Hãng truyền thông CNN nổi tiếng của Mỹ vừa giới thiệu Top 10 món ăn đường phố khiến khách Tây bị cuốn hút khi đến với Việt Nam.
1. PHỞ
Món ăn ngon của Việt Nam đầu tiên được đề cập đến là phở. Theo nhiều người nước ngoài, không thể đi qua các thành phố lớn của Việt Nam mà không ăn thử món phở thơm ngon và hấp dẫn đến từ VN.
Phở là món ăn rất nổi tiếng, mỗi khi nói đến phở là nói đến Việt NamMón ăn đơn giản này, bao gồm nước dùng, sợi phở tươi, rắc rau thơm và thịt gà hoặc thịt bò. Phở rất rẻ, ngon và có thể thưởng thức vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày.
2. BÚN CHẢ
Phở có thể là món ăn Việt Nam nổi tiếng nhất, nhưng bún chả là lựa chọn hàng đầu khi đến ăn trưa ở thủ đô. Du khách chỉ cần tìm kiếm những đám khói sau 11 giờ trưa khi các nhà hàng ven đường ở Hà Nội bắt đầu nướng những miếng thịt lợn tẩm gia vị và những lát thịt lợn tẩm ướp trên.
Khi chúng đã cháy cạnh và giòn, những suất bún chả được phục vụ với một bát nước dùng đậm đặc đủ vị mặn ngọt chua cay, một rổ rau thơm và một ít bún tươi.
3. XÔI
Xôi xéo Hà Nội là một trong những món ăn đặc sản mà bất cứ ai cũng muốn thử một lần.
Món xôi thường ít khi xuất hiện trong các bữa ăn ở Việt Nam và thường chỉ có trong các mâm cỗ. Xôi cũng là món ăn đường phố quen thuộc, được bán như một món ăn sáng tiện lợi. Món ăn được nấu từ gạo nếp được dùng kèm với rất nhiều loại “topping” (từ thịt gà, thịt lợn đến trứng chiên hay giò chả).
4. BÁNH XÈO
Bánh xèo cũng là món khoái khẩu của thực khách TâyMột chiếc bánh xèo ngon là phần vỏ bánh phải giòn, nhân thịt heo, tôm, giá đỗ, trang trí thêm rau thơm (đây cũng là đặc trưng của hầu hết các món ăn Việt Nam). Để thưởng thức món ăn như người địa phương, hãy cắt nó thành từng lát vừa ăn, cuộn lại trong bánh tráng cùng các loại rau sống và chấm với nước sốt đặc biệt mà đầu bếp đã pha chế.
5. GỎI CUỐN
Những gói cuốn thanh mát và tươi ngon này là một lựa chọn bổ dưỡng khi bạn đã thưởng thức qua nhiều những món chiên rán ở Việt Nam. Một ít bún, vài miếng thịt ba chỉ, một con tôm lột vỏ, kết hợp với cọng hành trong tấm bánh tráng cuộn lại tạo thành một hương vị rất riêng cho món gỏi cuốn.
6. BÚN BÒ NAM BỘ
Bún bò Nam bộ nhưng lại có xuất xứ và phổ biến rộng rãi ở Hà Nội. Tô bún vô cùng thanh mát khi giữ cho các nguyên liệu không bị ngấy và các thành phần khác nhau vẫn nguyên vẹn. Những lát thịt bò mềm hòa quyện với đậu phộng giòn và giá đỗ, hòa lẫn với hương vị của rau thơm, hành khô giòn và một chút nước mắm cùng ớt cay
7. CAO LẦU
Một trong những món ăn phổ biến ở Việt Nam, cao lầu kết hợp các yếu tố từ các nền văn hóa khác nhau. Món bún thịt heo đến từ Hội An này có chút gì đó giống với các nền văn hóa khác nhau đã từng ghé thăm thương cảng vào thời kỳ sơ khai của nó. Sợi mì dày hơn tương tự như mì udon của Nhật Bản, bánh đa chiên và thịt lợn mang phong cách Tàu Quốc, trong khi nước dùng và rau thơm rõ ràng là đặc trưng của ẩm thực Việt Nam. Cao lầu chuẩn vị phải được làm bằng nước lấy từ giếng Bà Lệ ở Hội An.
8. BÁNH MÌ
Bánh mì hiện được coi là một trong những món ăn đặc trưng của Việt Nam phủ sóng ra toàn thế giới
Người Pháp có thể mang theo bánh mì baguette, nhưng Việt Nam đưa nó lên một tầm cao khác. Ở miền Bắc, bánh mì thường đơn giản hơn với bơ thực vật, pate, trứng, dưa chuột… Nhưng ở miền Nam, một chiếc bánh mì có thể chứa sự kết hợp nhiều màu sắc hơn của pho mát, thịt nguội, rau ngâm, xúc xích, xíu mại…
9. BỘT CHIÊN
Món ăn vặt đường phố được yêu thích ở TP.HCM, bột chiên là điểm hẹn của đám học sinh khi tan học và những người thích ăn khuya.
Những sợi bột gạo được chiên trong chảo lớn cho đến khi giòn, sau đó cho một quả trứng vào trộn đều. Sau khi nấu chín, nó được phục vụ với những lát đu đủ, hẹ tây và hành lá, trước khi thêm hương vị với tương ớt và giấm gạo.
10. CÀ PHÊ TRỨNG
“Cà phê trứng” của Việt Nam về mặt kỹ thuật là một thức uống, nhưng CNN lại thích xếp nó vào danh mục món tráng miệng hơn. Lớp bọt lòng trắng trứng mềm, giống như kem meringue trên nền cà phê đậm đặc của Việt Nam sẽ khiến ngay cả những người bình thường không thích cà phê cũng phải liếm thìa một cách thích thú.
Theo Báo Thời Đại
Ở một nơi xa nửa vòng trái đất. Mượn quê người làm một chút quê hương. Những hạt thơ rơi bên ngoài Tổ quốc. Vẫn nẩy mầm, vẫn nở đóa yêu thương.
THAY LỜI CHÀO MỪNG!
LỜI CHÀO MỪNG
CẢM ƠN QUÝ THÂN HỮU ĐÃ MỞ CỬA VÀO NGÔI NHÀ ĐƠN SƠ "QUA DẤU BỤI THỜI GIAN" CỦA TRẦN KIÊU BẠC.
Wednesday, August 14, 2024
MƯƠI MÓN ĂN VN NỔI TIẾNG
Tuesday, August 13, 2024
NHẶT HOA TRÊN NET/NHÀ HÁT ĐẦU TIÊN Ở SAIGON
NHÀ HÁT ĐẦU TIÊN Ở SÀI GÒN

Nhà hát TP Saigon. Ảnh: TL
Cách đây 20 năm, tôi bắt đầu tìm hiểu về một số công trình kiến trúc cổ tại Sài Gòn. Để có được nguồn tư liệu này, tôi đã tìm đến Chương trình Bảo tồn cảnh quan kiến trúc đô thị TP do kiến trúc sư (KTS) Lê Quang Ninh phụ trách để nhờ giúp đỡ. Tôi đã được các KTS trẻ ở đây nhiệt tình hỗ trợ với nhiều tư liệu giá trị mà họ có được từ nguồn lưu trữ của chế độ cũ và thậm chí họ còn sang Pháp để tiếp cận được cả các tư liệu gốc còn lưu trữ ngay tại Paris. Cũng rất tình cờ, đây là thời điểm chuẩn bị cho kỷ niệm 300 năm Sài Gòn – TP.HCM nên Nhà hát TP được đóng cửa để phục chế lớn, trả lại nguyên trạng như ban đầu, nhiều KTS của chương trình tham gia vào dự án này. Tôi còn được các anh thông tin và mời đến chứng kiến nhiều cột mốc cũng như các phát hiện mang tính lịch sử trong quá trình phục chế lại Nhà hát TP.
Chính nhờ may mắn đó mà tôi có dịp chứng kiến khá tường tận cuộc lột xác cuối thế kỷ 20 của Nhà hát TP và cảm nhận được sự thay đổi nhiều lần từ công năng cho đến nhan sắc của công trình, Nhà hát TP giống như một nàng thiếu nữ đẹp nhưng cuộc đời lại lắm truân chuyên.
Đứa con bị ghẻ lạnh
Trong cuốn Sài Gòn năm xưa, cụ Vương Hồng Sển đã cho biết ngay từ năm 1863, chỉ sau khi chiếm được thành Gia Định tầm bốn năm, Pháp đã đưa đoàn hát đầu tiên từ chính quốc sang biểu diễn phục vụ cho quan chức, sĩ quan, binh lính Pháp tại Sài Gòn. Do lúc đó chưa có rạp nên đoàn hát diễn tạm ở nhà gỗ của thủy sư đề đốc La Grandière, tại nơi gọi là Công trường Đồng Hồ (Place de l’Horloge) (góc Nguyễn Du – Đồng Khởi hiện nay).
Nhận thấy nhu cầu giải trí của người Pháp tăng cao, nhà hát được xây tạm tại lô đất đường Catinat, là chỗ khách sạn Caravelle bây giờ. Sau đó một thời gian bắt đầu khởi công xây dựng Nhà hát lớn vào năm 1898.
Mặc dù là một công trình để phục vụ cho người Pháp nhưng dự án lại không được chính người Pháp ở Sài Gòn ủng hộ, thậm chí rất nhiều ý kiến phản đối vì cho rằng nhà hát nhỏ (chưa đầy 600 ghế) mà chi phí lại quá lớn, tiêu tốn tới 2.500.000 francs nhưng dự án vẫn cứ được triển khai vì ông thị trưởng Paul Blanchy nghĩ khác. Ông cho rằng một TP lớn như Sài Gòn phải có nhà hát lớn dùng cho hoạt động văn hóa, xứng đáng với vị thế của nó.
Sau khi khánh thành, nhà hát được người dân Việt gọi là nhà hát Tây, vì chỉ biểu diễn cho Tây bởi các đoàn hát Tây. Việc mời các đoàn hát từ Pháp qua lấy từ ngân sách TP nên bị phản đối, thành ra ít biểu diễn, nhiều người muốn nhà hát trở thành nơi hòa nhạc. Trong hai cuộc chiến tranh thế giới, nhà hát hầu như bị bỏ không vì người Pháp ít có dịp tổ chức hay đi xem. Ngoài ra, năm 1944 nhà hát bị máy bay Đồng minh ném bom trúng hư hại, phải tu sửa khá lâu.

Quang cảnh khán phòng. Ảnh: TL
Cũng vì quá vắng và ít hoạt động trong bốn năm Thế chiến lần thứ I mà đến năm 1918, chính quyền TP đã cho phép Nhà hát lớn làm nơi trình diễn cho cả người Việt và nhờ vậy ngày 18-11-1918, lần đầu tiên người Việt Nam tổ chức biểu diễn tại Nhà hát TP với một màn trình diễn kịch pha cải lương.
Nhưng ngay cả việc có thêm các chương trình của người Việt cũng không cứu vãn được sự vắng vẻ, vì “khách ăn chơi bị các hộp đêm, quán ăn có nhạc, có khiêu vũ giúp vui thu hút gần hết, còn một mớ khác lại thích cine, chớp bóng nói, vừa lạ vừa hấp dẫn hơn” (Vương Hồng Sển).
Dung nhan theo thời gian
Khởi thủy có ba KTS đã nộp đồ án dự thi: Ferret, Genêt và Berger và Ferret đã thắng. Công trình được giao cho KTS Guichard thi công. Trên một diện tích xây dựng gần 3.200 m2, nhà hát được thi công một trệt, hai lầu với kiến trúc mặt tiền cũng như các họa tiết hoa văn khá giống bảo tàng Petit Palais tại Paris khánh thành cùng năm đó. Ngoài sân khấu chính với gần 600 chỗ ngồi, rạp được trang bị hệ thống ánh sáng hiện đại. Các họa tiết trang trí lẫn vật liệu xây dựng chính đều được đặt hàng sản xuất và vận chuyển từ Pháp qua.
Với kiến trúc kiểu cổ, với các phù điêu hoa văn và nhiều họa tiết, cùng với hai pho tượng nữ thần bán khỏa thân trước cửa vào theo phong cách Phục Hưng, dù nhận được nhiều lời khen nhưng sau này cũng không ít ý kiến chỉ trích là chi tiết rườm rà, nệ cổ… thế nên đến năm 1943 có đợt tu sửa lại nhà hát, rất nhiều họa tiết trang trí và cả hai pho tượng lớn cũng bị tháo dỡ nhằm tạo nên một bộ mặt hiện đại, trẻ trung và tươi mới cho Nhà hát TP.

Hai pho tượng Nữ thần bán khỏa thân phía trước cửa
Sau 1954, Nhà hát TP được chuyển công năng thành Tòa nhà Quốc hội, rồi Hạ nghị viện sau đó của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Người ta phải thay đổi lại bộ mặt cho phù hợp với công năng mới, các họa tiết hoa văn nhỏ tiếp tục bị dỡ hẳn, hàng cột tròn bị phá bỏ. Phần họa tiết trang trí hoa văn trên cửa đi vào được thay đổi thành các đường kẻ sọc ngang gây cảm giác như kinh tuyến và vĩ tuyến trên địa cầu. Lối kiến trúc tạo đường nét vuông vức để phù hợp với vị thế của một trụ sở hội họp chính trị.

Hạ Nghị Viện của Việt Nam Cộng hòa
Hơn 40 năm sau, kế hoạch phục chế Nhà hát TP lại quyết định phục dựng như nguyên bản ban đầu, tức là trả lại các hoa văn và tượng y như cũ. Sau 100 năm tồn tại và thay đổi, nay dung nhan của Nhà hát TP đã quay trở lại đẹp như thuở thanh xuân.
Trả lại đúng công năng của nhà hát
Được tạo ra với mong muốn thành nơi biểu diễn nghệ thuật sân khấu, đã có lúc vì vắng vẻ mà nhà hát đã bị đề nghị biến trở thành nơi hòa nhạc. Lần chuyển công năng lớn nhất chính là biến thành Hạ nghị viện giai đoạn 1955-1975, suốt 20 năm Nhà hát TP chỉ làm công việc phục vụ chính trị.
Sau 1975, nhà hát được trả lại công năng cũ là biểu diễn các chương trình nghệ thuật sân khấu, hòa nhạc, thậm chí cả biểu diễn xiếc… nhưng lại vẫn tiếp tục bị kèm thêm công năng phụ để phục vụ chính trị, đó là dùng để làm các cuộc hội họp, mít-tinh chính trị thường xuyên.
Nhiều chuyên gia đã lên tiếng không đồng tình vì cho rằng việc tổ chức hội họp chính trị trong khuôn viên của một nhà hát là không phù hợp, chưa kể nếu có chương trình biểu diễn ban đêm mà ban ngày dùng hội họp thì chương trình không thể tập dợt, phối hợp với nhau vì mất chỗ…
Có người lý giải rằng các đại biểu thích họp ở Nhà hát TP hơn vì ngoài vị trí ở ngay trung tâm TP còn do khi thiết kế nhà hát đã làm cao hơn nền đường 2 m với hàng tam cấp mấy chục bậc ngay trước cửa chính. Khi tan họp bước ra, từ vị trí trên cao này nhìn ra bao quát cả một tầm nhìn rộng lớn công viên hướng về đường Lê Lợi – Nguyễn Huệ, nhìn dòng xe xuôi ngược trục đường Đồng Khởi với chung cư Eden, khách sạn Continental với Caravelle… bao quanh tạo nên một tầm nhìn cực đẹp hiếm có. Thú thật là tôi cũng không biết lý do này có đúng thật không nhưng cũng chưa tìm ra lý do nào khác.
Đến khi hoàn thành việc phục chế nhà hát năm 1998, các cuộc hội họp chính trị đã không còn được tổ chức tại đây nữa. Lý do là hai pho tượng nữ thần bán khỏa thân bằng đá trước cửa nhà hát đã được phục chế, trả lại không gian nhà hát đúng với công năng biểu diễn nghệ thuật, không phù hợp với mục đích chính trị nữa.

Tôi vẫn còn nhớ cuộc điện thoại gọi tới của các KTS trẻ với giọng nói đầy vẻ vui mừng, nhắn tôi tới ngay Nhà hát TP để chứng kiến một điều vô cùng đặc biệt: Đó là khi những người thợ bắt đầu đập bỏ lớp phù điêu trang trí ở mặt trước của nhà hát, họ đã ngỡ ngàng khi những lớp vữa và gạch rơi xuống thì phía sau đã lộ ra một lớp phù điêu khác còn nguyên vẹn.
Thì ra khi tu sửa Nhà hát TP năm 1955, những KTS lúc đó đã không nỡ đập bỏ lớp phù điêu nguyên thủy hay dùng vữa đắp đè lên nó mà họ chọn giải pháp xây một bức tường cách phù điêu cũ 20 cm để giữ gìn nguyên trạng. Có lẽ họ cũng hình dung một ngày nào đó trong tương lai, nếu nhà hát được phục chế như cũ thì hậu thế không phải mất công sức lẫn tiền bạc cho lớp phù điêu này.
Phạm Trường Giang
Nguồn: Người Đô Thị
NHẶT HOA TRÊN NET /BÁO DAN TRÍ VỀ 2 VUA NHÀ LÊ
Nơi yên nghỉ của hai vị vua cùng lấy Thái hậu Dương Vân Nga
(Dân trí) - Vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành cùng lấy Thái hậu Dương Vân Nga làm vợ. Khi mất, thi hài các vị vua được chôn cất, thờ phụng ở Cố đô Hoa Lư, người yên nghỉ trên đỉnh núi, người dưới chân núi.

Lăng mộ vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành hiện nay đều nằm trong Khu di tích lịch sử - văn hóa quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư (xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, Ninh Bình). Nơi an nghỉ của hai nhà vua đều nằm trong khu vực núi Mã Yên - Núi có hình dáng tựa như một con ngựa, nằm trong khu thành ngoại của kinh đô Hoa Lư xưa.


Vua Đinh Tiên Hoàng (trái) và vua Lê Đại Hành (phải) là những vị vua đầu tiên của Việt Nam. Trong đó, vua Đinh Tiên Hoàng là người dẹp loạn 12 sứ quân lên ngôi hoàng đế, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt - Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên ở Việt Nam.
Vua Lê Đại Hành, người xây dựng nhà nước Đại Cồ Việt vững mạnh, đánh đuổi giặc phương Bắc, giữ yên bờ cõi nước ta, cho đến đời vua Lý Công Uẩn mới dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long (Hà Nội ngày nay).

Hai vị vua Đinh - Lê sau khi băng hà đều được chôn cất trong kinh thành Hoa Lư (nay là Cố đô Hoa Lư). Có điều khác biệt, lăng mộ vua Đinh Tiên Hoàng thì ở trên đỉnh núi Mã Yên, còn nơi yên nghỉ của vua Lê Đại Hành thì nằm dưới chân núi.
Điều khiến hai vị vua này trở nên đặc biệt nhất trong các triều đại phong kiến của Việt Nam là cùng lấy một người, Thái hậu Dương Vân Nga.

Để đến được lăng mộ vua Đinh Tiên Hoàng phải vượt qua hơn 200 bậc đá. Nơi nhà vua an nghỉ trên đỉnh núi Mã Yên có thể phóng tầm mắt bao quát toàn cảnh Cố đô Hoa Lư với núi, sông, ruộng đồng, làng mạc quần tụ xung quanh tạo nên một thắng cảnh hữu tình, thơ mộng.

Ngay dưới chân núi Mã Yên, lăng vua Lê được xây dựng trong khuôn viên khá rộng nhìn ra cánh đồng xứ Hậu đường, xung quanh xây tường bảo vệ. Lăng vua Lê cũng được xây theo kiểu cuốn vòm, trang trí họa tiết lưỡng long chầu lá đề và mặt hổ phù.
Phía sau lăng, trên một mỏm đá cao, sát chân núi có dựng một văn bia. Nội dung văn bia ghi: Lê Đại Hành hoàng đế lăng, Minh Mệnh nhị thập nhất niên, ngũ nguyệt, sơ nhị nhật, sắc kiến (dịch nghĩa: Lăng của vua Lê Đại Hành được phụng chỉ xây dựng vào ngày mồng 2 tháng 5 năm 1840).


Vào thế kỷ X, dưới triều Đinh - Tiền Lê, núi Mã Yên là ngọn núi có vị trí chiến lược của kinh thành Hoa Lư. Đây cũng là nơi linh thiêng, vì thế đã được làm nơi an nghỉ vĩnh hằng của hai vị anh hùng dân tộc, những người xây dựng Nhà nước Đại Cồ Việt vững chắc hơn 1.000 năm trước.
Theo quan niệm của người xưa, lăng vua Đinh, vua Lê đều được đặt vào nơi được gọi là "huyệt đế vương".

Theo các tài liệu còn lưu giữ tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư, sau khi vua Đinh băng hà vào năm Kỷ Mão (năm 979), quần thần đã đưa linh cữu của Tiên đế an táng tại đỉnh núi Mã Yên để đề cao tinh thần thượng võ của nhà vua. Đại Việt sử ký toàn thư có chép: "Rước linh cữu của Tiên Hoàng đế về chôn ở sơn lăng Trường Yên".
Khi vua Lê Đại Hành băng hà, quần thần cũng an táng về phía nam dưới chân núi Mã Yên, lăng dựa lưng vào núi Mã Yên làm hậu chẩm, tả hữu có hai dãy núi chạy dọc tạo hình thế tay ngai nên còn được gọi là Hoàn Ỷ sơn.

Mỗi năm có hàng triệu lượt du khách đến tham quan Khu di tích lịch sử - văn hóa quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư. Ngoài tham quan đền thờ vua Đinh vua Lê, du khách còn đến núi Mã Yên tham quan lăng mộ hai nhà vua đặc biệt nhất các triều đại phong kiến của Việt Nam.









