THAY LỜI CHÀO MỪNG!

THAY LỜI CHÀO MỪNG!

LỜI CHÀO MỪNG

CẢM ƠN QUÝ THÂN HỮU ĐÃ MỞ CỬA VÀO NGÔI NHÀ ĐƠN SƠ "QUA DẤU BỤI THỜI GIAN" CỦA
TRẦN KIÊU BẠC.




Thursday, February 9, 2012

NHẶT HOA TRÊN NET


Đại Hạ Giá


Thời buổi này còn cái gì không hạ giá nhỉ? Sách vở, quần áo, đồ điện tử v...v... hạ giá! Tôi cầm mảnh bằng đại học cạ cục mãi chưa tìm ra việc làm, cũng nhào ra vỉa hè bán sách đại hạ giá. Từ Victor Hugo, Lev Tolstoy, Tagore, Dostoievski... đến Khái Hưng, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng... cả thảy đều bị “hạ” nằm la liệt. Lắm lúc ngồi chồm hổm nhìn xuống các tên tuổi từng “vang bóng một thời”, tôi thầm hỏi:

-         Nên cười hay nên khóc, thưa chư liệt vị?

Cách đây ít lâu, một ông lão hình dáng tiều tụy mang đến bán hai pho sách dày. Một cuốn là “Hán Việt Từ Điển” của Đào Duy Anh do Khai Trí tái bản. Cuốn kia là “Petit Larousse Illustré” in tại Paris năm 1973. Sách còn tinh tươm lắm, hẳn chủ nhân đã xài rất kỹ. Thấy giá rẻ, tôi mua. Loại ấn bản này đây, gặp loại khách biên biết, bán cũng được lời.

Ngoài bìa và một số trang ruột của mỗi cuốn, đều có ấn dấu son hình ellipse: “Bibliothèque - Đô Bi - Professeur”. À, té ra ông lão vốn từng là giáo chức. Thảo nào! Cất tiền vào ví rồi mà ông cứ dùng dằng nuối tiếc, ngoảnh lại nhìn những tài liệu - tài sản phải đứt ruột bán đi. Ngoái mãi mấy lần rồi ông mới dắt chiếc xe đạp cà tàng đạp về. Mắt ông đỏ hoe. Lòng tôi chợt se lại!

Chiều 25 Tết. Ngồi cạnh các danh tác tôi vẫn lim dim, thấp thỏm, chồm hổm ra đấy. Qua đường không ai thấy, lá vàng rơi trên giấy. Sài Gòn chả có mưa bụi cho đủ khổ thơ Vũ Đình Liên. Nhưng bụi đường thì tha hồ, đủ khổ thứ dân lê lết vệ đường như tôi.

-         Anh mua bánh bò, bánh tiêu?

Một chị hàng rong đến mời. Tôi lắc đầu. Bỗng chị sững người chăm chú nhìn vào hai bộ từ điển. Chị ngồi thụp xuống, đặt sề bánh bên cạnh, cầm hết cuốn này đến cuốn kia lật lật. Rồi chị hỏi giá cả hai. Ngần ngừ lúc lâu, chị nói:

-         Anh có bán... trả góp không?

-         Trời đất ơi! Người ta bán trả góp đủ thứ, chứ sách vở, sách đại hạ giá ai đời bán trả góp? Vả lại, tôi nào biết chị là ai, ở đâu?

-         Tôi cần mua cả hai - chị nói tiếp - xin anh giữ, đừng bán cho người khác. Khi nào góp đủ, tôi sẽ lấy trọn. Anh thông cảm làm ơn giúp tôi.

Thấy lạ, tôi hỏi chuyện mới vỡ lẽ. Đô Bi chính là thầy cũ của chị hàng rong. Chị Tám (tên chị) bất ngờ thấy có dấu son quen, hiểu ra hoàn cảnh của thầy, bèn nảy ý chuộc lại cho người mình từng thọ ơn giáo dục. Song, bán bánh bò bánh tiêu nào được bao nhiêu, lại còn nuôi con nhỏ, không đủ tiền mua một lần nên chị xin trả góp.

Tôi cảm động quá, trao ngay hai bộ từ điển cho chị Tám:

-         Chị hãy cầm lấy, kịp làm quà Tết cho thầy. Tôi cũng xin lại đúng số vốn mà thôi, chị à.

-         Nhưng...

-         Đừng ngại, chị trả góp dần sau này cũng được.

Chị lấy làm mừng rỡ, cuống quít trả tôi một ít tiền.

-         Chao ôi, quý hóa quá! Cảm ơn... cảm ơn... anh nhá!

Mai lại, chị Tám trả góp tiếp. Chị kể :

-         Thầy Bi thảm lắm... Gần Tết, cô lại ngã bệnh... Thầy nhận sách, mừng mừng tủi tủi tội ghê, anh à!... Thầy cũ trò xưa khóc, khóc mãi!

Tôi vụt muốn nhảy cỡn lên và thét to:

Hỡi ông Victor, ông Lev, ông Dostoievski... ơi! Ông Khái, ông Vũ, ông Ngô... ơi! Có những thứ không bao giờ hạ giá được! Có những người bình thường, vô danh tiểu tốt nhưng có những kiệt tác không hạ giá nổi, đó là ‘Tấm lòng’ ”.

( Theo Nguyễn Kim Luân)

CHÌM LẮNG MỘT CUNG ĐÀN Phổ Nhạc


Đàn sáu dây, mình vẫn chỉ một mình
Âm giai thứ nên lòng thêm hiu hắt
Giá đêm nay ôm đàn mà khóc được
Dẫu có ngàn dây, đàn cũng chỉ hư không !

Nước mắt không rơi, đàn còn vọng âm thanh
Thương người ngồi ôm đàn trong khoảng tối
Trông chờ ai mà đêm dài ngóng đợi?
Âm vực cao chìm lắng nốt trầm buồn

Đàn dậy lên từng giọt giọt mưa tuôn
Không khúc Chiêu Quân, không Thúy Kiều bạc mệnh
Đàn gọi nhau giữa khung trời lưu luyến
Trải khắp không gian đầy ắp phiến u sầu

Đàn thả cung buồn, em ngơ ngác về đâu
Hay vẫn cô đơn hát bài ca cũ?
Tìm nơi đâu cung đàn xưa đã lỡ
Đàn sáu dây, mỗi đứa mãi một mình!


TRẦN KIÊU BẠC 

CẢM ƠN NHỮNG CON ĐƯỜNG TÌNH YÊU



Lễ Tình Yêu gợi nhớ những con đường
Một thuở phải lòng nhau nhiều năm trước
Một ký ức ngủ quên vừa thức giấc
Lòng muốn tạ lòng những nhánh đường quen

Cảm ơn đời cho góc Thảo Cầm Viên
Đường Nguyễn Bỉnh Khiêm vô tư rớt lá
Khi con ve nhỏ kêu sầu mùa Hạ
Là lúc chia tay nhung nhớ chín mươi ngày

Để những trưa đạp xe chầm chậm qua đây
Mùi Trưng Vương còn bay qua trong nắng
Đơn sơ tình yêu trong lời câm nín
Không nói ra tình cũng dấu trăm năm

Cảm ơn đời xây bóng mát Duy Tân
Hàng cây cao xanh tình bên trường Luật
Chút gót cao, chút Jupe cao tươi mát
Bận lòng nhau bên góc Hồ Con Rùa

Cảm ơn đời cho lá chết Nguyễn Du
Chiều lá me bay trôi cùng cánh bướm
Lá vướng chân ai mở lòng quyến luyến
Chia tay rồi mưa khóc ướt hàng me

Cảm ơn đời Dạ Khúc cạnh café
Đêm Bùi Thị Xuân, Sonate, tiếng dương cầm chờ sáng
Trưa qua Văn Khoa, xế vào Sư Phạm
Trăm ngõ Tình Yêu thân thiết Sài gòn

Những con đường xứng đáng được cảm ơn
Ghi dấu tình yêu dẫu người còn mất
Trao nhau lòng tin, gởi nhau nước mắt
Những con đường tình giữ mãi Tình Xanh.

TRẦN KIÊU BẠC 

Thursday, January 26, 2012


TÌM LẠI DẤU CHÂN XƯA


Sân trường mình ghé lại chiều nay
Những viên sỏi nhỏ bám gót giày
Vỡ trong ký ức ngày xưa cũ
Chìm khuất theo cùng tuổi thơ ngây

Dấu chân mờ nhạt sau cửa lớp
Còn in bóng bạn, bóng Cô Thầy
Hè đi còn tiếng ve sầu rớt
Gởi buồn theo cánh phượng tung bay

Lớp xưa còn quấn bao hạt bụi
Hạt nào rơi giếng mắt thêm cay
Về phía không em, con gió thổi
Để phía không anh, lạnh thấm đầy

Mình còn nợ nhau cơn mưa nhỏ
Hành lang áo mỏng ướt hai vai
Anh đợi gom vầng mây ngũ sắc
Thả trên tóc ngắn mộng mơ đầy

Con dốc đổ ngang qua trường cũ
Vẫn chạy theo nhìn những bóng cây
Từng chuyến xe Lam ôm áo trắng
Chở theo những tiếng guốc khô gầy

Bàn chân ngày trước nay đâu mất
Để nhớ bay qua những tháng ngày
Nợ nhau đôi bàn tay ấm áp
Thôi đành hẹn lại đến kiếp mai!



TRẦN KIÊU BẠC

THƠ MÙA ĐÔNG GỞI EM GÁI QUÊ NHÀ



Anh dặn hoài phải cất kỹ mùi hương
Để nhớ Má khi em vào trong bếp
Mùi quen xưa không bao giờ quên được
Dù anh xa quê mười mấy năm rồi

Mùi củi còn tươi cuối góc sân phơi
Khói bếp thơm rơm trong chiều xuống vội
Em nói sẽ gom vào, gởi anh một gói
Để anh tưởng gần Má những ngày Đông

Má bây giờ phiêu bạt cõi hư không
Áo sờn vai phất phơ theo gió quyện
Những đêm mơ lòng anh còn quyến luyến
Tỉnh ra bơ vơ những ngón tay buồn

Trong hiu hiu cái nhớ cuộn vòng tròn
Chỉ trông xa bóng Má mờ sương mỏng
Nghe lao xao mùi hương trong nắng sớm
Một trời quê hương chìm khuất nhạt nhòa

Đã hết rồi ngày em nấu bếp gaz
Mùi xa lạ không làm ai nhung nhớ
Nhớ khói cay mắt Má mình ướt đỏ
Mùi tay Má cầm củi chẻ chưa khô

Đã theo Má vào tận chốn hư vô
Là mãi mãi mất đi mùi quen thuộc
Là mãi mãi anh không còn nhận được
Gói hương bếp nghèo em hứa gởi qua!


TRẦN KIÊU BẠC 

Tuesday, January 17, 2012

NHẶT HOA TRÊN NET

         Phong tục ngày tết
                                   Việt Nam                              

                                       Đông Triều
                       
Trong một năm có bốn mùa, mùa đông thi lạnh lẽo co ro, mùa xuân thì ấm áp muôn hoa đua nở, không gian hòa quyện với con người bừng lên một sức sống mới làm rõ nét nỗi bật của mùa xuân, gió đông hãy còn se se lạnh, nắng hanh hanh hơi ấm lại, những cành cây non, hoa lá lại kết nụ, thế là báo hiệu cho mùa xuân đến, mùa xuân nằm trong chu kỳ của bốn mùa nhưng thiên nhiên cũng có khi thay đổi thất thường làm cho hoa nở sớm hay nở muộn, trong những cơn mưa phùn lất phất lạnh, hoa mai hoa đào nở, người ta bắt đầu gọi những ngày ấy là mùa xuân.Trong thi ca Việt Nam thường hay gọi là nàng xuân hay chúa xuân, có lẽ nó đã bắt nguồn từ ngàn năm trước.  Mùa xuân là mùa thiên nhiên làm cho vạn vật bừng sống dậy, trong đó có con người, cho nên người Việt của chúng ta lấy ngày khơi đầu của một năm làm ngày tết hay đọc trại ra thành chữ tiết. Mùa xuân là mùa của trăm hoa đua nở, mùa của lễ hội hè đình đám là mùa của con người vui chơi, nghỉ xã hơi trong một năm làm việc mệt nhọc mà từ ngàn xưa ông bà của chúng ta đã để lại những phong tục tập quán vui xuân trong ba ngày tết là những đặc thù của nền văn hóa Việt đã trải qua nhiều thế hệ.
Tết là dịp để mọi người biểu lộ tình thương yêu tôn kính những bậc trưởng lão, tổ tiên, ông bà, cha mẹ . . .  Những người làm việc ở xa trở về sum họp với gia đình, sửa sang lại bàn thờ, mâm đăng hoa quả, bánh mức dưa hành câu đối đỏ, làm mâm cổ thờ phụng tổ tiên ông bà, hương hoa trong ba ngày tết, thăm viếng những người thân chúc phúc cho nhau, mùa xuân trên xứ người, những ngày tết tha hương, chúng ta nên nhớ lại những tập tục của những ngày tết mà tổ tiên của chúng ta đã để lại, tuy nhiên mỗi miền có khác nhau nhưng tựu chung đồng nhất một điểm là thờ phụng tổ tiên ông bà, vui xuân, lễ hội đình đám.
                Sum họp đón tết
          Những ngày tết là thời điểm để mọi người trong gia đình sum họp đông đủ, con cái cháu chắt, dù có đi làm xa hay đi học xa cũng về trong khoảng 23 tháng chạp âm lịch để vui vầy trong ba ngày tết. Đối với phong tục tập quán xưa thường hay chuẩu bị đón tết trước nửa tháng để có thời gian lo cho mọi việc thật chu đáo có rất nhiều việc để làm như; sơn sửa nhà cửa, trang hoàng bàn thờ, câu đối, cây kiển, mua hoa pháo nhang đèn vàng mã, chạp mã để cúng tổ tiên ông bà, sắm sửa quần áo mới, gói bánh chưng bánh tét làm bánh mức muối dưa hành . . . Đến chiều tối ngày 3 tháng chạp âm lịch là mọi công việc phải hoàn tất, nhất là bàn thờ tổ tiên phải hoàn chỉnh nghiêm trang, các thức ăn trong ba ngày tết phải đầy đủ sẳn sàng.
                       Đi thăm mồ mã hay còn gọi là chạp mã
       Từ sáng sớm ngày 23 tháng chạp âm lịch cho đến chiều tối, con cháu trong gia tộc phải tập trung đầy đủ để cùng đi dọn dẹp làm cỏ, sơn quét mồ mả tổ tiên ông bà, người trưởng tộc hay cha mẹ hướng dẫn đi đem theo cuốc xẻn hương hoa phẩm vật bánh trái để cúng và mời vong linh tổ tiên ông bà về ăn tết với con cháu trong ba ngày tết.
                       Tục cúng đưa ông Táo về trời
          Sự tích Ông Táo, chuyện ngày xưa kể lại; có hai vợ chồng nghèo nhưng ăn ở rất là hạnh phúc, làm việc rất là vất vã cực lực nhưng không đủ ăn, nghèo vẫn cứ lai hoàng nghèo, anh chồng bèn nói với vợ chắc chuyến nầy em để anh đi làm ăn xa thử một chuyến, cực nhọc anh không sợ miễn làm sao có tiền để em bớt lam lũ cực khổ. Anh quyết định ra đi làm ăn xa để thử thời vận một chuyến, để có tiền trang trải trong gia đình. Chẳng may anh ra đi đã hơn ba năm mà tin tức  không rõ, vẫn chưa trở về, người vợ chờ mãi vẫn biền biệt tăm hơi, chị nghỉ rằng chắc anh chết hay đã gặp một cô nào đó giàu sang phú quý. Dù vậy mà chị vẫn cố gắng chờ đợi, đêm đêm vẫn thương nhớ về anh, thế rồi ngày tháng đi qua chị đành bước đi một bước nửa với người tá điền giàu có, đời sống của chị được sung túc hơn.Nhân ngày 23 tháng chạp âm lịch gia đình chị cúng cuối năm và phát chẩn bần cho những người nghèo khó ăn xin, khi chị đưa các thức ăn đến cho họ thì chị bất chợt nhận ra trong số những người ăn xin đó có chồng chị là người chồng cũ năm nào, anh nhìn thấy vợ mình thì ngạc nhiên cho rằng vợ mình không chung thủy nặng lời mắng chị, chị oan ức quá cho nên chị liền nhảy vào đống lửa đốt vàng mã cao ngun ngút ở ngoài sân để tự vận, anh chồng cũ vì quá thương vợ mà nhảy theo vào đống lửa, người chồng mới là ông tá điền vì quá thương tâm nên anh cũng nhảy luôn vào đống lửa thế là cả ba người cùng chết. Ba linh hồn người ấy lên thượng giới chầu Ngọc Hoàng, Ngọc Hoàng vì cảm thương tình cảnh của ba người ấy bèn cho hóa thành ông Táo trở về hạ giới để phục vụ cho mọi người dùng để nấu ăn và có nhiệm vụ là ngày 23 tháng chạp âm lịch về chầu Ngọc Hoàng bẩm bạch những chuyện xấu tốt của con người ở trần gian, cho nên ngày 23 tháng mỗi năm đều cúng đưa ông Táo về chầu trời, ngoài thức ăn còn có áo mão, giấy tiền vàng để cúng, nhất là người Tàu họ cúng rất lớn.
                        Lễ rước vong linh tổ tiên ông bà
        Các thứ bánh trái được xếp thành cổ để dâng lên bàn thờ tổ tiên ông bà, đây cũng là dịp cả gia đình bái lạy các vong linh cửu huyền thất tổ và trò chuyện tâm sự với nhau vì trong năm qua công việc quá đa đoan không có dịp gặp gỡ, cha mẹ hay anh cả trong gia đình thắp nén hương dâng lên bàn thờ, cầu xin tổ tiên ông bà chứng giám cầu nguyện cho gia đình được bình an và hạnh phúc tài lộc dồi dào trong năm mới, con cháu đều nghiêm trang chấp tay cung thỉnh lễ lạy.

Đốt pháo cúng giao thừa
         
Giao thừa là thời điểm vạn vật với con người giao hòa với nhau từ 12 giờ đến 1 giờ khuya đêm 30 tháng chạp của năm cũ đến rạng ngày mồng một tháng giêng năm mới, nhà nào cũng đốt pháo để tống cựu nghinh tân, pháo tiểu, pháo trung, pháo đại nổ đùng đùng giòn dã, mùi khói pháo và mùi nhang hương xông lên hòa quyện thành một mùi rất đặc biệt thật là tết. Ngày xưa ở thôn quê người ta tin rằng tiếng pháo nổ vang có thể trừ khử được ma quỷ để mang lại an lành cho làng xóm, cho mọi người dân được bình an, lâu rồi nó trở thành tục lệ, ngày nay chỉ có một số ít tin vào điều ấy nhưng nó trở thành tục lệ với mọi người là thích đốt pháo trong đêm giao thừa, kể cả người Âu Mỹ họ vẫn thích đốt pháo mừng năm mới. Trong ba ngày tết tiếng pháo vẫn nổ đì đùng khắp mọi nơi, có khi đến ngày mồng 5 tiếng pháo vẫn còn nổ, tiếng pháo nổ đì đùng rất vui tai, phản ảnh cho sự vui mừng trong ba ngày tết và người ta tin rằng màu hồng của xác pháo là tượng trưng cho sự may mắn.
Tục xuất hành
                                
Tiếng pháo nghe như không ngớt trong đêm giao thừa, âm vang như vọng động thúc dục mọi người đi xuất hành hái lộc đầu năm mới, người thì đi lễ chùa, lễ nhà thờ xin lộc hái hoa, xuất hành là đi ra khỏi nhà trong những giờ phút mới của ngày đầu năm. Có người tin rằng tuổi của mình hạp với hướng nầy hướng kia, chọn giờ hạp, giờ kiết tốt để mang đến cho mình những điều may mắn mỗi khi mình xuất hành ra khỏi nhà trong năm mới.
                             Tục xông đất hay xông nhà
        Theo phong tục và tập quán của người Việt cho rằng người đầu tiên trong năm mới bước chân vào nhà mình là người ấy sẽ đem đến những điều hên hay xui cho gia đình mình trong năm mới, vì vậy mà cứ vào những ngày đầu của năm mới, có những gia đình phải nhờ những người làm ăn phát đạt giàu sang đến xông đất nhà mình, nếu họ không tìm ra người để nhờ thì họ coi tuổi con cái đứa nào hạp tuổi, lanh lợi học hành giỏi có nhiều vận may đến xông đất hay xông nhà trong ngày đầu năm. Người xông nhà, phải ăn mặc chỉnh tề, bước vào cửa chính của gian nhà giữa rồi rảo bước quanh nhà rồi xuống tới nhà bếp, có nghĩa là nói lên sự làm ăn no đủ sung túc.

Tục chúc thọ
          
Trong nề nếp gia phong nền giáo dục Việt Nam luôn luôn dạy cho mọi người phải biết tôn kính những người lớn tuổi cho nên dân gian có câu ‘’ Kính lão đắc thọ ‘’ phải biết kính trọng những người lớn tuổi trong tinh thần khiêm tốn, chịu khó học hỏi ở những người lớn tuổi vì họ đã trải qua đường đời và nhiều kinh nghiệm sống cho nên phong tục Việt có lễ chúc thọ những người lớn tuổi như ông bà cha mẹ, việc chúc thọ đầu năm của người Việt trở thành tục lệ không thể thiếu trong ngày đầu năm mới. Mồng một tết con cháu tỏ lòng hiếu thảo qua việc chúc thọ ông bà cha mẹ hay còn gọi là mừng tuổi thọ, người Việt có quan niệm rằng cứ mỗi độ xuân về là mọi người thêm một tuổi cho nên việc chúc thọ hay mừng tuổi của người Việt đã trở thành tục lệ.

Tục lì xì
         
Một ngàn năm bị người Tàu đô hộ, người Việt không ít hay nhiều cũng bị ảnh hưởng qua những phong cách sống, nhưng người Việt biết cách sửa lại phong phú và nhiều ý nghĩa hơn. Chữ Lì xì được phiên âm từ tiếng Quảng Đông sang tiếng Việt, nguyên âm của Lì là lợi thị tiền bạc tài lộc, Xì là biếu mừng cho hay kính biếu người lớn, mừng cho bạn bè, cho con cho cháu, kính biếu ông bà cha mẹ hay còn gọi là mừng, trong những ngày lễ hội tiền Lì xì được bỏ vào trong phong bì đỏ, màu vàng thắm hay màu hồng, màu đỏ tượng trưng cho sự may mắn, màu vàng là sang trọng quyền quý, màu hồng là hồng phúc, tiền Lì xì của các cụ cho con cháu nhiều nhất là trong ba ngày tết.
                                 
Thăm viếng
          
Sau khi đã có người xông nhà là đến việc tiếp đón bà con, họ hàng, bạn bè đến thăm trong dịp tết, ngày mồng một dành cho các bậc cao niên trong gia tộc cho nên trong dân gian có câu; ‘’ Mồng một tết cha, mồng hai tết thấy ‘’ ngày mồng hai là ngày dành riêng cho việc học trò thăm viếng và chúc tết thầy cô để nêu cao truyền thống tôn sư trọng đạo, ngày mồng ba là ngày đi thăm bạn bè và vui chơi đình đám cờ bạc trong ba ngày tết.
                                    
Tục kiêng cữ
          
Vì những niềm tin của người Việt gần như nó đã có sẵn trong dòng máu của mỗi người cho nên rất dể tin và tin tưởng vào sự kiêng cữ nầy nọ, nó đã có từ lâu đời, truyền từ người nầy sang người khác một cách dể dàng, có đôi lúc còn cả tin vào các việc thần thánh hóa những chuyện huyền thoại như; Tiên sa, tượng hình rơi lệ . . . Nếu những gì hên đem đến cho ngày đầu năm là năm ấy tốt lành, còn những gì xui đem đến cho ngày đầu năm là cả một năm xui. Cho nên người Việt rất cẩn thận từ quà cáp cho đến việc ăn uống, lời nói kiêng cữ những việc không nên làm trong ngày đầu năm như; quét nhà, xác pháo có đổ đầy cũng không quét dọn, không biếu những thứ cấm kỵ, không uống thuốc hay dùng các vật bén nhọn vì coi đó là dấu hiệu không tốt, nói năng nên lựa lời không nên nói những lời thô tục, thở ra hay buồn chán, không làm bể tô chén hay gương soi mặt, không nên mặc quần áo toàn trắng hay toàn đen, những việc kiêng cữ trong ba ngày tết của người Việt bây giờ vẫn còn tin những điều ấy.

Tục dựng cây nêu
                                     
Ngày xưa trong đời sống người Việt còn quá nhiều tin tưởng vào thần linh và ma quỷ cho nên đã có những việc đã xảy ra hay họ còn tin cây nêu là sự gắn bó và báo tin khi có việc hữu sự. Theo truyền thuyết xưa làng xóm chùa chiền thường hay bị ma quỷ quậy phá cho nên phải dùng đến cây nêu trong những ngày tết hay trong các ngày lễ hội vì tin tưởng rằng cây nêu ấy sẽ trừ được ma quỷ bởi lẻ ấy mà các thầy pháp đã ém phép trừ ma. Trong dân gian còn lưu truyền lại một câu chuyện huyền thoại như thế nầy, ngày xưa làng xóm ở Việt Nam bị bệnh đậu mùa làm chết nhiều người, họ tin đó là bệnh bị ma quỷ làm chết nhiều người, họ tin bị bệnh là do ma quỷ gây ra, cho nên họ lên chùa ăn chay cầu Phật để Phật che chở cho mọi người tai qua nạn khỏi. Họ bảo rằng; Phật liền hiện ra và bắt lũ quỷ, bọn chúng xin tha tội không dám quậy phá nữa và Đức Phật căn dặn bọn chúng không được đến những nơi có dấu tích của Đức Phật rồi Đức Phật mới truyền dạy cho mọi người trong dân gian làm cây nêu, rắc vôi trắng chung quanh để trừ ma quỷ, từ đó đến ngày tết dựng cây nêu lên từ chùa chiên miếu vũ ở đình làng và nhà ở hay mỗi khi có hội hè đình đám.
                                     
Tục hái lộc đầu năm
                                   
Niềm tin của người Việt từ việc dựng cây nêu đến việc hái lộc đầu năm cũng đến chùa, nhà thờ để hái lộc hay xin lộc, chữ lộc có hai nghĩa một là lá cây non hai là bổng lộc. Sau khi đi lễ về người ta thường hay ghé qua các cây sum sê, chồi non lộc tốt để hái hay các thầy các cha cho trái cây hay tiền bạc, một cành hoa hay một nhánh lá, tiền lì xì đó gọi là lộc đầu năm, đầy ấp những niềm tin tự hào trong năm mới đã có tài lộc vào như nước.
                                   
Tục khai bút đầu năm
                       
Niềm tin của người dân Việt khoa bản thật là mảnh liệt, đầu năm mới người ta kiêng cữ rất kỹ từ lời nói cách ăn mặc đi đứng, các người uyên bát học giả rất thận trọng từng nét chữ, câu văn, thơ phú, ý nhạc, các cụ thường hay chọn ngày tốt giờ hạp để khai bút làm thơ phú và vay mượn những cảnh trầm hương nghi ngút, hoa cảnh, xác pháo . . . Tức cảnh là thi hứng, các cụ thường làm một bài thơ chữ Nôm hay chữ Hán thơ tứ tuyệt hay thơ đường luật, các bài thơ đều mang ý nghĩa về cảnh thiên nhiên hay mang lại phúc lành cho mọi người trong năm mới. Cho đến ngày hôm nay cũng còn có những người tin theo tục lệ khai bút đầu năm mới, đầu năm mới thường hay đem lại nhiều cảm hứng, vì nhiều cảm hứng tuyệt tác trong mùa xuân an lành và hạnh phúc đến với mọi người.                        
                     
RU CHÁU SỚM MÙA XUÂN


Sớm Xuân bế cháu Tila
Nâng lên ngang ngực nghe Bà hát ru
Bà nghe hạnh phúc vỗ bờ
Niềm vui tháng đợi năm chờ là đây!
Cháu từ bé bỏng hôm nay
Đã như báo trước tương lai rạng ngời
Tự tin nheo mắt reo cười
Tóc quăn sóng biển vui tươi miệng tròn
Chiếc răng nhỏ xíu nhú lên
Thêm duyên thêm cả nét hiền dễ thương
Bà ru cháu ngủ trên giường
Vui như thấy cả con đường mai sau
Tóc như xanh lại trên đầu
Những cơn mệt mỏi tan vào tiếng ru
À ơi! Tan hết ưu tư
Bà ôm ru cháu tưởng như ru mình!


TRẦN KIÊU BẠC
·                     
·                         

o                                                
o                                                
o                                                
                                                                                                         
·                     VOA Tiếng Việt
·                     Chương trình phát thanh
·                     Video
·                     Học tiếng Anh
·                     Về VOA Tiếng Việt
·                             Blogs 
·                             | Nguyễn Xuân Hoàng và Bạn hữu

Nguyễn Xuân Hoàng và Bạn hữu

 Thứ Hai, 16 tháng 1 2012

Một Thoáng Thơ Tứ Tuyệt

·                            E-mail
·                            In
·                            Ý kiến
·                           
·                             
·                             
·                             
Như tên gọi, thơ Tứ Tuyệt (poème de quatre vers, quadrain), là thể thơ bốn câu, tập trung vào một chủ đề, một cảm xúc hay một suy nghĩ. Đó là một bài thơ ngắn, rất riêng, với đăc trưng là không đổi ý và thương kết thúc bằng một ý bất ngờ. Người đời vẫn cho Thơ Tứ Tuyệt phát xuất từ Thơ Đường bên Trung Hoa, từ Thất Ngôn Đường Luật rồi chuyển dần qua Tứ Ngôn hay Ngũ Ngôn. Riêng ở Việt Nam ta, Thơ Tứ Tuyệt được thể hiện luôn qua Thơ Song Thất Lục Bát, Lục Bát, Thơ Năm Chữ, Bốn Chữ hay thậm chí Ba Chữ!

Các Thi Hào, Thi Bá thơ Đường Trung Hoa có nhiều thơ Tứ Tuyệt như là một trong những điểm đặc sắc của Thơ Đường được truyền tụng từ đời nầy qua đời khác trong không gian văn nghệ.

Tôi rất thích thơ Tứ Tuyệt bởi lẽ thơ được trình bày một cách ngắn gọn, nhưng cũng vì ngắn gọn, việc làm thơ Tứ Tuyệt cũng gặp không ít khó khăn vì không dễ dàng diễn tả tập trung vào một ý, một cảnh, một tình, một tâm trạng chỉ qua bốn câu thơ. Không có bố cục mẫu nên nhiều khi Thơ Tứ Tuyệt mở đề tài bằng hai câu đầu, rồi đi đến kết luận bằng hai câu cuối hoặc là câu cuối được dùng để bày tỏ cảm xúc hay mở ra một cảm xúc về hướng khác với đề tài để gây lý thú cho người đọc.

Nghĩ cho cùng, trong thời đại kỹ nghệ tân tiến, người người chạy đua với thời gian thì việc làm và thưởng thức thơ Tứ Tuyệt là một ưu điểm nhờ sự nói ít mà gợi nhiều suy ngẫm cho người đọc. Lắm khi sự ngắn gọn lại chứa nhiều triết lý sâu xa và mới lạ. Thât không quá đáng khi người Trung Hoa vẫn gọi thơ Tứ Tuyệt là “TUYỆT CÚ” (câu tuyệt diệu). Cần nói là khi thưởng thức loại thơ nầy, người nghe, người đọc thường lặng im, như nín thở để cuối cùng, khi câu chót được lướt qua thì thở dài nhẹ nhõm như vừa tìm thấy một điều mới mẻ thú vị.

Xin dẫn vài bài Tứ Tuyệt sau đây của vài nhà thơ nổi tiếng về Thơ  Đường , Trung Hoa và vài bài của nhà thơ Việt Nam đã thành danh qua nhiều thế hệ:

PHONG KIỀU DẠ BẠC (TRƯƠNG KẾ)

(Phiên âm Hán Việt)
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

BẢN DỊCH (TẢN ĐÀ)
Trăng tà, tiếng quạ kêu sương
Lửa chài, cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

LƯƠNG CHÂU TỪ (VƯƠNG HÀN)
(Phiên âm Hán Việt)
Bồ đào mỹ tữu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?

BẢN PHỎNG DỊCH (TRẦN KIÊU BẠC)

Rượu quý Bồ đào chén lưu ly
Chưa uống mà đàn đã giục đi
Đừng cười kẻ say nơi chiến trận
Xưa nay chinh chiến mấy ai về?

HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ (HẠ TRI CHƯƠNG)

Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi
Hương âm vô cải, mấn mao tồi
Nhi đồng tương kiến bất tương thức
Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai?

BẢNDỊCH (TRẦNTRỌNGKIM)
Bé đi, già mới về nhà
Tiếng quê vẫn thế, tóc đà rụng thưa
Trẻ con trông thấy hững hờ
Cười ồ, hỏi khách lạ từ phương nao?

NAM QUỐC SƠN HÀ (LÝ THƯỜNG KIỆT/ 1019-1105)

Nguyên bản tiếng Hán: 
南國山河





Bản phiên âm Hán-Việt: 
Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. 

Dịch thơ:

Sông núi nước Nam
Sông núi nước Nam, vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

MIẾNG TRẦU (HỒ XUÂN HƯƠNG)
Quả cau nho nhỏ miếng trầu ôi
Nầy của Xuân Hương đã quệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá bạc như vôi.

ÔNG PHỖNG ĐÁ (NGUYỄN KHUYẾN)

Ông đứng làm chi đó hỡi ông?
Trơ trơ như đá vững như đồng
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó?
Non nước đầy vơi có biết không?

BA CÁI LĂNG NHĂNG (TRẦN TẾ XƯƠNG)

Một trà một rượu một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta
Chưà được thứ nào hay thứ nấy
Có chăng chưa rượu với chừa trà!

RÉT ĐẦU MÙA NHỚ NGƯỜI ĐI PHÍA BỂ (CHẾ LAN VIÊN)
Cái rét đầu mùa, anh rét xa em
Đêm dài lạnh, chăn chia làm hai nửa
Một đắp cho em ở vùng sóng bể
Một đắp cho mình ở phía không em!

TÙ (HOÀNG CẦM)

Em khép hồn anh quanh sợi tóc
Anh khóa vòng không số ngực em trần
Lạ chưa, hai đứa cùng ao ước
Kết lứa ngồi chịu án chung thân

NÀNG THƠ LẠNH (THẾ LỮ)

Gió bấc giục về, Nương Tử rét
Bạn nghèo không sắm áo nhung tơ
Sương thu gội mãi trên vai giá
Ta lấy gì đây đắp dáng Thơ?

ĐAN ÁO (PHẠM THIÊN THƯ)

Em ngồi đan chiếc áo len xanh
Hẹn gió thu về gởi tặng anh
Rồi em bỏ đó vào thiên cổ
Anh một đời ngóng áo thiên thanh

NẰM ĐÊM ANH CỨ THƯƠNG EM (XUÂN DIỆU)

Nằm đêm anh cứ thương em
Rơi nghiêng nước mắt một bên gối nằm
Thế nầy cho hết trăm năm
Đến muôn năm vẫn âm thầm thương em

ĐỢI (LƯ TRỌNG LƯ)
Yêu với không yêu, nói lúc đầu
Làm chi như thể phỉnh phờ nhau
Hôm ni hôm nớ mong rồi đợi
Trăng nở đầy buồng, người ở đâu?

THƠ BỐN CÂU TRẦN KIÊU BẠC



Giai thoại Thơ Đường Trung Quốc có kể chuyện “Bốn Câu Là Đủ Ý”: Có một chàng thư sinh trẻ tên Tố Vịnh quê ở Lạc Dương đến Tràng An dự kỳ thi Hội.

Đề thi được ra là “Chung Nam vọng dư tuyết” (dịch nghĩa: Núi Chung Nam ngắm tuyết còn sót lại). Thí sinh phải làm bài thơ năm chữ tả cảnh gồm sáu vần trong mười hai câu.

Tố Vịnh suy nghĩ và trầm ngâm, sau cùng chỉ viết ra bốn câu như sau:

(phiên âm Hán Việt)
Chung Nam âm lĩnh tú
Tích tuyết phù vân đoan
Lâm biểu minh tễ sắc
Thành trung tăng mộ hàn.

(dịch nghĩa)
Đỉnh phía Bắc núi Chung trơ trụi
Mây và tuyết thường đọng lại
Phía ngoài rừng ngày sáng rỡ
Trong thành thì giá buốt hơn.

Viết xong, Tố Vịnh đứng lên nộp bài. Quan chủ khảo xem, ngạc nhiên hỏi: Sao không làm trọn mười hai câu? Tố Vịnh cười nói: “ Khi làm thơ viết văn, đáng đi thì đi, đáng dừng thì dừng. Ý tôi đã hết, há có thể lải nhải viết bừa cho đủ số câu?”

Theo trường qui, với bài thơ thiếu tám câu, Tố Vịnh sẽ bị đánh rớt. Nhưng quan chủ khảo sau khi thấy lạ, đọc kỹ bài thơ thì thấy dù chỉ bốn câu, thí sinh đã tả cảnh rất hay, từ ngọn núi đến rừng cây, từ ngày sáng đến chiều tà qua cái lạnh khi tuyết xuống. Ý thơ toàn vẹn, quả là thơ hay!

Ông cảm kích bèn tâu Vua, đề nghị phá lệ, cho Tố Vịnh đỗ Tiến Sĩ. Việc đó thành một giai thoại trong thi cử ở Trung Hoa. Sau nầy bài thơ của Tố Vịnh được tuyển vào Đường Thi Tam Bách Thủ, thành một kiệc tác được lưu truyền dài lâu.
(theo Hoài Anh/ Giai Thoại Thơ Đường và Tác Giả/ Nhà Xuất bản Văn Nghệ 2002).

“Bốn Câu Là Đủ Ý”, tôi suy nghĩ hoài! Vâng, thì không cần nhiều, chỉ cần bốn câu thôi!
Tôi sẽ đưa ra vài bài bốn câu, không dám cho là Tứ Tuyệt vì dù muốn tạo ngạc nhiên hay gây ra cái mới ở câu cuối vẫn thấy đâu đó ý thơ còn vụng về, luật thơ chưa thể chỉnh như thơ cổ, và việc gây thỏa mãn cho người đọc chắc không thể chu toàn, nên chỉ dám mạo muội gởi đi như sau:

NHÌN LẠI
Cuối mùa còn một chút mưa rơi
Hạt nhớ, hạt thương, hạt ngậm ngùi
Mai sau có trầm mình trong nắng
Vẫn nhớ mưa buồn rớt lẻ loi!

TẠ

Tạ ơn đời rót máu về tim
Tạ tình em khóc ướt vai mềm
Tạ từ đêm thức cho trời sáng
Tạ lòng nguyệt quế tỏa hương quen!

KHÔNG ĐỀ

Không giờ, không thấy số không
Đồng hồ đã vẽ hai vòng mười hai
Đêm không em để đêm dài
Không giờ, không cả lòng ai đợi chờ!

GỞI VỀ SÀIGÒN
Mừng nghe nguyệt quế trổ hoa
Chắc là rụng trắng hiên nhà, ngoài sân
Gởi Sàigòn chút bâng khuâng
Người chăm nguyệt quế còn không nụ cười?

XA MẸ
Cầm theo ve Nhị Thiên Đường
Dầu còn phân nửa, tình thương Mẹ đầy
Xa quê đếm chuổi ngày dài
Ve dầu nhỏ xíu giữ hoài bên lưng!

CÚC NỞ HOA

Trồng ở đầu hiên đơn độc Cúc
Mơ hoài Cúc chẳng nở cho ta
Bụt bảo: Con làm thơ Tứ Tuyệt
Cúc Vàng cảm động sẽ ra hoa!

TÓC PHAI MÀU
Chắc buồn nên tóc đẩy xô nhau
Đường rẽ chia hai nửa mái đầu
Một bên quê cũ bên quê mới
Tóc cũng vì quê sớm bạc màu!

LÃNG MẠN ƠI, CON MUỖI

Nằm nghiêng em dáng nhỏ vai mềm
Muỗi đến vo ve trắng cả đêm
Một chút ngực phơi ngoài áo mỏng
Nhìn hoài muỗi chẳng muốn bay lên!

NƯỚC MẮT TRONG CƠM

Bưng chén cơm chiên nhìn thấy Mẹ
Dỗ dành từng muỗng đút cho con
Sao thấy trong cơm dòng nước mắt
Con không ăn được để Mẹ buồn!

TRÊN VẠT ÁO DÀI

Ước chi trên vạt áo dài
Có ghi tất cả những bài thơ tôi
Để khi vén áo em ngồi
Thơ rung từng chữ từng lời mộng du!

THEO CÙNG NGUYỄN BÍNH
Cầm câu sáu tám ngại ngần
Hình như Nguyễn Bính đứng gần đâu đây
Thôi thì mạnh dạn buông tay
Cho thơ lục bát bay đầy vườn thơ!

MỘT GIÂY XAO ĐỘNG

Đìu hiu gió đìu hiu mây
Đìu hiu đến cả bàn tay người tình
Một giây suy nghĩ quẩn quanh
Thì ra mới biết một mình đìu hiu!

THƯƠNG TÓC NGẮN

Lỡ thương tóc ngắn ai rồi
Dẫu trăm mái tóc dài thôi cũng đành
Ngắn vừa đủ động lòng anh
Ngắn vừa đủ buộc mình thành nợ duyên.

SÔNG NƯỚC ĐỒNG NAI
Vẫn là sông nước còn đầy
Mà khô khát cả hàng cây hai bờ
Bên nầy tả ngạn tương tư
Bên kia hữu ngạn dật dờ hồn quê!

NGÃ BA SÔNG
Thuyền xuôi về ngã ba sông
Ai theo nhánh rẽ cho lòng xa nhau
Mình còn hai nhánh sông sâu
Băn khoăn không biết ngã nào mà bơi.

HỌC TOÁN (kính tặng quý Thầy Trần Phiên và Hà Tường Cát trường TH Ngô Quyền, Biên Hoà)
Thầy ra đề Toán khó trần ai
Tìm hoài lời giải mãi loay hoay
Thật tình em ráng vào trong lớp
Bởi không mê Toán chỉ mê Thầy!

TẶNG CÔ HÀNG MỸ PHẨM

Dọn hàng về sớm chi em
Người ta còn đợi mua thêm chút quà
Trăm con mắt ngó từ xa
Chắc chờ mua cái thật thà của em!

NGƯỢC DÒNG

Đêm vừa hết, giọt cà phê còn nặng
Đời đã vơi nhưng đáy cốc chưa vơi
Nước mắt cạn mà khổ đau chưa cạn
Tình còn đây sao người vội xa người?

NGÃ BA ĐƯỜNG
Thôi rồi người đã xa xôi
Sao nghe lòng đắng như đời khổ qua
Đời chia chi những ngã ba
Không chừa một lối cho ta chung đường?

THƠ NGÂY
Đi hoài chưa hết
Một tấc thơ ngây
Đời còn trăm thước
Nên vẫn ngu hoài!

SINH NHẬT
Dù cho sinh nhật đến mấy mươi
Cũng là con trẻ của Mẹ thôi
Mấy mươi cũng vẫn là con trẻ
Cần Mẹ hoài như thuở nằm nôi.

ĐÓN TẾT
Đêm xa quê đón Tết
Một lời ước đơn sơ
Phải chi lòng bánh tét
Nhuộm xanh đêm giao thừa!

PHÚT ĐẦU TIÊN
Sinh con Mẹ đã mừng vui
Cả nhà vang những tiếng cười thân quen
Mình con khóc phút đầu tiên
Phải chăng biết nỗi truân chuyên cuộc đời?

LƯỢM GẠO
Lời Mẹ dặn con hồi thơ trẻ
Hạt gạo như vàng quý biết bao
Lượm hạt gạo rơi lòng nhớ Mẹ
Lời dạy còn ghi, Mẹ chốn nào?

TƯƠNG TƯ

Tôi lại nhìn tôi trong bóng đêm
Tắt đèn nên thấy bóng lạ thêm
Hình như ai núp đàng sau bóng
Là bóng tôi buồn hay bóng em?

TRONG MƠ THẤY MẸ
Nằm mơ thấy Mẹ dắt con đi
Sau trống trường tan dẫn con về
Sương sớm phủ vây màu nắng đục
Tỉnh ra mới biết nắng Cali.

LÒNG CA KỶ
Màn khép rồi, anh có trọn vui?
Chờ cho khán giả bỏ đi rồi
Em lau son phấn ngoài sân khấu
Vãn tuồng, em chỉ có anh thôi!

CƠM TRẮNG

Chiều xuống Mẹ đem nồi vo gạo
Xả hết cám đen, gạo sạch trơn
Quê người cơm tối ngồi thương Mẹ
Nhìn cơm trắng muốt nhớ Mẹ buồn!

CHỈ MỘT NGƯỜI
Những dòng thơ tôi viết
Tưởng gởi cho nhiều người
Nhưng chắc không ai biết
Dành riêng một người thôi!

THĂM MỒ MẸ
Về thăm mồ Mẹ gió đong đưa
Mưa rớt lâm râm khoảng cuối mùa
Áo mỏng đơn sơ còn chưa ướt
Mà sao hai mắt dột đầy mưa?

GIAO THỪA NHỚ QUÊ XA
Giao thừa đón Tết quê xa
Tết xa quê giữa bao la nắng đầy
Nắng đầy, hồn lại mưa bay
Ước chi mọc cánh mà bay về nhà!

TĨNH TỌA

Âm u bóng tối
Đơn độc cuộc đời
Sát na tĩnh tọa
Thấy đời lên ngôi.

ƠN THẦY CÔ

Qua bờ xa, thấy đò còn đưa khách
Tim học trò đập vội tiếng ngân rung
Công người đưa đò dày hơn trái đất
Nhớ ơn hoài NGƯỜI đã chở qua sông!

Ðường dẫn liên hệ

·                            Nguyễn Xuân Hoàng và Bạn hữu blog