HY VỌNG KỊCH HAY ( TUI CŨNG CHƯA COI)
Xin mời xem vở kịch"Giông Tố" của nhà văn Vũ-Trong-Phụng do Ban Kịch "SỐNG" của Túy-Hồng trình diễn ở quận Cam,California.
Kịch dài hơn 3 giờ do Túy-Hồng,Bằng-Kiều,Tú-Trinh,Kiều-Anh...và nhiều nghệ-sĩ nổi tiếng khác trình-diễn rất hay,nên coi.
Đọc thơ của NHÀ THƠ THÂM TÂM
"TỐNG BIỆT HÀNH"
Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng...
Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,
Chí lớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.
Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.
Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Trời chưa mùa thu, tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay...
Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.
THÂM TÂM
Với tôi đây là bài thơ hay nhất trong dòng Thơ Mới trước CMT8. Dỉ nhiên sau 1945 cả Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tố Hửu… chẳng còn sáng tác thơ hay được nửa.
Ở đây người đưa tiễn không tiễn bạn qua sông nhưng vẫn thấy sóng ở trong lòng. Từ “qua” là từ sáng giá của cả đoạn thơ, bởi không thể thay thế bằng từ “sang”, nó hé mở sự ra đi, sự biệt ly mãi mãi. Phải vậy chăng nỗi buồn càng được nhân lên khiến người đưa tiễn không đưa qua dòng sông nào mà vẫn thấy “sóng ở trong lòng”.
Con sông ở đây đã chảy vào lòng người và trở thành dòng sông ly biệt mang những con sóng ngầm bi tráng. Không gian của buổi chiều tiễn đưa “không thắm, không vàng vọt” nhưng lại có tất cả. Nói không mà có bởi bóng chiều đã chen vào đôi mắt của người đưa tiễn “đôi mắt trong”.
Người đi được gọi là “Ly khách”. Câu thơ mang âm hưởng, thi hướng của thi ca cổ và người đi bỗng mang dáng dấp của người tráng sĩ xưa ra đi vì nghĩa lớn. Và người đi cũng xác định có thể không còn được trở về “Ba năm mẹ già cũng đừng mong”. Quyết tâm như thế nhưng trong lòng người đi đã chất chứa nỗi buồn.
Cái buồn ấy được người tiễn đưa thấu hiểu. Nỗi buồn của người ra đi từ chiều hôm trước khi người chị đã quá lứa lỡ thì như sen nở nốt chỉ còn biết khuyên em với dòng lệ sót. Chứng tỏ chị đã khóc, đã khuyên nhiều nhưng vẫn không cản được chí em trai. Và nỗi buồn sáng hôm nay là nỗi buồn của người em thơ ngây chỉ biết im lặng gửi tình yêu và nỗi nhớ trong chiếc khăn tay.
Khổ thơ cuối là khổ thơ đầy chất bi hùng dù nó váng vất chút gì đó tàn nhẫn vô tâm nhưng nó lại có sức gợi vừa thương xót lại vừa phục tinh thần người ra đi.
Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như men rượu say.
Ngay cả người đưa cũng ngỡ ngàng “Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!” Câu thơ mang cảm thán thể hiện sự ngạc nhiên xen lẫn lòng cảm phục.
Ba từ “thà” được lặp lại thể hiện một sự quyết tâm. Người đi như nhắn với người thân yêu của mình: Mẹ coi con như chiếc lá còn sót lại rồi bay đi, đừng buồn và đừng hy vọng. Chị hãy coi em như là hạt bụi. Còn em hãy coi anh như một cơn say rồi tỉnh, để rồi tìm cho mình hạnh phúc khác.
Cái hay và cái đẹp nhất trong bài thơ này là nói đến cuộc chia ly, nói đến nỗi buồn nhưng lại không phải người đi thể hiện mà toàn bộ tâm tư tình cảm đều được người đưa tiễn giãi bày.
Dòng sông trong “Tống biệt hành” hoàn toàn là dòng sông tâm trạng, dòng sông cảm xúc của người tiễn đưa và người ra đi chứ không có chút váng vất nào của một dòng sông hiện thực.
NVP
| 85 NĂM BÀI VỌNG CỔ RA ĐỜI | |
| Từ trong quá khứ đến hiện tại, bản vọng cổ luôn được xem là bản chủ lực của nhạc tài tử cải lương. Cho đến nay nó như một vị hoàng đế trong các cuộc chơi đờn ca tài tử và cả trên sân khấu cải lương.
Buổi bình minh dạ cổ
Ai cũng biết bản vọng cổ do nhạc sĩ Cao Văn Lầu sáng tác tại thị xã Bạc Liêu .Ban đầu có tên Dạ cổ, kế đó là Dạ cổ hoài lang và nay là bài vọng cổ, với từng giai đoạn được nới rộng tiết tấu.
Nhạc sĩ Cao Văn Lầu sinh năm 1892, tại làng Thuận Lễ, tổng Cửu Cư hạ, nay là xã Thuận Mỹ - Châu Thành - Long An. Ông mất ngày 13.08.1976 (âm lịch) tại thị xã Bạc Liêu mà ông chọn làm quê hương thứ hai, nơi đã khai sinh ra bản vọng cổ. Thân phụ của ông cũng là nghệ nhân – Hương nhạc chỉ huy ban nhạc lễ trong làng, tên là Cao Văn Giỏi (Chín Giỏi). Ở vào cái thời mà thực dân và phong kiến đàn áp dân nghèo, người mang nặng kiếp tằm nghiệp dĩ đều phải chịu cảnh đói khổ, lúc đó, gia đình ông phải rời nơi chôn nhau cắt rốn (Long An) dạt về phía Nam, ghé nhiều nơi ở Nam kỳ lục tỉnh và cuối cùng dừng lại ở Bạc liêu. Tại đây, Cao Văn Lầu (Sáu Lầu) thọ giáo thầy đờn Nhạc Khị, một thầy đờn giỏi nổi tíêng khắp Nam kỳ lục tỉnh, đứng đầu nhóm tài tử Bạc Liêu, người đời tôn ông là hậu tổ tài tử cải lương. Sau một thời gian học đờn tranh và kìm, ông Sáu Lầu trở thành học trò xuất sắc nhất trong nhóm các môn đệ của thầy Nhạc Khị. Sáu Lầu thầm yêu cô Hai Thân (con gái thầy Nhạc Khị), nhưng vì nhà nghèo không tiền cưới nên cô Hai Thân phải đi lấy chồng. Câu chuyện tình yêu của Sáu Lầu và Hai Thân theo thời gian chỉ còn là kỷ niệm. Gia đình cưới một người con gái cùng quê cho Sáu Lầu nhưng trớ trêu thay, đã ba năm mà nàng không sinh nở, trong khi cha mẹ Sáu Lầu luôn mong có đứa cháu nội. Hồi đó quan niệm “Tam niên vô tử bất thành thê” rất khắc nghiệt. Cha mẹ Sáu Lầu buộc ông thôi vợ để cưới người khác và cho vợ ông được trở về nhà cha mẹ đẻ.
![]()
Sáu Lầu vẫn chung thủy với vợ. Đêm đêm một mình chăn đơn gối chiếc ông nằm nghe tiếng trống chùa Vĩnh Phước vọng lại đến não lòng. Ông liên tưởng đến tình cảm của vợ chồng ông chẳng khác gì thiếu phụ trông chồng như Hòn Vọng Phu, cùng lúc cảnh đất nước đang bị thực dân phong kiến thống trị. Đêm khuya thanh vắng ôm đờn mà giải bày tâm sự, ông nhớ đến điệu Nam ai với bài Tô Huệ Chức cẩm hồi văn và dựa theo tứ đó sáng tác bản Dạ cổ. Từ câu chuyện tình yêu và nỗi khổ của mình, nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã nâng lên thành tâm trạng chung, tư tưởng nghệ thuật chung của dân tộc lúc bấy giờ để môi người cùng chia sẻ.
...Từ là từ phu tướng
Bảo kiếm sắc phong lên đàng ...Trở lại giang đàng Cho én nhạn hiệp đôi ớ... ơ
Đó là buổi bình minh của bản vọng cổ. Nhạc sĩ Cao Văn Lầu sáng tác giai điệu này khoảng cuối năm 1918, đến năm 1919 thì được phổ biến trong giới tài tử Bạc Liêu. Cũng năm ấy ông lén đến thăm vợ và mấy tháng sau được vợ báo tin bà đã có thai. Cha mẹ ông vui mừng và rước vợ ông về đoàn tụ. Kết quả bào thai ấy là cậu bé Cao Kiến Thiết ra đời (hiện nay là cán bộ về hưu).
Bản vọng cổ thời gian
Từ sau năm 1920 thì bản Dạ cổ hay Dạ cổ hoài lang được phổ biến càng ngày càng rộng khắp miền Tây Nam Bộ, với từng thời gian và tiết tấu được tăng thêm: nhịp đôi, nhịp tư, nhịp tám, nhịp 16, và đến nay là bản vọng cổ nhịp 32. Các cuộc đờn ca tài tử nào cũng không thể thiếu vắng bản vọng cổ, với hơi điệu Nam ai oán, vừa trữ tình lãng mạn, có chút buồn man mác…Ngay khi SKCL ra đời không lâu thì các tác giả tiền bối đã đưa bản vọng cổ vào cải lương và thịnh hành từ sau năm 1930. Càng về sau bản vọng cổ được đưa vào cải lương với số lượng nhiểu hơn, được tách rời từng câu cho phù hợp với tình huống, hoàn cảnh kịch như có lớp chỉ câu 1+2, có lớp 15+16, có màn 3+4 hoặc 1+6… Các tác giả còn viết trọn bài theo các loại nhịp, gọi là bản lẻ và thường xuất hiện trên các hãng băng đĩa, đài phát thanh và các cuộc đờn ca tài tử. Từ cuối thập niên 50 đến nay, nhiều tác giả còn ghép bản vọng cổ với ca khúc tân nhạc, gọi là tân cổ giao duyên rất ăn ý và nhiều tác phẩm đã làm say mê lòng người không ít.
Sự thăng hoa của bản vọng cổ
Bản vọng cổ đã có sức sống mãnh liệt trong lòng công chúng, nó chiếm lĩnh tình cảm tất cả các tầng lớp từ trí thức, đến những người bình dân nhất. Nhiều vị tướng lĩnh, tiến sĩ, giáo sư, bác sĩ ca vọng cổ rất hay và hầu hết dân chúng ở vùng ĐBSCL ca rành "sáu câu vọng cổ". GSTS Trần Văn Khê, có lần thuyết trình về cái đẹp của âm nhạc Việt Nam tại TPHCM đã nói “bản vọng cổ rất đa dạng về phong cách và phong phú về tư tưởng nội dung. Chỉ có câu chữ nhạc trong khuôn khổ nhất định mà mỗi người đờn nghe khác nhau về âm sắc, người ca nhiều hơi, kỹ thuật giọng điệu cũng khác nhau, người viết lời khác nhau tạo hương sắc bản vọng cổ muôn màu muôn sắc tuyệt vời. ”Nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài đến Việt Nam nghe bản vọng cổ rồi bảo Vọng cổ chỉ từng ấy câu, mà quá nhiều lời văn, nội dung cỡ nào cũng dung nạp được và nghe hoài không thấy chán. Và, một nghệ sĩ miền Bắc đã tâm đắc: Nam Bộ có bản vọng cổ vượt thời gian và không gian, thể loại hay mà người ca cũng hay, nhất là miền Tây Nam Bộ sờ đâu cũng đụng ca vọng cổ hay! Phải chăng sự thăng hoa ấy của bản vọng cổ đã đạt đến đỉnh điểm của nó trong lòng mọi tầng lớp công chúng và nó cũng đã vượt đại dương đến nhiều nước trên thế giới.
Cũng chính bản vọng cổ đã khẳng định sức sống và vị trí của mình bởi tính chất đa dạng: hỉ, nộ, ái, ố... Đặc điểm này đã nhanh chóng chắp cánh cho nhiều lớp nghệ sĩ nổi danh. Cô Ba Đắc, Năm Nghĩa, Tư Sạng, cô Ba cần Thơ, Năm Trà Vinh... Đệ nhất danh ca Út Trà Ôn, tiếp nối những sầu nữ Út Bạch Lan, Thanh Nga, Bạch Tuyết, Phượng Liên, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Thanh Kim Huệ, Tấn Tài, Minh Cảnh, Minh Phụng, Minh Vương, Thanh Sang, Phương Quang, Thanh Tuấn, Vũ Linh… Nhờ những câu vọng cổ cải lương hay trên SKCL sàn diễn mà nhiều nghệ sĩ được khán giả coi như thần tượng, họ luôn mong chờ cho nghệ sĩ xuống hò vọng cổ để vỗ tay tán thưởng… Vọng cổ đã làm "cho xiêu lòng chị cho dày duyên em" là thế. Có thể nói không một vở cải lương nào mà không có ít nhất vài câu vọng cổ, vì nó như là máu thịt.
Cứ đến mùa Trung Thu hàng năm ở Bạc Liêu lại tổ chức kỷ niệm ngày mất của nhạc sĩ Cao Văn Lầu, người đã để lại cho nghệ thuật dân tộc một di sản độc đáo, một bản sắc văn hoá của cả nước nói chung và phía Nam nói riêng. Đỗ Dũng (Theo Người viễn xứ) |
NHẶT HOA TRÊN NET
Nhà thờ tộc nhóm Tự lực Văn đoàn mở cửa đón khách
Nhà thờ tộc Nguyễn Tường, thờ gia tộc của Nhóm Tự lực Văn Đoàn ở phố cổ Hội An (Quảng Nam) lưu giữ sách hiếm của các nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam và nhiều đồ cổ, sắc vong vua ban.

Nhà thờ tọa lạc tại địa chỉ 8/2 Nguyễn Thị Minh Khai, gần Chùa Cầu (Hội An) với kiến trúc cổ kính, uy nghi được mở cửa đón khách tham quan vào tháng 7 này. Tiền nhân khởi dựng ngôi nhà vào năm 1806 là cụ Nguyễn Tường Vân (1774 - 1822). Năm Minh Mạng thứ 1 (1820), cụ được thăng chức Binh Bộ Thượng Thư (tương đương Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ngày nay).

Cửa sổ của ngôi nhà thờ tộc này được thiết kế hình quả phật thủ.

Có hai bậc tâm cấp bên nam, bên nữ, dẫn lên lối nhà thờ. Ngăn cách phần hiên với nội thất công trình là ba bộ cửa "thượng son hạ bản", mỗi bộ có bốn cánh.

Bên trong của phủ thờ. Toàn bộ công trình gồm 3 gian 2 chái. Ngoài thờ Binh Bộ Thượng Thư, phủ còn thờ người con thứ là ông Nguyễn Tường Phổ, đỗ tiến sĩ thời Thiệu Trị, hậu duệ của các cụ sau này có các nhà văn trong nhóm Tự lực Văn đoàn là nhà văn Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long).

Nhiều di vật có giá trị được trưng bày tại đây. Trong đó có hai bình hoa bằng gỗ được chạm nổi hình rồng có niên đại hơn 100 năm.

Hệ thống cột kèo của phủ thờ có sự kết hợp khá hài hòa độc đáo của nhiều kiến trúc ở cả hai mái trước, sau. Giá đỡ mái vỏ cua được tạo dáng chạm thủng hình hoa cúc cách điệu mang ý nghĩa vĩnh cửu, trường thọ, bền bỉ kết nối với cây dưa theo đề tài Cát Tường... thể hiện ước vọng sự nối tiếp vô cùng, vô tận.

Gian chính là bàn thờ Binh Bộ Thượng Thư Nguyễn Tường Vân. Những người lo hương khói hiện tại là hậu duệ thứ 9, 10 của cụ. Theo hậu duệ cụ Nguyễn Tường Vân, bức ảnh thờ của cụ được họa trong một lần cụ đi sứ bên Trung Quốc.


Nhiều chiếu chỉ, sắc phong của cụ Nguyễn Tường Vân và người con trưởng Nguyễn Tường Vĩnh qua các đời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức vẫn được gia đình lưu giữ, cất cẩn thận trong tủ sau bàn thờ.

Khi mở cửa phục vụ khách tham quan, các chiếu chỉ, sắc phong vua ban của gia tộc được scan lại, treo hai bên hông phủ thờ.

Phủ thờ cũng đặt ba tủ sách của ba nhà văn Nhất Linh, Thạch Lam, Hoàng Đạo với các cuốn sách vào hàng "hiếm" như tiểu thuyết Đoạn Tuyệt của nhà văn Nhất Linh phần bìa chưa được in chữ, hay cuốn Mười điều tâm niệm của nhà văn Hoàng Đạo... Hậu duệ phủ thờ cũng mong muốn nhận sách hiến tặng từ các độc giả xa gần yêu quý ba nhà văn này để làm phong phú thêm cho tủ sách và phục vụ đông đảo du khách.












