sinh Petrus Ký. Về phương diện kỷ luật và trật tự thì có lẽ không có trường nào có kỷ luật và trật tự chặt chẽ, tốt đẹp bằng trường Petrus Ký. Ngày đầu tiên vào trường, đứng xếp hàng dưới những tàn cây sao cao ngất bên hông những dãy lớp học đồ sộ uy nghi, khi các lớp học sinh chỉnh tề theo hàng ngũ lần lượt đi vào sân trong và dừng lại ở trước cửa mỗi lớp một cách rất có trật tự và kỷ luật trong không khí trang trọng.Lối vào chính ở trường ngày nay, bảng tên Petrus Trương Vĩnh Ký đã được che lại.
Học sinh Petrus Ký cũng chọc phá thầy cô, cũng đóng vai thứ ba học trò không khác gì những học trò các trường khác, nhưng chúng ta phải hãnh diện mà nói rằng cái phá hay cái đùa của học trò Petrus Ký có phần nào trí thức, ý nhị, và thông minh, chớ không quá quê mùa cục mịch, vô ý thức như một số học sinh các trường khác.Phần đông giáo sư Petrus Ký là giáo sư được chọn lọc, rất có căn bản chuyên môn và cũng rất đạo đức. Các giáo sư được bổ nhiệm về trường Petrus Ký và một số các trường lớn khác ở Saigon thường phải là những người đậu đầu hay thật cao trong danh sách tốt nghiệp CĐSP hay ĐHSP sau này, hoặc những người đã dạy lâu năm ở tỉnh. Quý thầy đều rất tận tụy với việc giảng dạy, rất thương học sinh, và rất chú tâm đến việc bảo vệ uy tín và thanh danh của trường. Một số giáo sư Petrus Ký đã đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong ngành giáo dục sau khi dạy ở trường một thời gian.
Subscribe to:
Posts (Atom)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)

.jpg)

.jpg)
.jpg)
.jpg)




























