THAY LỜI CHÀO MỪNG!

THAY LỜI CHÀO MỪNG!

LỜI CHÀO MỪNG

CẢM ƠN QUÝ THÂN HỮU ĐÃ MỞ CỬA VÀO NGÔI NHÀ ĐƠN SƠ "QUA DẤU BỤI THỜI GIAN" CỦA
TRẦN KIÊU BẠC.




Sunday, November 6, 2011

MUỘN MÀNG TÌM LẠI HƯƠNG XƯA



Đêm một mình thiếu chút đậm cà phê
Nên đa mang hoài mùi hương Phú Nhuận
Hương quen quẩn quanh trong chiều tắt nắng
Bám vạt áo em đến cuối ngõ về!


Chia tay hôm nào, đâu biết chia ly
Chưa kịp nhốt hương trong bàn tay nhỏ
Để hương bay đi cuối trời thương nhớ
Mắt không dối lòng ướt đẩm khăn tay


Hương ngày xưa còn lẩn khuất đâu đây
Hay đã chia xa ngoài tầm tay với?
Saigòn ơi! Xin vì người ngóng đợi
Giữ giùm chút hương Phú Nhuận muộn màng.

TRẦN KIÊU BẠC
ĐÊM MỘT MÌNH VỚI VÀNG THU ÁO LỤA



Thật tình anh không biết Thu đi có mang em theo không
Hay Thu lại giấu em trong màu lá úa
Không thấy em cười trong dịu mềm áo lụa
Tưởng rừng Thu gom lá nhuộm áo vàng em


Không còn Thu, không còn em, chỉ còn đêm
Ai đổ lá dọc đường cho tình mình xuôi ngược
Ai gom lá kết hình trái tim mừng hạnh phúc
Hay chỉ đêm một mình đau đáu những chờ mong


Thu đi rồi khoang nhớ như rộng thêm
Vẫn hạn hẹp mời áo vàng ở lại
Mỗi phân vuông trên da còn trống trải
Trách gì đêm - dài -vắng -lạnh -lặng im


Thu đi đâu, em về đâu trong gió bạt ngàn
Thu trở lại, em có về theo xác lá?
Thu vàng ơi , áo vàng ơi, đêm sao dài quá!
Đêm lại một mình đầy ắp áo vàng Thu.


TRẦN KIÊU BẠC
XA MẸ



Cầm theo ve Nhị Thiên Đường


Dầu còn phân nửa, tình thương Mẹ đầy


Xa quê đếm chuổi ngày dài


Ve dầu nhỏ xíu giữ hoài bên lưng.

TRẦN KIÊU BẠC

NHẶT HOA TRÊN NET

CẢM ƠN CUỘC SỐNG




*Nếu bạn thấy đêm nay khó ngủ - Cứ nghĩ đến những kẻ không nhà chẳng nệm ấm chăn êm.


*Nếu bạn gặp một ngày tồi tệ nơi làm việc - Hãy nghĩ đến những người đã mấy tháng nay không tìm được việc làm.


*Nếu bạn chán nản vì mối quan hệ xấu đi - Hãy nghĩ tới những kẻ không bao giờ biết hương vị của thương yêu và được người yêu thương lại.


*Nếu bạn buồn phiền vì thêm một cuối tuần vô vị trôi qua - Hãy nghĩ tới những người phụ nữ quẫn bách, quần quật cả ngày, suốt tuần không nghĩ, chỉ mong kiếm được chút tiền còm nuôi mấy miệng ăn.


*Nếu bạn hỏng xe dọc đường, phải cuốc bộ vài dặm vài mới tìm ra được người giúp đở - Hãy nghĩ tới những ai liệt cả đôi chân, luôn khao khát được bước đi như bạn.


*Nếu bạn cảm thây đời mình bị mất mác và băn khoăn về ý nghĩa kiếp người - Xin bạn hãy biết ơn cuộc sống vì có nhiều người đã không được sống hết tuổi trẻ của mình để có những trải nghiệm như bạn.


*Nếu bạn cảm thấy mình là nạn nhân của những ai hay cay nghiệt, dốt nát, nhỏ nhen, nghi kỵ - Hãy nhớ rằng việc đời có khi còn tệ hại hơn thế rất nhiều.


*Nếu bạn quyết định chuyển những lời nàyđến một người bạn yêu mến, có thể bạn giúp cho ai đó một ngày thanh thản nhẹ nhàng.
ĐÊM CHỢT NHỚ QUÊ NHÀ



Đêm một mình, buồn, chợt nhớ Tây Ninh
Viết một mạch tám lá thư thăm hỏi
Đến mỏi tay chưa nói được điều mình muốn nói
Cái nhớ cấu cào, khoảng tối vẫn lặng câm


Đâu có ngờ thoáng đã quá mười năm
Chỗ ngồi lúc chia tay chắc còn nóng hổi
Cầm tay chị em mà thương quá đỗi
Những cảnh đời thân thiết đã xa xăm


Xa dẫu xa mà như đã về thăm
Trong đêm mơ hay vài giây ngủ gật
Những lúc mừng thấy gần Tây Ninh nhất
Là lúc qua mau và tiếc nhớ thật lâu


Làm sao giữ êm làn nước chảy qua cầu
Sao cho gió đừng làm cay mắt ướt
Để chỉ cách xa Gò Dầu đôi bước
Tung tăng nắm tay Mẹ đến trường làng


Đêm trở mình, buồn, chợt nhớ bâng khuâng
Lãng đãng sông quê, sương dầm ướt cỏ
Ai thả cung buồn theo chiều lộng gió
Chấp chới cánh diều bay vút tuổi thơ


Ai ngóng chờ ai? Ai sẽ đợi chờ?
Hay có lúc mình trở về bất chợt?
Vun kỷ niệm cho lên màu xanh mướt

Thư gởi rồi, còn neo lại chút Tây Ninh!


TRẦN KIÊU BẠC
ĐỂ HỒN TRÔI VỀ NĂM THÁNG CŨ




Đêm đang ru hồn lặng lẽ tháng Giêng
Một tiếng phone reo nghe chừng xa lạ
Tiếng bên kia giòn tan cười trẻ quá
Giọng bạn bè độ lượng như vầng trăng


Thế là mình đã qua mấy chục năm
Những sợi nhớ rơi buồn theo năm tháng
Chạm ngón chân đau một thời quên lãng
Kỷ niệm nào còn xếp sóng hình Sin


Mình trở về trong khói sóng lênh đênh
Buổi sáng nhớ nhung đầy sân phiền muộn
Đêm phấn mịn thoa sạch hơi sương sớm
Cho mai nầy cao vút một đường bay


Mình trở về đây Ký Túc Xá ơi!
Cảm ơn tiếng phone gọi mình thức tỉnh
Đầu dây bên kia tiếng cười lanh lảnh
Còn rất đông khuôn mặt sáng trăng rằm


Giá thời gian quay ngược vài chục năm
Đêm chắc còn sáng đèn ô cửa kính
Ngày đầy tiếng chim khi trời vừa sáng
Trưa có người ngủ quên góc thư viện buồn


Đêm tháng Giêng lặng lẽ một vầng trăng
Lại như có trăm người trăm tiếng nói
Bạn mình ơi! Đâu ngày mình trẻ tuổi
Gặp nhau bây giờ, mai mốt gặp nhau không?

TRẦN KIÊU BẠC
ĐAU ĐÁU VỀ MỘT PHƯƠNG


Đêm dài thao thức nhớ quê hương
Giờ đã quan san vạn dặm trường
Có phải xa xôi lòng vẫn nhớ
Hay là chia biệt dạ còn vương
Bao lần mong dứt dù thương ghét
Lắm bận muốn về mặc ghét thương
Đau đáu một phương hồn viễn xứ
Quê nhà vẫn nhớ dẫu hai phương!

TRẦN KIÊU BẠC
ĐẶT TÊN CHO NỖI NHỚ



Một ngày bình thường có hai mươi bốn giờ
Em nhớ anh nên thấy còn thiếu lắm
Gom góp từng giây thời gian đi chậm
Dành dụm từng giờ ngày lại qua nhanh


Có khi phone vô cớ đổ âm thanh
Bên kia đầu dây tiếng vang không rõ
Tưởng là anh mà ai kêu nhầm số
Em lại phí đi vài giây nhớ êm đềm


Em tự đặt tên là nỗi nhớ bóng đêm
Không nhìn nhau mà thấy nhau rõ nhất
Nhớ cài lên tóc em như đồ trang sức
Như phấn hồng như son đỏ trên môi


Em tự đặt tên là nỗi nhớ mồ côi
Bên em nhớ, chắc gì bên anh nhớ
Anh với em mỗi người riêng hơi thở
Biết bao giời hơi thở hết chia riêng


Em tự đặt tên là nỗi nhớ thói quen
Lúc muốn quên, thói quen gây mình nhớ
Vậy là nhớ kết thành chùm hoa nở
Treo lên tim chẳng ngơi nghỉ giây nào


Em tự đặt tên là nỗi nhớ tiêu hao
Nhớ một chút em gầy đi nhiều chút
Có lẽ vì em chắt chiu từng giây từng phút
Thương gởi cho anh cái nhớ ngọt ngào


Còn bây giờ là nỗi nhớ chiêm bao
Ngày cũng thấy đêm nằm mơ cũng thấy
Thả chùm nhớ vào tâm hồn không đáy
Mới biết rằng nỗi nhớ thật mênh mông!

TRẦN KIÊU BẠC

NHẶT HOA TRÊN NET

Bài văn lạ gây “sốc”



với giáo viên trường Ams!

“Trời ơi là trời ! Anh ăn đi cho tôi nhờ, đừng có nhịn ăn sáng nữa. Đừng có dở hơi đi tiết kiệm mấy đồng bạc lẻ thế, anh tưởng rằng thiếu tiền như thế thì tôi chết à ?”.
Đó là những “điệp khúc” mẹ cất lên hàng ngày dạo gần đây vì con quyết định nhịn ăn sáng đi học để tiết kiệm chút tiền cho mẹ, cho gia đình. Có lúc mẹ còn gắt lên, hỏi con “Sao cứ phải đắn đo khổ sở về tiền đến thế nhỉ ?” .
Trên đây là bài văn của học trò Nguyễn Trung Hiếu, hiện là học sinh lớp 11 chuyên lý, trường trường Ams (THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam). Bài văn “lạ” trước hết bởi đề bài văn nghị luận cô giao là “Nêu quan điểm của anh (chị) về vai trò của đồng tiền trong cuộc sống”, thay vì trình bày chung các quan điểm thì Hiếu đã lấy ngay câu chuyện thật đang phải trải qua của gia đình mình để nhìn nhận, phân tích vai trò của đồng tiền.
Bài văn của em đã lật tung quan niệm bấy lâu nay của nhiều người coi trường Ams là trường “của con nhà giàu” (!?). Nhìn cách tiêu xài hay xe cộ sử dụng để đến trường của một bộ phận học sinh trường Ams, rất nhiều người cứ nhầm tưởng như thế. Chỉ những thày cô giáo đang công tác ở trường Ams mới hiểu rõ đó là ngộ nhận. Trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam là nơi quy tụ các học sinh giỏi, còn trong hàng nghìn học sinh đang theo học ở trường cũng có rất nhiều hoàn cảnh, số phận. Và trường hợp em Nguyễn Trung Hiếu là một ví dụ.
Tuy nhiên, bài văn của Hiếu cũng đã gây “sốc” với ngay chính nhiều thày cô đang giảng dạy tại trường bởi hoàn cảnh của gia đình em. Và hơn thế, các thày cô rất khâm phục ý chí nghị lực của cậu học trò nghèo nhưng học giỏi này. Hiếu chưa nằm trong tốp học sinh xuất sắc của trường, nhưng cũng là một học sinh khá thông minh. Năm học vừa qua em đã đoạt giải nhì trong kì thi Olympic vật lí và cuối năm được cô giáo chủ nhiệm nhận xét trong học bạ là học sinh học giỏi đều các môn học.
Đến thăm gia đình em mới thấy hoàn cảnh gia đình quả rất khó khăn. Mẹ Hiếu (chị Nguyễn Thị Hạnh) bị suy thận mãn tính nặng phải chạy thận đã 8 năm. Bố Hiếu (anh Nguyễn Xuân Sơn) sức khỏe kém, theo bà nội em kể thì bố em từ nhỏ bị viêm tai giữa, đến khi phát hiện máu chảy ra đằng tai mới cho đến bệnh viện thì đã muộn, bác sĩ nói đã “ăn vào não” và để lại di chứng là trí nhớ và sức khỏe bị giảm sút, không có khả năng lao động. Bà nội Hiếu đã cao tuổi mắt lòa. Mọi chi tiêu cho 5 người trong gia đình Hiếu ở giữa Hà Nội trong thời buổi giá cả leo thang đều chủ yếu trông chờ ở số lương hưu ít ỏi của ông nội em - một cựu quân nhân hiện đang ốm nằm liệt giường…

Cảm thông với gia cảnh của em, Ban giám hiệu nhà trường đã phát động phong trào “Nhà giáo trường Ams đỡ đầu cho học sinh nghèo, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt”. Sau một tháng triển khai, tính đến trung tuần tháng 10/2011, ban vận động đã nhận quyên góp và chuyển tới em Nguyễn Trung Hiếu số tiền là 12,9 triệu đồng và một bộ laptop. Ngoài ra, để có nguồn tài chính ổn định và giúp em Hiếu có điều kiện học tập nâng cao trình độ các thày cô còn có hình thức chia sẻ phong phú khác như trích lương “tặng hàng tháng” cho em Hiếu 450 ngàn đồng; thày Nguyễn Trọng Tuấn nguyên hiệu phó nhà trường cam kết cho em Hiếu vay hàng tháng 500 ngàn đồng cho đến khi học hết lớp 12; còn cô Nguyễn Thúy Hằng giáo viên toán thì tặng em một suất học bổng cho tất cả các môn học ở trung tâm “Học mãi”… Hiện nay cuộc vận động vẫn tiếp tục được triển khai.

Nguyễn Trung Hiếu cho biết em rất xúc động trước tình cảm các thày cô dành cho em và gia đình. Em không còn phải nhịn ăn sáng để đi học nữa. Em tự hứa sẽ thật cố gắng để giành thành tích cao hơn trong học tập nhằm vượt lên số phận và để ngày mai lập nghiệp, không phụ lòng mong mỏi của các thày cô, của gia đình…

Vũ Quốc Lịch
(Giáo viên trường THPT chuyên Hà Nội Amsterdam)

*Dưới đây là bài văn của Hiếu đã gây “sốc” với giáo viên trường THPT Hà Nội - Amsterdam.

Thư gửi mẹ.


Mẹ thân yêu của con !


“Trời ơi là trời ! Anh ăn đi cho tôi nhờ, đừng có nhịn ăn sáng nữa. Đừng có dở hơi đi tiết kiệm mấy đồng bạc lẻ thế, anh tưởng rằng thiếu tiền như thế thì tôi chết à ?”. Đó là những “điệp khúc” mẹ cất lên hàng ngày dạo gần đây vì con quyết định nhịn ăn sáng đi học để tiết kiệm chút tiền cho mẹ, cho gia đình. Có lúc mẹ còn gắt lên, hỏi con “Sao cứ phải đắn đo khổ sở về tiền đến thế nhỉ ?” .


Mẹ ơi, những lúc ấy mẹ đang giận nên con không dám cãi lại. Nhưng giờ đây con muốn được bày tỏ lòng mình rằng tại sao con lại có những suy nghĩ, hành động kì lạ như vậy. Vâng, tất cả là vì tiền. Chỉ đến tận bây giờ con mới nhận ra cả một quãng thời gian dài trước đó con đã non nớt, ngây thơ biết chừng nào khi nghĩ về tiền. Cách đây 8 năm bệnh viện đã chuẩn đoán mẹ bị suy thận mãn tính độ 4 (độ cao nhất về suy thận). 8 năm rồi nhà ta đã sống trong túng thiếu bần hàn, vì bố mẹ không kiếm được nhiều tiền lại phải dành tiền cho mẹ đi chạy thận. Nhưng bố mẹ vẫn cho con tất cả những gì có thể, và cậu bé học trò như con cứ vô tư đâu biết lo gì.


Hồi học tiểu học, tiền bạc đối với con là một cái gì đó rất nhỏ, nó là những tờ giấy với đủ màu có thể dùng để mua cái bánh, cái kẹo, gói xôi hay cái bánh mì … Con đâu có ngờ tiền chính là yếu tố quyết định sinh mạng mẹ mình, là thứ bố mẹ phải hàng ngày chắt bóp và bao người thân gom góp lại để trả cho từng ca lọc máu cho mẹ tại bệnh viện Bạch Mai, là thứ càng làm mẹ thêm đau đầu suy nghĩ khi mẹ buộc phải nghỉ việc làm vì điều kiện sức khỏe không cho phép.


Rồi đến khi con học lớp 8, mẹ càng ngày càng yếu và mệt, phải tăng từ 2 lên 3 lần lọc máu/ tuần. Những chỗ chích ven tay của mẹ sưng to như hai quả trứng gà, nhiều hôm máu thấm ướt đẫm cả tấm băng gạc. Do ảnh hưởng từ suy thận mà mẹ còn bị thêm viêm phổi và suy tim. Rồi ông lại bị ốm nặng, bố phải nghỉ việc ở nhà trông ông, nhà mình vì thế càng trở nên túng quẫn, mà càng túng thì càng khổ hơn. Tờ một trăm ngàn hồi ấy là một thứ gì đó xa xỉ với nhà mình. Cũng từ dạo ấy, đầu óc non nớt của con mới dần vỡ lẽ ra rằng tiền bạc chính là mồ hôi, nước mắt, là máu (theo đúng nghĩa đen của nó, vì có tiền mới được chạy thận lọc máu mà) và bao nỗi niềm trăn trở lo lắng của bố và mẹ.


Hôm trước con có hỏi quan điểm của mẹ về tiền bạc thế nào để con có thêm ý viết bài làm văn nghị luận cô giao. Mẹ hơi ngạc nhiên vì câu hỏi đường đột ấy. Rồi mẹ chỉ trả lời với 3 từ gọn lỏn “Mẹ ghét tiền”. Nếu con còn thơ dại như ngày nào, hay như một người ngoài nào khác thì chắc con đã ngạc nhiên lắm. Nhưng giờ đây con cũng đồng ý với mẹ : con cũng ghét tiền. Bởi vì nó mà mẹ phải mệt mỏi rã rời sau mỗi lần đi chạy thận. Mẹ chạy thận 3 lần mỗi tuần, trước đây bố đưa đón mẹ bằng xe đạp nhưng rồi mẹ bảo đi thế khổ cả hai người mà còn phải chờ đợi mất ngày mất buổi của bố nữa nên mẹ chuyển sang đi xe ôm. Nhưng đi xe ôm mất mỗi ngày mấy chục, tốn tiền mà lại chẳng kiếm đâu ra, mẹ quyết định đi xe buýt. Mỗi khi về nhà, mẹ thở hổn hển, mẹ lăn ra giường lịm đi không nói được câu gì. Con và bố cũng biết là lúc ấy không nên hỏi chuyện mà nên để yên cho mẹ nghỉ ngơi. Tám năm rồi, tám năm chứng kiến cảnh ấy nhưng con vẫn chưa bao giờ có thể quen được. Con chỉ biết đứng từ xa nhìn mẹ, và nghiến răng ước “giá như có dăm chục ngàn cho mẹ đi xe ôm thì đâu đến nỗi !”.


Con bỗng ghét, thù đồng tiền. Con bỗng nhớ hồi trước, khi mẹ vẫn nằm trong viện. Ba người bệnh chen chúc chung nhau một chiếc giường nhỏ trong căn phòng bệnh ngột ngạt và quá tải của bệnh viện Bạch Mai. Con đã ngây thơ hỏi mẹ “Sao mẹ không vào phòng bên kia, ở đấy mỗi người một giường thoải mái lại có quạt chạy vù vù, có tivi nữa ?”. Mẹ chỉ nói khẽ “cha tổ anh. Đấy là phòng dịch vụ con ạ”. Con lúc ấy chẳng hiểu gì. Nhưng rồi con cũng vỡ lẽ ra rằng đó là phòng mà chỉ những ai rủng rỉnh tiền thì mới được vào mà thôi. Còn như mẹ thì không được. Con căm nghét đồng tiền vì thế.


Con còn sợ đồng tiền nữa. Mẹ hiểu con không ? Con sợ nó vì sợ mất mẹ. Mẹ đã phải bốn lần đi cấp cứu rồi. Những người suy thận lâu có nguy cơ tử vong cao vì huyết áp dễ tăng, máu dồn vào dễ làm tắc ống khí quản và gây tắc thở. Mẹ thừa biết điều này. Nhiều người bạn mẹ quen trong “xóm chạy thận” đã phải chịu những cái kết bi thảm như thế. Nhiều đêm con bỗng choàng tỉnh dậy, mồ hôi đầm đìa mà lạnh toát sống lưng bởi vừa trải qua một cơn ác mộng tồi tệ …


Con sợ mẹ lại phải đi cấp cứu, và sợ nhỡ nhà mình không đủ tiền để nộp viện phí thì con sẽ mất đi người thân yêu nhất trong cuộc đời này. Mỗi buổi mẹ đi chạy thận là mỗi buổi cả bố và con đều phấp phỏng, bồn chồn, lo lắng. Mẹ về muộn là lòng con nóng như lửa đốt, còn bố thì cứ đi đi lại lại và luôn hỏi “bao giờ mẹ mày mới về?”. Với con cơ hội là 50/50, hoặc là mẹ chạy thận an toàn và về nhà, hoặc là…


Con lo sợ hơn khi đọc báo thấy bảo có người không đủ tiền trả phần ít ỏi chỉ là 5% bảo hiểm y tế, tiền thuốc men mà phải về quê “tự điều trị”. Với những bệnh nhân phải chạy thận, như thế đồng nghĩa là nhận bản án tử hình, không còn đường sống. Con bỗng hoảng sợ tự hỏi nếu không còn BHYT nữa thì sao? Và nếu ông mất thì sao? Chi tiêu hàng ngày nhà mình giờ đây phần nhiều trông chờ vào tiền lương hưu của ông, mà ông thì đã già quá rồi…


Mẹ ơi, tiền quan trọng đến thế nào với gia đình mình thì chắc mẹ hiểu rõ hơn con. Cứ nghĩ đến tiền là con lại nhớ đến những đêm bố mất ngủ đến rạc cả người, nhớ đến những vết chích ven sưng to như quả trứng gà của mẹ, nhớ đến cả thìa đường pha cốc nước nóng con mang cho mẹ để mẹ uống bồi bổ mỗi tối. Mẹ chắt chiu đến mức sữa ông thọ rẻ tiền mà cũng không mua để tự bồi dưỡng sức khỏe cho mình.


Con sợ tiền mà lại muốn có tiền. Con ghét tiền mà lại quý tiền nữa mẹ ạ. Con quý tiền và tôn trọng tiền bởi con luôn biết ơn những người hảo tâm đã giúp nhà mình. Từ những nhà sư tốt bụng mời mẹ đến chùa vào cuối tuần, những cô bác ở Hội chữ thập đỏ quyên góp tiền giúp mẹ và gia đình mình. Và cả những người bạn xung quanh con, dù chưa giúp gì được về vật chất, tiền bạc nhưng luôn quan tâm hỏi thăm sức khỏe của mẹ… Nhờ họ mà con cảm thấy ấm lòng hơn, vững tin hơn.


Con cảm thấy bất lực ghê gớm và rất cắn rứt lương tâm khi mẹ không đồng ý với các kế hoạch của con. Đã có lúc con đòi đi lao động, đi làm gia sư hay đi bán bánh mì “tam giác” như mấy anh sinh viên con quen để kiếm tiền giúp mẹ nhưng mẹ cứ gạt phăng đi. Mẹ cứ một mực “tống” con đến trường và bảo mẹ chỉ cần con học giỏi thôi, con giỏi thì mẹ sẽ khỏe.


Vâng, con xin nghe lời mẹ. Con vẫn đến trường. Con sẽ cố gắng học thật giỏi để mẹ và bố vui lòng. Nhưng mẹ hãy để con giúp mẹ, con đã nghĩ kĩ rồi, không làm gì thêm được thì con sẽ nhịn ăn sáng để tiết kiệm tiền. Không bán bánh mì được thì con sẽ ăn cơm với muối vừng. Mẹ đừng lo mẹ ạ, mẹ hãy an tâm chạy chữa và chăm sóc cho bản thân mình. Hãy để con được chia sẻ sự túng thiếu tiền bạc cùng bố mẹ. Vậy con khẩn thiết xin mẹ đừng cằn nhằn la mắng con khi con nhịn ăn sáng. Mẹ đừng cấm đoán con khi con đi lấy chầy, cối để giã lạc vừng. Dù con đã sút 8 cân so với năm ngoái nhưng con tin rằng với sự thấu hiểu lẫn nhau giữa những người trong gia đình thì nhà ta vẫn có thể sống yên ổn để đồng tiền không thể đóng vai trò cốt yếu trong việc quyết định hạnh phúc nữa.


Đứa con ngốc nghếch của mẹ

Nguyễn Trung Hiếu

Saturday, November 5, 2011

DÃ QUỲ CAO NGUYÊN


Còn mang trên vai nhan sắc dã quỳ
Dẫu đã xa ngàn phố cao nguyên cũ
Phố mãi lấm lem dốc cao bụi đỏ
Dã quỳ vẫn in lớp lớp hoa vàng

Ôm trong lòng nỗi nhớ nhiều ngăn
Rừng hoa dại nhốt trong ngăn lớn nhất
Chờ gió rơi vào rượu cần say khướt
Sắc vàng rung lên nỗi nhớ dã quỳ

Nắng lao xao, trời xanh thắt lòng ai
Tiếc một nỗi màu xanh không chạm đất
Để dã quỳ nằm sóng soài chờ nắng tắt
Một mình hoa vàng trong bụi đỏ không tan

Nhớ vẫn không cùng thương vẫn miên man
Gùi trên lưng, ngô đầy khố xanh khố đỏ
Sao không gùi theo sắc vàng hoa thương nhớ
Để thị thành vắng mãi sắc vàng tươi?

Dã quỳ cao nguyên chỉ gặp một lần thôi
Sắc vàng lạ kỳ theo người cùng năm tháng...


TRẦN KIÊU BẠC
BÀI THƠ BIỂN CÁT


Có lần đi dạo chơi quanh biển
Nghe cát gọi nhau dưới chân mình
Bọt nước lao xao như ẩn hiện
Sóng trắng chồm lên khúc biển xanh


Biển mãi xanh ôm lòng cát trắng
Cát in, biển xóa vết chân người
Hai cách để người tin chung thủy
Mất còn hạnh phúc vẫn chia đôi


Tháng năm làm biển dần thay đổi
Cát sẽ không còn tiếng gọi nhau
Chân giẫm đau, cát buồn không nói
Chỉ thấy ngàn xanh biển hóa dâu


Có bài hát nào ca ngợi cát
Biển tràn ngập cát chẳng thèm đau
Cát vẫn hồn nhiên cười bát ngát
Mặc cho sóng vỗ đến bạc đầu!


TRẦN KIÊU BẠC

Saturday, October 22, 2011


VỐC NƯỚC MƯA LẠI NHỚ



Nghe mưa lại nhớ Sàigòn
Tiếng rao khuya vẫn như còn dư âm
Mưa về không chút phân vân
Cứ rơi từng hạt rơi dần thâu đêm
Rót qua góc nhỏ im lìm
Mưa đi vaò chốn tịnh yên phố buồn
Trong mưa có khúc đoạn trường
Cho tình nhân rớt nụ hôn vội vàng
Như ai choàng tấm khăn voan
Mỏng như tơ lụa giăng màn quanh đây
Chỉ vừa ướt lạnh đôi vai
Mưa như ngắn lại để dài nhớ thương
Hạt mưa chen chật phố phường
Thấy mưa như thấy người thương trong đời
Những hạt mưa khúc khích cười
Vốc nước mưa nhớ không nguôi Sàigòn.

TRẦN KIÊU BẠC

NHẶT HOA TRÊN NET

BÙI GIÁNG : THƠ TIÊN HAY THƠ ĐIÊN?

Bài Viết : NGUYÊN NGỌC
Trước khi Sài Gòn sụp đổ, tôi đã có một thời gian dài sống tại Lăng Cha Cả, gần nhà thờ Tân Sa Châu. Để đến được trung tâm Sài Gòn, từ khu này phải đi qua những con đường Trương Minh Ký – Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sĩ). Ở đoạn chân cầu Trương Minh Giảng có một cái chợ mang cùng tên và sau này, ở bên kia đường, Đại học Vạn Hạnh của Phật giáo được xây dựng. Có một thời, đây là nơi nhà thơ Bùi Giáng thường xuất hiện. Phan Nhiên Hạo trong bài viết Bùi Giáng Như Tôi Thấy có nhiều chi tiết khá lý thú:
Ông là một nhân vật khá nổi đình đám ở khu vực cầu Trương Minh Giảng. Có những buổi chiều đông đặc xe cộ, tôi ngồi uống cà phê bên đường nhìn ông đứng làm cảnh sát giao thông nơi đầu cầu Trương Minh Giảng. Ông đội một chiếc quần lót đỏ chói trên đầu, áo quần te tua, tay cầm chiếc roi tre dài, xoay ngang xoay dọc chỉ đường cho xe cộ. Người ta đi qua, cố gắng tránh xa ngọn roi tre dài, nhưng không ai chú ý đến ông. Ông loay hoay như vậy giữa dòng xe cộ hàng giờ liền, rồi chán, bỏ đi.
Có lần tôi thấy ông mặc một chiếc áo chim cò rộng thùng thình. Chiếc áo rất mới có vẻ hàng ngoại đắt tiền, chắc ai đó ở nước ngoài về tặng ông. Nhưng chỉ vài hôm đã thấy chiếc áo trở nên cũ bẩn. Ðôi khi tôi bắt gặp ông ngồi dưới hành lang trong sân Vạn Hạnh, chỗ gần cổng. Ông nửa ngồi nửa nằm, tựa lưng vào cột. Dưới bóng cây phượng xanh mát, những lúc như vậy trông ông có vẻ tỉnh và buồn. Ông ngồi một mình, ánh mắt sau cặp kính cận dày nhìn xa xăm ra dòng xe cộ bên ngoài cổng trường.
Hình như Bùi Giáng không chỉ lang thang trong "lãnh địa" chợ Trương Minh Giảng và trường Vạn Hạnh. Một lần tôi thấy ông ở một chỗ khác, khá xa "nhà". Hôm đó trời mưa to, tôi đứng chơi trên lầu nhà một anh bạn ở đường Nguyễn Thiện Thuật, đối diện một cái chợ, không nhớ rõ là chợ Vườn Chuối hay chợ Nguyễn Thiện Thuật. Trước chợ có một đống rác cao nghệu, đen xì, bục ướt và rất hôi thối. Bùi Giáng đang đứng cãi nhau với một bà bán hàng ngay cạnh đống rác.
Chắc ông phá phách gì nên bị bà này mắng xối xả, còn ông thì chỉ la ó những câu vô nghĩa để đáp lại. Nhưng ông cũng hoa tay múa chân vẻ khá hung hăng. Cuối cùng người đàn bà xô mạnh Bùi Giáng. Ông ngã chỏng gọng vào đống rác đen, miệng la bai bải. Cặp kính cận dày và cái thân hình lèo khoèo trong tư thế nằm ngửa khiến ông trông giống một con bọ ngựa bị bẻ chân. Dưới trời mưa tầm tã, ông có vẻ không gượng dậy được vì đống rác quá nhão. Còn người đàn bà vẫn tiếp tục chửi bới.
Tôi cũng đã thấy Bùi Giáng trong một trường hợp khác, rất đáng nhớ. Một buổi sáng chỉ mới khoảng 6 giờ, sinh viên ký túc xá bỗng nghe tiếng la hét từ phía dãy phòng các sinh viên nữ. Thỉnh thoảng chúng tôi vẫn nghe những tiếng la như vậy khi có trộm lẻn vào bên khu nữ. Tôi vội chạy ra hành lang. Nhìn qua bên dãy nữ, thấy các mái tóc dài thò ra rồi thụt vào, hết người này đến kẻ khác. Tiếng la oai oái vẫn không ngớt, nhưng bây giờ xen lẫn tiếng cười khoái trá của các sinh viên nam. Nhìn xuống, tôi thấy giữa sân trường, Bùi Giáng đang trong tư thế trồng chuối, nhưng hoàn toàn... khỏa thân, quần áo cởi hết ra để bên cạnh. Mấy sinh viên bảo vệ từ ngoài cổng vội chạy đến, nhét quần áo vào tay ông lôi ra khỏi sân trường. Thật là một buổi "điểm tâm" đặc biệt cho cả ký túc xá.
Theo thầy Thích Nguyên Tạng (chùa Pháp Vân, Gia Định, Sài Gòn), Bùi Giáng tự ghi tiểu sử của mình cho thầy trong cuốn sổ tay vào buổi trưa ngày mùng 10/11/1993 như sau:
1926 - được bà mẹ đẻ ra đời
1928 - bị té bể trán, vết sẹo còn nguyên kỷ niệm, hai năm trời chết đi sống lại
1933 - bắt đầu đi học a, b, c... trường làng tại Thanh Châu với Thầy Cù Đình Qúy
1936 - học trường Bảo An với thầy Lê Trí Viễn
1939 - ra Huế học tư thục với những thầy Cao Xuân Huy, Trần Đình Đàn, Hoài Thanh Nguyễn đức Nguyên, Đào duy Anh, vân vân
1940 - về Quảng Nam chăn bò
1942 - trở ra Huế, vì nhớ nhung gái Huế
1949 - nhập ngũ, bộ đội công binh. Hai năm sau giải ngũ
1952 - vào Sài gòn, 1955 (57) khởi sự viết về Nguyễn Du và một vài nhận xét về Truyện Kiều và một vài nhận xét về Bà Huyện Thanh Quang, một vài nhận xét về Chinh Phụ Ngâm ...
1957 - TÂN VIỆT xuất bản: Giảng luận về Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Giảng luận về Chu Mạnh Trinh, Giảng luận về Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị.

1969 - Bắt đầu điên rực rỡ
1970:
1. Lang Thang Du hành Lục Tỉnh (Khách sạn Long xuyên Bà Chủ cho ở đầy đủ tiện nghi không lấy tiền)
2. Gái Châu Đốc Thương yêu và Gái Long Xuyên Yêu dấu
3. Gái Chợ Lớn Khiến bị bịnh lậu (bịnh hoa liễu)
1971 - 75 - 93:
Điên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang
Rong chơi như hài nhi (con nít)
Được gia đình ông Phó Chủ Tịch (482) Lê Quang Định, Hội Đồng Thành Phố đối xử thơ mộng thênh.
Kính dâng Kim Thúy, Kim Hồng, Kim Hoa, đôi lời rốt cuộc.....
Bình sinh mộng tưởng vấp phải niềm thương yêu của Kim Cương Nương Tử, Hà Thanh Cố Nương và Mẫu Thân Phùng Khánh (tức Trí Hải Ni Cô)
Do đâu mà ra được như thế ?
Đáp: Có lẽ đầu tiên kỳ tuyệt là do ân nghĩa bốn bề thiên hạ đi về tập họp tại Già Lam, Vạn Hạnh và Long Huê và Tịnh Xá Trung Tâm và Pháp Vân và xiết bao Chùa Chiền Miền Nam nước Việt, không biết nói sao cho hết.
Trong tiểu sử tự ghi, ông có nhắc đến một vài người cụ thể. Tuy nhiên, những người phụ nữ này được Bùi Giáng tôn vinh như là ‘mẫu thân sinh đẻ ra mình’, tuyệt không có chút gì là quan hệ nhục thể của tình yêu nam nữ, nhớ mong, hờn ghen, đau khổ, hẹn hò, mộng mơ như trong thơ tình của những nhà thơ khác.
Em vui - nước ngọt xuôi dòng
Em buồn - toàn diện đèo bòng buồn theo
Em vui - tinh thể bọt bèo
Em buồn - toàn diện thu vèo sang đông
Ngổn ngang gò đống chất chồng
Em về vĩnh viễn đêm mồng một giêng
Em đi thanh thản ngọc tuyền
Anh ngồi nốc rượu nốc phiền thiên thu
Kim Cương Nương Tử tuyệt trù
Thơ thần chất vấn dặm cù tình điên
(Kim Cương Nương Tử)
Ngày xưa, nghệ sĩ Kim Cương được giới hâm mộ gọi là ‘Kỳ nữ’ và Bùi Giáng cũng là một trong những người đã ‘mê Kim Cương như điếu đổ’. Nói về mối tình si của Bùi Giáng dành cho mình, Kim Cương đã thổ lộ:
Đúng hơn đó là mối tình thơ, như một thi sĩ cần một nàng thơ, mà nàng thơ thì bao giờ cũng nên là một hình ảnh không chạm tới được. Thi hứng được nuôi sống bằng tình yêu bị bỏ đói là vậy. Bùi Giáng là một thiên tài, nhưng ngô nghê say say tỉnh tỉnh. Nói là yêu thì bảo sao yêu được ông nhà thơ liêu xiêu, mình treo trái cây tòng teng. Hôm nào vui thì làm thơ tặng, tôi còn giữ cả chục bài, hôm thì ổng qua ổng... chọi đá. Thơ thì tôi cất giữ, người thơ tôi trân quý. Ngày ổng mất tôi chỉ biết cám ơn anh đã là một thi sĩ thiên tài, và đã cho tôi một mối tình đơn phương chung thủy suốt 40 chục năm trời.
Kỳ nữ Kim Cương và Bùi Giáng
Đối với Bùi Giáng, mối tình si của ông mang một sắc thái Tiên chứ không phải Tục:

Kính thưa công chúa Kim Cương,
Trẫm từ vô tận ven đường ngồi đây.
Tờ thư rất mực móng dày,
Làm sao định nghĩa đêm ngày yêu nhau?
(Kính thưa)
Kim Cương biết Bùi Giáng lúc khoảng 19 tuổi khi còn theo đoàn cải lương của bà Bảy Nam. Thật ra, ông chú ý đến KC trong một đám cưới của đôi bạn Hạnh - Thùy. Sau đám cưới, một hôm Thùy bảo KC: "Có một ông giáo sư Đại học Văn khoa, đi học ở Đức về, ái mộ chị lắm, muốn đến nhà thăm chị". KC trả lời: "Ừ, thì mời ổng tới".
Hóa ra là Bùi Giáng, lúc ấy đang dạy học, cũng áo quần tươm tất chứ chưa có "điên điên" như sau này. Bùi Giáng lui tới, mời KC lên xe đạp ông chở đi chơi, rồi lại cầu hôn... Bởi sau vài lần tiếp xúc, bà thấy ở ông toát lên cái gì đó "kỳ kỳ", bất bình thường, nên bà sợ.
Đeo đuổi mãi không được, Bùi Giáng thở dài nói: "Thôi, chắc cô không ưng tôi vì tôi lớn tuổi hơn cô (Bùi Giáng lớn hơn KC mười mấy tuổi), vậy cô hứa với tôi là sẽ ưng thằng cháu của tôi nhé. Nó trẻ, lại đẹp trai, học giỏi". Kim Cương ngần ngừ: "Thưa anh, chuyện tình cảm đâu có nói trước được. Tôi không dám hứa hẹn gì đâu, để chừng nào gặp nhau hẵng tính...". Ý bà muốn hoãn binh. Nhưng Bùi Giáng đã đùng đùng dắt cháu tới. Trời ơi, hóa ra đó là thằng nhỏ mới... 8 tuổi. KC hết hồn. Thôi rồi, ổng đúng là không bình thường!
Bùi Giáng cũng bày tỏ lòng thương kính ni sư Trí Hải (1938 - 2003), có tên đời là Tôn Nữ Phùng Khánh, nên thường gọi bà là ‘Mẫu thân Phùng Khánh’. Sau khi ông mất, Ni Sư Trí Hải có giảng cho Tăng Ni Phật tử về thâm nghĩa trong thơ ca của Bùi Giáng trong nhiều buổi giảng.
Con về giũ áo đười ươi
Nực cười Trí Hải ngậm ngùi mẫu thân
Đẻ con một trận vô ngần
Mẹ còn đẻ nữa một lần nữa thôi
Mẫu thân Phùng Khánh tuyệt vời
Chiều xuân thơ mộng dưới trời bước đi
(Thơ điên)
Có lần ông nói: “Phùng Khánh Mẫu Thân là mẹ Việt Nam, tôi là con dân Việt Nam. Vậy thì tất nhiên Phùng Khánh là mẹ của tôi vậy. Nếu tôi không nhận Phùng Khánh là mẹ, thì chẳng ra tôi là người Lào? Hoặc là người Cao Miên? Hoặc con dân Âu Mỹ ư? Huống nữa là: Phùng Khánh là bà mẹ loài người. Vậy Phùng Khánh là mẹ của tôi. Nếu tôi không phải là con của Phùng Khánh, thì chẳng ra tôi chẳng phải con người? Chẳng ra tôi là con vật?” (Đặng Tiến, Bùi Giáng Thi Sĩ Kỳ Dị).
Thương quý ni sư Trí Hải ông thương lây qua các ni cô khác, nhất là các ni cô ở chùa Dược Sư, nơi mà ông thường lui tới nghỉ chân, được ăn cơm, được lì xì tiền tiêu vặt. Cảm nghĩa, cảm tình ông đã coi chùa Dược Sư là thơ mộng nhất, các ni cô là người hiền thục nhất, đẹp nhất trong giới nữ lưu.
Đi tu thứ nhất ở chùa,
Thứ nhì ở tận cuối mùa lang thang
Dược Sư thơ mộng vô vàn,
Sầu lên vút tận mây ngàn tần thân
Hai chữ ‘tần thân’ nhiều người không hiểu. Tự điển Hán Việt giải thích: Tần là luôn luôn và Thân là rên rỉ. Đọc bốn câu thơ lục bát của ông, mới thấy được cái tài hoa, cái xuất khẩu thành thơ, cái uyên bác trong tứ thơ của ông. Có lẽ chỉ thi sĩ ‘Bùi Bàng Giúi’ mới có thể giảng giải hết thâm ý của chính mình.
Theo Võ Đắc Danh, hồ sơ lưu trữ tại nhà thương điên Biên Hoà ghi nhận Bùi Giáng nhập viện hai lần. Lần thứ nhất vào năm 1969, lần thứ hai vào năm 1977, thời gian này Nguyễn Ngu Í vẫn còn trong bệnh viện, hai người cùng ở khu 3. Bệnh án của Bùi Giáng có đoạn ghi:
“Bệnh tái phát từ tháng 4/1969, có hôm thức suốt đêm để viết, nói huyên thuyên, chơi chữ, có khi la thất thanh, ý tưởng tự cao tự đại. Hay phát biểu ý kiến về những vấn đề chính trị, văn hoá trọng đại, có ý nghĩ bị người ta phá hoại sự nghiệp văn chương. Tháng 3/1969 bị cháy nhà và cháy tất cả sách vở quý báu nên đương sự bị bệnh mỗi ngày một nặng hơn...”
Cung Tích Biền kể: “Khoảng đầu thập niên 70 người ta đưa ông vào nhà thương điên Biên Hòa chữa cái bệnh ‘đứng ngã ba nhìn ra ngã bảy’. Từ nhà thương điên trở ra, bữa gặp nhau thấy ông rất tỉnh. Bèn hỏi một câu thường tình: ‘Nhà thương Biên Hòa trị cái tẩu hỏa hay nhỉ!’. Ông trả lời tỉnh queo: “Chữa trị quái gì đâu. Chẳng là ở ngoài mình thấy mình điên số một, khi vô nhà thương điên mới hiểu ra mình là đồ bỏ, điên nhí, điên tiểu thủ công nghiệp; trong nhà thương điên nhiều cha điên thượng thừa, điên vĩ đại hơn mình nhiều. Do vậy mà mình tự động thôi điên”.
Uống và say nói lăng nhăng
Miệng mồm lí nhí thằn lằn đứt đuôi
Tâm can chân thể chôn vùi
Mặt trời không mọc với người lem nhem
Còn đâu nguyệt tỏ bên thềm
Ôi người uống rượu còn thêm điên rồ
(Người điên uống rượu)

Ông điên từ bữa hôm qua
Tới hôm nay nữa gọi là ba hôm
Thanh thiên về dự hội đàm
Thành thân thiên hạ muôn vàn mai sau
Ông điên từ một lần đầu
Tới lần đuôi đứt ruột rầu rĩ đau
Tuyệt mù biển cạn sông sâu
Bụi hồng tản mác trước sau bây giờ
(Ông Điên)
'Ông Điên' đã tự viết về mình như sau: “Nó điên? Vâng nhưng điên một cách vui vẻ. Bạ đâu gọi đó là mẫu thân bát ngát của con. Người ta bảo rằng nó không điên. Có kẻ bảo rằng nó giả vờ điên. Muốn biết nó điên hay không điên, hay giả vờ điên, thì trước hết phải đáp vào câu hỏi: Sao gọi là điên? Nhưng mà? Nhưng mà đó là một câu hỏi chưa hề có một lời giải đáp dưới gầm trời và suốt xưa nay vậy”.
Nỗi buồn nỗi khổ đời xưa
Nỗi sung sướng đến móc mưa bất ngờ
Đời xưa đất đá đều đờ đẫn điên
Đời này đất đá cằn khô
Điên duỗi dọc, điên ngửa nghiêng
Điên là hạnh phúc thần tiên ở đời
Điên rồi rốt cuộc hỡi ôi
Cũng đành chấm dứt lìa đời hết điên
(Dzách)
Tiên hay Điên? Phải chăng Điên là một cách hành Thiền của Bùi Giáng? Và Điên cũng là cách né tránh đối diện với thực tại, thực tại thời chiến tranh Việt Nam, trước và sau 1975? Ta không thấy Bùi Giáng bày tỏ bất cứ chính kiến nào về thực tại đó như thơ văn đương thời. Bài thơ Về Quảng Nam được viết bằng ngôn ngữ đời thường thể hiện rõ thái độ né tránh ấy:
Chiêm bao tôi thấy tôi về Quảng Nam
Rong chơi Đại Lộc, Điện Bàn
Duy Xuyên, Tiên Phước, Hoà Vang, Thăng Bình...
Tìm người bạn cũ không ra
Còn phong cảnh cũ khác xa những ngày...
Xóm làng đồng ruộng lạ thay
Chỉ còn dáng núi chạy dài xa xa
Giữ nguyên hình ảnh đậm đà
Còn trong kỷ niệm bao la tuổi nào...
Ngắm nhìn. Tim máu xôn xao
Tôi rời đất Quảng trở vào Miền nam
Tâm hồn bao xiết hoang mang
Bài thơ viết vội, dở dang lạ lùng
(1995)
Nguyễn Minh Vương viết về Bùi Giáng: “Vậy Bùi Giáng là ai? Và ai là Giàng Búi? Câu trả lời đã được các bậc nguyên lão, những người đã cùng lăn lộn với lão trong cõi trần ai khổ lụy này giải mã. Lý lẽ của các vị thật hợp tình hợp lý. Với ‘người thơ’, tác giả đã nói lên cái tính bình dân của Lão Bùi, với ‘Cuồng Bồ tát’, tác giả khác đã nói lên tầm mức cứu độ chúng sinh của Giàng Búi thị hiện trong hình tướng của người điên, với ‘thi sĩ kỳ dị’, tác giả cho thấy sức sáng tác kinh hồn bạt vía cũng như những chiêu thức (ngôn từ) mà ông dùng trong thơ thì xưa nay chưa có ai nghĩ bàn đến. Có thể nói, Lão Bùi đã được nói rất nhiều, viết cũng rất nhiều, bàn cũng chẳng thiếu, thậm chí nhà văn Phạm Thị Hoài còn đề xuất một giải thưởng văn học mang tên Bùi Giáng trên talawas.org để tôn vinh. Như thế, kẻ hậu sinh này [Nguyễn Minh Vương] muốn nói, muốn viết về ông, cũng chỉ là múa rìu qua mắt thợ, thấy người sang bắt quàng làm họ”.
Nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn nói: “Viết đôi lời hay nhiều lời về Bùi Giáng không bằng đọc Bùi Giáng. Đọc Bùi Giáng không bằng giao du với Bùi Giáng. Giao du với Bùi Giáng không bằng sống như Bùi Giáng. Mà sống như Bùi Giáng thì thật vui mà thật khó vậy!”.
Bùi Giáng là Tiên, là Bụt? Khi ai chửi ông cũng ừ mà ai khen ông cũng ứ ư, chẳng thèm phản ứng lại những trước những ngôn từ như hòn đá ném vào ông. Ông chỉ là ‘người bình thường’, bình thường đến nỗi ông không ý thức được sự bình thường đó và cũng không đòi hỏi phải thế này, phải thế kia mới bình thường. Ấy cũng chính là ý nghĩa của công án “Bình thường tâm thị đạo”. Ông là Tiên, là Bụt vì ông không thách thức, không ham muốn chinh phục cuộc đời, ông chỉ là trẻ con mơ mộng bay đến cung trăng, bay lên đỉnh Everest để đùa vui non nước trong ngần, phiêu bồng trăng mọc non ngàn lá sương.
Ông là ‘người cõi trên’ vì dám chửi cha bọn nho hương nguyện đầu xanh còn chưa ráo máu mà chuyên môn gùn ghè bám riết nhe răng hút máu xương tinh thể tài hoa thị hiện trong sát na thống ẩm cuồng ca và thậm chí, nếu cần thí mạng mình để đổi lại.
Máu xương tinh thể thiên tài,
Da xương làm chiếc quan tài chôn thây,
Lũ người trước tớ sau thầy,
Nhai văn nhá chữ miệng đầy máu xương
Nhưng ông cũng là quỷ khi ông chửi bới, rượt đuổi những đứa trẻ trêu chọc ông bằng những lời không ai hiểu được của kẻ điên. Ông là quỷ khi ông mơ mộng được làm tình với Nương Tử Kim Cương. Phan Nhiên Hạo viết trong bài đã dẫn:
“Ông dùng ngón trỏ và ngón giữa móc vào nhau tạo thành một dấu hiệu tục tĩu mà trẻ con hay làm. Tay kia cầm một quả chanh, không biết kiếm đâu ra. Ông cố nhét quả chanh vào giữa cái hình ô van tạo nên bởi hai ngón tay, miệng lẩm bẩm: “Ðây là con cặc nhét vô cái lồn Kim Cương. Con cặc to quá nhét vô không được (!)”.
Ông là ma trong dáng vẻ khùng điên si cuồng đến nỗi người ta hay lấy ông làm biểu tượng để hù dọa con nít. Con ma Giàng Búi lúi húi loanh quanh dạo khắp nẻo phố phường, sẵn sàng đốp chát đến cùng với con mẹ hàng hàng tôm hàng cá.
Lê Bích Sơn có cả một ký ức về Bùi Giáng qua bài viết “Bùi Giáng & Trò chơi bán dùi”:
Khác với những gì người ta nói về Bùi Giáng, cái tên Bùi Giáng đến với hắn [Lê Bích Sơn] bằng tất cả những cảm giác rùng rợn và lo sợ… mỗi khi phạm phải một sai lầm. Bùi Giáng trong hắn đích thực là “Ông Ba Bị”, nhân vật đen đủi, gớm ghiếc với chiếc bị lớn trong tay chuyên bắt con nít bỏ bao, trong những câu chuyện răn đe của người lớn…
Năm bảy, tám tuổi gì đó, lần đầu tiên hắn “diện kiến” Bùi Giáng trong một lần tan học. Bùi Giáng mặc áo quần rách tả tơi, gầy đen, tay cầm một cây gậy quấn vải có cột vài chai lọ trên đó, và dĩ nhiên không cầm chiếc bị nào để bắt cóc con nít… Ông Ba Bị Bùi Giáng hiền hơn những gì hắn nghe người ta kể!
…Sau đó, hắn tham gia cùng lũ trẻ trong vùng “chơi trò Bùi Giáng”. Trò chơi vừa thích thú, vừa lo âu sợ hãi lạ lùng. Bọn trẻ thi nhau tìm đến gần ông rồi bất chợt hô to: “Bùi Giáng…bán dùi, Bùi Giáng…bán dùi…” rồi xô nhau mà chạy… Không biết ông có đuổi theo phía sau hay không, nhưng “chơi trò Bùi Giáng” quả là một điều thích thú của lũ trẻ ngày đó.
Thời gian sau, bọn trẻ không còn thấy hình bóng Bùi Giáng nữa. Đoạn đường từ cầu Diêu Trì đến Ngã Ba Phú Tài vắng bóng ông. Người ta thay nhau truyền những “bản tin”, đại loại như: “Bùi Giáng do C.I.A cài lại, và đã được “bốc” đi Mỹ tháng trước…”, hoặc “Bùi Giáng đã được một nhóm người vượt biên “tóm cổ” lên một chiếc tàu ra đi từ cảng Quy Nhơn…để thông dịch”; ... Nói chung, Bùi Giáng đã rời khỏi Quy Nhơn để… đi Mỹ.




Monday, October 17, 2011

XA HÀ NỘI MÙA CHỚM THU


Lại xa Hà Nội mùa mới chớm Thu
Ngoái lại sau lưng sông Hồng vẫn đỏ
Cây bàng xanh vừa thay màu nhung nhớ
Trời chưa mưa sao ướt mắt ai rồi !

Không biết ngày nào trở lại Hà thành ơi!
Đường thiên lý tàu đi xuôi không ngược
Lúc tiễn đưa không rời nhau nửa bước
Chia tay rồi mờ sắc đỏ phù sa!

Mùa Thu chờ, mùa Thu không vội qua
Thu đứng lại treo cao từng khúc nhớ
Lòng người đi mang theo mùi hoa sữa
Lúc quay về chắc còn chút hương phai

Lại xa rồi phố cũ xám màu vôi
Trong đáy mắt lời thương chưa kịp nói
Cầu Long Biên dẫn tình xa vời vợi
Màu tang buồn pha bụi đỏ ven sông

Thu biệt ly dừng ở bến sông Hồng
Thu không chở người đi quay trở lại
Người đi xa còn vẳng nghe tiếng gọi
Mùa Thu ơi! Trả tình lại cho người.

TRẦN KIÊU BẠC
XA GẦN, GẦN XA


Rất xa mà ngỡ thật gần
Mới quen giây lát,mới thân thôi mà!
Tưởng gần mà lại hóa xa
Thời gian ngắn ngủi chẳng là gì đâu
Tiếc ngày xưa chẳng biết nhau
Giờ cau trái chín mơ trầu lá khô
Trao nhau trăm mối tơ vò
Tìm nhau trong cõi hư vô cuộc đời
Ước chi giữ được nụ cười
Siết bàn tay nhỏ, bên người tri âm
Chỉ thơ nói tiếng yêu thầm
Chắc gì tay lại được nằm trong tay?
Người còn đó ta còn đây
Hai vì sao lạc mong ngày gặp nhau
Trầu vàng vẫn bén hương cau
Dẫu còn xa vẫn tin nhau là gần.

TRẦN KIÊU BẠC

Sunday, October 16, 2011





Saturday, October 15, 2011



Thursday, October 13, 2011










XA QUÊ



Chỉ mới xa quê mấy dặm đường


Mà lòng nghe nặng nỗi quê hương


Quê người lãng đãng hoài cung nhớ


Đất cũ xôn xao mãi cõi buồn


Người ngóng người trông ôm luyến tiếc


Kẻ chờ kẻ đợi dệt sầu thương


Ly hương mới thấy tình lân lý


Sống mãi trong lòng kẻ viễn phương.



TRẦN KIÊU BẠC










XA RỒI TIẾNG CHIM TUỔI THƠ




Những ngày thơ đầy ắp những tiếng chim
Chim gọi sáng chào ban mai rộn rã
Trưa chim ru nắng hiền về yên ả
Chiều chim buồn tha thiết đợi hoàng hôn

Trong ngăn tuổi thơ còn chật tiếng hót quen
Trên cây mù u, chào mào ca trong vắt
Ngọn tre cao, điệu chim sáo càng cao vút
Cành ô môi thân thiện tiếng áo già

Trưa làng quê giọng tu hú vang xa
Trời tĩnh mịch cho buồn lời cu gáy
Chim chăn vịt gọi lúa về ngậm sữa
Chim sâu thì thầm bóng lá lêkima!

Tuổi thơ đầu trần, chân đất làng quê
Trưa trốn Mẹ , giắt lưng cây ná nhỏ
Rón rén khuất qua tàng cây vú sữa
Chờ chim vô tình giương ná bắn chim

Giờ xa rồi thời thơ ấu dịu êm
Những con chim xưa giờ không thấy nữa
Hoạ chăng bên hiên còn đàn chim sẻ
Tiếng chim quen từ đó cũng xa dần

Trong lồng son bên cửa sổ thị thành
Con chim quý hót ru như tiếng nhạc
Chim trong lồng, có phải đâu chim hót?
Tha thiết nhớ bầy chim da diết gọi nhau!

Trên lầu cao, tìm thấy tuổi thơ đâu?
Chỉ nghe chim lạc bầy kêu xao xác
Dù chim quý ru êm ngàn khúc hát
Biết đâu tìm tiếng hót những ngày xưa!

TRẦN KIÊU BẠC

Sunday, October 9, 2011















<><><><>XA XƯA MỘT THUỞ LÀM DÂU

(điệu Ca dao)
"Má ơi ! Đừng gả con xa
Chim kêu vượn hú biết nhà Má đâu? " (1)
Mai nầy xong lễ trầu cau
Con ôm khăn gói làm dâu nhà người
Con về bên đó xa xôi
Xa như con nước sông trôi dặm dài
Quê chồng muôn ngã ngược xuôi
Phận làm dâu biết buồn vui riêng mình
Trót làm ngọn sóng chênh vênh
Bão giông đâu biết bình yên đâu ngờ
Gom đầy một góc ngày thơ
Gởi cho Má cất trong giờ rước dâu
" Má ơi đừng đánh con đau
Để con bắt ốc hái rau Má nhờ " (2)
Câu ca dao những ngày xưa
Má đưa võng, buộc lời ru vào hồn
Quê xa nhớ Má lòng buồn
Lại thèm Má đánh trận đòn thật đau
Bây giờ cam phận con dâu
Lại đi bắt ốc hái rau cho người
Ghe đưa dâu trở lại rồi
Cúi đầu lạy Má con rời xa quê
Trăm năm chưa chắc con về
Nghe ca dao nhớ bờ đê sông nhà
Má ơi! Đừng gả con xa!...

( 1) ( 2) Ca dao VN .

TRẦN KIÊU BẠC

Tuesday, September 27, 2011

NHẶTHOA TRÊN NET


Guillaume Apollinaire là một thi sĩ, văn sĩ, kịch tác gia đại tài của nước Pháp. Ông sinh năm 1880 và mất năm 1918 vì một chứng bệnh cúm cấp tính. Tâm hồn ông rất nhạy cảm với ngoại cảnh và con người nên thơ ông dễ đi vào lòng người như hai nhà thơ đàn anh trường phái tương trưng (symbolist) của nền thơ văn Pháp là Verlaine và Rimbaud. Bài thơ “L’Adieu” dưới đây diễn tả một cuộc tình tan vỡ không biết vì sao. Dù chỉ có 5 câu nhưng là một bài thơ mùa Thu trữ tình lãng mạn nổi tiếng của ông. Hoa thạch thảo (bruyère-heather) là loài hoa dại mọc ven đường nhưng qua những vần thơ tuyệt tác của thi sĩ đã len lén đi vào vườn hoa thơ văn một cách êm ái nhẹ nhàng. Thạch thảo mang màu tím, màu của sự tan tác chia ly nên các thi văn nhạc sĩ thường mượn màu tím để diễn tả những cuộc tình không tới. Nhạc sĩ Hoàng Trọng đã viết bản nhạc “ Ngàn thu áo tím” thể điệu Valse lả lướt dặt dìu để nói lên tâm sự đau buồn của một cô gái mất người yêu:


Ngàn thu mưa rơi trên áo em màu tím


Ngàn thu đau thương vương áo em màu tím


Nhuộm tím những tháng ngày mất nhau


Nảy giờ hoa lá cánh hơi nhiều, bây giờ mời các bạn thưởng tức bài thơ tình bất hủ của Apollinaire:



"J'ai cueilli ce brin de bruyère
L'automne est morte souviens-t'en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps Brin de bruyère
Et souviens-toi que je t'attends "
(L'Adieu – Guillaume Apollinaire)


Anh ngắt đi một cành hoa thạch thảo


Em nhớ chăng mùa Thu đã chết rồi


Và chúng ta sẽ không còn gặp lại nhau nữa trên cõi đời nầy


Khi mùi hương thời gian hoa thạch thảo vẫn đọng lại đâu đây


Thì em ơi! Em có nhớ phương trời nầy anh vẫn mãi chờ đợi em


(Vĩnh biệt – Nguyên Trần thoát dịch)

Sunday, September 18, 2011






TẠ LỖI VỚI DÒNG SÔNG













Chân thành tạ lỗi dòng sông


Mười năm xa xứ mình không trở về


Đêm nghe sóng dội tình quê


Biết sông còn đợi người đi năm nào


Trở mình trong giấc chiêm bao


Thấy sông vẫn trẻ như vào hai mươi


Đâu đây còn vẳng tiếng cười


Trầm mình sóng đẩy loi ngoi giữa dòng


Trong con nước lớn nước ròng


Còn ai còn nắm tay không bên bờ


Bông lục bình tím ngẩn ngơ


Mười năm còn tím lòng chờ người xa?


Sông dài con nước trôi qua


Tình còn để lại quê nhà xa xưa


Thật tình một tiếng dạ thưa


Xin sông thứ lỗi người chưa quay về.



TRẦN KIÊU BẠC

NHẶT HOA TRÊN NET

Lương Châu từ (凉州词) là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt nổi tiếng của Vương Hàn (王翰) được sáng tác từ tên gọi của một điệu hát cổ của người Trung Hoa nói về chủ đề trận mạc, biên ải. Trong thơ cổ Trung Hoa, nhiều điệu hát dân gian như các từ, khúc Thượng chi hồi, Chiến thành nam, Tương tiến tửu, Hoàng tước hành, Lạc mai hoa... được rất nhiều nhà thơ ưa chuộng và thường dùng để đặt tên cho tác phẩm của mình, đặc biệt trong Đường thi.


Vương Chi Hoán, một tác giả thời Sơ Đường cũng có bài thơ Lương Châu từ (hay còn có tên Xuất tái-Lương Châu từ) nhưng không nổi tiếng bằng.Văn bản







葡萄美酒夜光杯,


欲飲琵琶馬上催.


醉臥沙場君莫笑,


古來征戰幾人回?



Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,


Dục ẩm tì bà mã thượng thôi.


Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu,


Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi?


Dịch ý:


Chiếc ly dạ quang tinh xảo được đổ đầy rượu nho ngon tuyệt


Vừa muốn say sưa một phen, thì đột nhiên tiếng đàn tì bà tưng bừng vang từ trên lưng ngựa xuống như thôi thúc tướng sĩ cùng can ly.


Dù có say nằm lăn trên sa trường, mong các vị đừng chê cười,


Trước giờ người đi chinh chiến mấy ai còn sống trở về



Dịch thơ:


“ Bồ đào rượu ngát chén lưu ly,


Toan nhắp tỳ bà đã dục đi.


Say khướt chiến trường anh chớ mĩa,


Xưa nay chinh chiến mấy ai về.”


Trần Nam Trân dịch