THAY LỜI CHÀO MỪNG!

THAY LỜI CHÀO MỪNG!

LỜI CHÀO MỪNG

CẢM ƠN QUÝ THÂN HỮU ĐÃ MỞ CỬA VÀO NGÔI NHÀ ĐƠN SƠ "QUA DẤU BỤI THỜI GIAN" CỦA
TRẦN KIÊU BẠC.




Wednesday, March 28, 2012

Tuesday, March 27, 2012

NHẶT HOA TRÊN NET


Tất cả đều là VÔ THƯỜNG

1-Thời gian : Vô Thường

Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh nhưng chỉ có hiểu đời thì mới Qua một ngày vui một ngày.sống thanh thản, sống thoải mái.
Qua một ngày mất một ngày.
Vui một ngày lãi một ngày.

2-Hạnh phúc : Vô Thường

Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc là cảm giác, cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng.

3-Tiền : Vô Thường

Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi. Nếu có người cần giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua ? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ ! Người khôn biết kiếm tiền, biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền, đừng làm tôi tớ cho nó. (Khó lắm !?!?)

4- Đời sống : Vô Thường

“Quãng đời còn lại càng ngắn thì càng phải làm cho nó phong phú”. Người già phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư khổ hạnh”, hãy làm “con chim bay lượn”. Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc, cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.

5-Thê´Gian : Vô Thường

-Tiền bạc là của con ( không chắc lám) - Tài sản có thể bị mất vì các nguyên nhân: 1-Thiên tai, 2- Hỏa hoạn, 3- Pháp lênh của vua hay chính quyền tich thu, quốc hửu hóa, 4- Trộm cướp, 5- Con cái.
- Địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứsức khỏe là của mình.
-Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn.
-Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một chút, hỏi vài câu là thấy đủ rồi.
-Con tiêu tiền cha mẹ, thoải mái ; Cha mẹ tiêu tiền con, chẳng dễ.
-Nhà cha mẹ là nhà con ; Nhà con không phải là nhà cha mẹ.
Khác nhau là thế, người hiểu đời coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong báo đáp.
-Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.
--Ốm đau trông cậy ai ? Trông cậy con ư ? Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu (cửu bệnh sàng tiền vô hiếu tử). Trông vào bạn đời ư ? Người ta lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi.
Trông cậy vào đồng tiền ư ? - Chỉ còn cách ấy.
-Cái được, người ta chẳng hay để ý; cái không được thì nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm.
Chân lý của Đạo, thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.
Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình (tỷ thượng bất túc tỷ hạ hữu dư), biết đủ thì lúc nào cũng vui (tri túc thường lạc).
Tập cho mình nhiều đam mêvui với chúng không biết mệt, tự tìm niềm vui.
Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui.

Sunday, March 25, 2012


THƠ BUỒN CHO THƠ ĐI LẠC 



Vào trang Web lạ thấy thơ tôi
Chữ ngả chữ nghiêng chữ ngậm ngùi
Bên dưới lại đề tên người khác
Nghĩ lại thơ mình cũng nổi trôi
Thơ mình đi lạc mình đâu biết
Ba phần còn lại một phần thôi
Người ta bắc cóc thơ đem nhốt
Trong chiếc lồng son cửa sáng ngời
Thơ tôi nghèo lắm nhưng chung thủy
Vẫn ở quanh tôi dẫu khóc cười
Sao nỡ cho thơ sầu ly cách
Thơ mất tôi như người xa người
Tôi nghèo, thơ chỉ dăm ba chữ
Nhưng quý còn hơn vốn vàng mười
Tôi lạc mất thơ đêm không ngủ
Vào ra nào biết tiếng cười tươi
Người ta giàu lắm thơ vung vải
Mất một bồ thơ chẳng bồi hồi
Tôi mất thơ đi dù một chữ
Lòng buồn chưa biết thuở nào nguôi
Sao không đánh cắp thơ người khác
Kẻ chẳng qúy thơ, mất vẫn cười
Lại nhằm thơ tôi giây đi lạc
Sao bắt thơ tôi biệt cõi đời
Tôi biết thơ mình đầy nghĩa khí
Cố đòi cho được tự do thôi
Vốn tính khoan hoà tôi đâu nỡ
Chỉ mặt gọi tên kẻ biếng lười
Không chịu suy tư không chịu viết
Chờ thơ đi lạc bắt về chơi
Lấy lẽ Công Bằng đem phân xử
Thì nên chú thích trong ngoặc đôi
"Thơ nầy trích từ Trần Kiêu Bạc"
Tôi rất vui và người cũng vui
Thơ tôi mai mốt còn đi lạc
Vẫn mãi của tôi, vốn vàng mười.

TRẦN KIÊU BẠC

PHÚT THẬT LÒNG VỚI NGÔI TRƯỜNG CŨ 





Khi trống trường báo giờ học đầu tiên
Hàng rồng rắn sẵn sàng bên cửa lớp
Những chân sáo đứng im không được
Mái đầu nhấp nhô không xếp thẳng hàng

Viên phấn tròn lạc bên góc hành lang

Chờ gom lại trên bàn Thầy ngay ngắn
Tấm bảng đen cả ngày yên lặng
Reo vui theo từng con toán so le

Lâu lắm rồi từ lúc hết tuổi thơ

Trường có giữ từng viên phấn nhỏ
Hành lang dài còn in chân sáo cũ
Những mái đầu chưa biết rẻ đường ngôi?

Góc sân buồn còn giữ chút ô mai

Còn bó đũa trong giờ chơi mười phút
Những cô bạn chưa từng quen áo ngực
Đôi lúc nhìn lầm cứ tưởng con trai?

Thầy nói các con là hy vọng tương lai

Không ai hiểu chỉ lén nhìn qua cửa
Bên ngoài kia những cánh diều no gió
Những trái me non chờ ai đến hít hà!

Bây giờ lớn rồi thấy xa ơi là xa

Thật lòng mình không trách trường chi hết
Giữ sao được tuổi ngây thơ bay mất
May còn lời Thầy không theo gió cuốn đi!

Một chút đợi mong là ngày sẽ quay về!


TRẦN KIÊU BẠC

ĐÊM MỘT MÌNH CHỜ MẸ

Đêm thức một mình mới thấy cô đơn
Vắng Mẹ nhà như rộng thêm đôi chút
Đường về nhà bỗng dài ra hun hút
Bởi vắng một người, chỉ một Mẹ thôi

Lòng ước ao trở lại tuổi lên mười
Mẹ vá áo cứ đo dài tay áo
Cầu con lớn nhanh giữa đời giông bão
Cứ mỗi năm thêm một bước nên người



Ước chi mình về lại tuổi đôi mươi
Thấy mắt Mẹ mừng tin con thi đậu
Giọt mồ hôi khô vừa trên lưng áo
Nạm ngọc nụ cười hãnh diện về con

Phải chi còn mưa vột rớt hoàng hôn
Nép vai Mẹ cho vai mình khỏi ướt
Vời vợi tình thương nói hoài không hết
Canh cánh nỗi lo nặng đến bạc đầu

Đêm một mình dõi thấu suốt canh thâu
Ao ước là ước ao không có thật
Úp mặt vào đêm đến sưng đôi mắt
Mẹ đâu giờ… Mẹ đã khuất ngàn xa

Đêm thức một mình chờ Mẹ ghé qua…

TRẦN KIÊU BẠC




TÊN GỌI TÂY NINH RA ĐỜI TRONG HOÀN CẢNH NÀO?
"Đêm 18 tháng 5 năm Quý Tỵ, 1833, Lê Văn Khôi tập hợp phe đảng phản kích triều đình.Trong thời gian ngắn, toàn Nam Kỳ , kéo từ Biên Hòa đến tận Hà Tiên ngày nay, đều nằm dưới quyền cai trị của Lê Văn Khôi"
                                       Trần Minh Tạo
            Tháng Giêng năm Canh Thìn (1820), thái tử Đởm kế ngôi Gia Long làm vua.Đặt niên hiệu Minh Mạng. Năm 1832, khai quốc đại thần, Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt qua đời. Vì có hiềm khích cá nhân từ trước,vua Minh Mạng và một số quần thần cùng phe nhân đó khởi động cái việc gọi là luận tội lúc còn sống của Lê Văn Duyệt.Kết quả:Lê Văn Duyệt bị truy thu quan tước, mồ mả bị xiềng xích và  san bằng ;con nuôi là Lê Văn Khôi bị bắt giam nhưng tổ chức vượt ngục được.
          Đêm 18 tháng 5 năm Quý Tỵ, 1833, Lê Văn Khôi tập hợp phe đảng phản kích triều đình.Trong thời gian ngắn, toàn Nam Kỳ , kéo từ Biên Hòa đến tận Hà Tiên ngày nay, đều nằm dưới quyền cai trị của Lê Văn Khôi. Lúc đó ,triều đình Minh Mạng sai binh tướng phản công quyết liệt. Lê Văn Khôi bèn cử người sang Tiêm-La (Thái Lan ngày nay) cầu cứu. Nhân cơ hội này,Tiêm-La xuất liền 5 đạo binh. Đạo thứ nhất, thủy binh, với 100 chiến thuyền, đánh chiếm Hà Tiên. Đạo thứ hai, vừa thuỷ vừa bộ, đánh chiếm thủ đô Nam Vang, lật đổ triều đình thân Việt Nam ở đây, đưa lực lượng thân mình lên thay rồi đánh lấy tiếp  Châu Đốc và An Giang. Đạo thứ ba, đánh lấy Cam Lộ (Quảng Trị). Đạo thứ 4, đánh lấy Cam Cát, Cam Môn (Miền Trung). Đạo thứ 5, đánh lấy Trấn Ninh (Phía tây Nghệ An bây giờ). Mục đích chính là  thôn tính Nam Kỳ của Việt Nam.
          Khi hay tin bị đồng loạt tấn công, vua Minh Mạng sai Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân, lấy quân vùng Gia Định, tiến về mặt Châu Đốc, An Giang đánh kìm chận quân Tiêm La lại. Tại mặt trận Cam Lộ, Cam Môn, Cam Cát, Trấn Ninh, giao cho Lê Văn Thụy, Phan Văn Điển và Nguyễn Văn Xuân chống giữ. Mặt khác, bí mật hỗ trợ lực lượng Khmer thân Việt Nam nổi dậy kháng cự Tiêm-La ngay từ trong nước. Chẳng bao lâu sau, trên dưới một tháng, quan binh nhà Nguyễn thu phục được Hà Tiên,Châu Đốc,An Giang ;đẩy lùi toàn bộ liên quân Tiêm La-Khmer-Lào ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Nhân đó, tiến chiếm thủ đô Nam Vang.Đưa vua Chân Lạp cũ, là Nặc-Ông-Chân về nước.Sau đó, Trương Minh Giảng và Lê Đại Cương được lệnh lập ngay một đại đồn,gọi là đồn An Nam, nằm gần thủ đô Nam Vang.Trực tiếp tiến hành bảo hộ triều đình Nặc-Ông -Chân vẫn còn bị người Tiêm La đe dọa từ biên giới phía Bắc,Tây và Tây Nam.
         Năm sau,1834, Nặc-Ông-Chân mất.Vì không có con trai,nội bộ triều đình Chân Lạp bắt đầu lủng củng và chia rẻ.Năm 1835,Trương Minh Giảng lập một người con gái của Nặc-Ông-Chân, tên là Ang-Mey, làm quận chúa.Đặt cho tên Việt Nam là Ngọc Vân.( Sau này ,khi quân đội Việt Nam triệt thoái  về nước ,nàng quận chúa người Khmer này “lưu vong” theo .Bà cùng hoàng tộc sống hẳn tại huyện Phú Châu,thuộc tỉnh An Giang bây giờ.Cách biên giới Kampuchia hiện nay không quá 30 cây số.Nằm cặp hữu ngạn Tiền giang).Song song đó,vua Minh Mạng ra lệnh biến thẳng nước Chân Lạp thành một Trấn của Việt Nam,có tên gọi là Trấn Tây.Chia toàn Trấn này ra làm 2 huyện và 32 phủ. Giao cho Trương Minh Giảng làm Tướng Quân thành Trấn Tây (kiêm Tổng đốc 2 tỉnh An Giang và Hà Tiên ở bên Việt Nam.Lúc này An Giang bao trùm luôn các huyện thị phía Nam tỉnh Đồng Tháp bây giờ ,gồm có Lấp Vò,Lai Vung ,Sa Đéc ,Châu Thành). Lê Đại Cương làm Tham Tán đại thần thành Trấn Tây (kiêm tuần phủ tỉnh An Giang).Cải bổ thống chế Bùi Công Huyên làm đô đốc thành Trấn Tây,có nhiệm vụ  thống lĩnh  liên quân Việt Nam và Chân Lạp trong sứ mệnh vừa kiềm chế  âm mưu bành trướng của người Tiêm La vừa sáp nhập,thôn tính  dần Chân Lạp vào bản đồ Đại Việt.
         Tuy nhiên,được vài năm,do sự nhũng nhiễu,hà lạm,hiếp đáp quá đáng của quan quân Việt Nam đang thực hiện sự “bảo hộ” tại đây,người Chân Lạp bắt đầu nổi dậy. Người Tiêm La nhân đó xúi giục và giúp đỡ thêm vào nhằm vừa mưu toan chiếm lấy Chân Lạp vừa tìm cơ hội  tấn công xâm lược toàn vùng Nam bộ của người Việt.
         Nắm được tình hình này, tháng 7 năm 1836,Trương Minh Giảng  xin vua Minh Mạng lấy một phần đất phía tây bắc tỉnh Gia Định, giáp giới nước Chân Lạp, vốn thuộc huyện Bình Dương và Thuận An, phủ Tân Bình lâu nay, làm một phủ mới, gọi là Tây Ninh với  hai huyện trực thuộc bên dưới, đó là Tây Ninh và Quang Hóa. Phủ lỵ sẽ nằm tại huyện Quang Hóa, “phía tả có sông Tiểu Đà thông với Quang Hóa”, “phía hữu có đàng lục bộ thông đến Trọc Giang (giáp Biên Hòa)”, nằm trên một con đường “thẳng đến con đàng lớn xứ Kha Lâm” (Ka-Tum bây giờ), “đất rộng bằng và tốt”,“người Hán và người Mọi ở xen nhau cày ruộng làm ăn”.
        Theo tờ tấu của Trương Minh Giảng, việc lập Phủ Tây Ninh giáp nước Chân Lạp là để “Trong, bền vững bờ cõi thành Gia Định”, “Ngoài, mạnh thêm thanh thế xứ Trấn Tây”(Tức là nước Chân Lạp của người Khmer đang do quan quân  người Việt bảo hộ).Và, bấy giờ, trước đề xuất này, vua Minh Mạng đã đồng ý. Như vậy, tên gọi Tây Ninh đã ra đời trong bối cảnh lịch sử này. Nó là tên của một phủ mới thuộc về tỉnh Gia Định, vào đời vua Minh Mạng.Nếu cần hiểu nghĩa “chiết tự” của tên gọi “Tây Ninh” là gì, đoạn văn trong tờ tấu nói trên của Trương Minh Giảng có lẽ  cũng đã giải thích đầy đủ.

                                    Sa Đéc Đồng Tháp  ,mùa xuân 2008


   Sách tham khảo chính:
- Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim
- Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu của Quốc sử quán triều Nguyễn
- Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức.

RAY RỨT KHÚC KINH BUỒN  




Đêm đặc quánh chảy đen qua lòng đất
Chiều tơ vàng gió khẻ quét sân ga
Lữ khách ôm chuổi ngày buồn cao ngất
Buổi chia tay quên rót chén quan hà!

Theo vó ngựa đã đành thân lãng tử

Bóng quê hương da diết mộng quay về
Dốc phong sương ngăn bàn chân kiếm sĩ
Nhạc u hoài vẳng tiếng sáo Trương Chi

Thoảng bên trời mang cuộc đời dâu bể

Lơ lững hồn quanh chiếc bóng Mỵ Nương
Cuộc phù sinh còn nỗi đau trần thế
Lời thực hư chưa khép chuyện hoang đường

Còn ray rứt khúc kinh buồn chưa đọc

Bóng tình nhân đã trả lại tình nhân
Đau một chút sao bồi hồi buồn khóc?
Mắt dõi trông bóng xế cửa đường trần

Vẫn thèm hát bài tình ca quê Mẹ

Dẫu đơn côi tám nẽo cách xa mù!
Lãng tử ơi ! Đêm buồn ghe tiếng dế
Có mơ về cố quốc những ngày xưa?


TRẦN KIÊU BẠC

MƯỜI NĂM TÌNH CHIA XA 


Mười năm mong gặp lại người
Mong tìm thấy được nụ cười ngày xuân
May còn mái tóc mượt xanh
Còn trong ánh mắt trọn dành cho nhau
Muối chưa làm trắng mái đầu
Mà lòng mặn đắng bể dâu cuộc đời
Mười năm lỡ gặp lại người
Nay còn hiu hắt nụ cười buồn tênh
Đò xưa sóng vỗ chao nghiêng
Nên bờ bến cũ ôm riêng cõi buồn
Mười năm ngỡ tóc còn hương
Mà hồn bồ kết thả buồn trôi đi
Tình trăm năm tưởng quay về
Mười năm tình đã vội chia dặm ngàn
Tình xa mấy nẻo cũng đành
Thôi mười năm, chuyện chúng mình quên đi !

TRẦN KIÊU BẠC



Magic Pigeons

Magic Pigeons