THAY LỜI CHÀO MỪNG!

THAY LỜI CHÀO MỪNG!

LỜI CHÀO MỪNG

CẢM ƠN QUÝ THÂN HỮU ĐÃ MỞ CỬA VÀO NGÔI NHÀ ĐƠN SƠ "QUA DẤU BỤI THỜI GIAN" CỦA
TRẦN KIÊU BẠC.




Tuesday, August 26, 2014

TỪ BẠN BÈ GỞI

Bí ẩn "Biệt thự Winchester” ở San Jose.

  
Biệt thự của gia đình Winchester, California
Vào năm 1919, góa phụ Sarah Winchester đã xây ngôi nhà bề thế này ở San Jose, California với hy vọng nơi cư trú mới sẽ giúp bà tránh xa những linh hồn ma quỷ đang cố gắng ám ảnh bà.







Khung cửa sổ tạc thẳng xuống nền nhà, thùng thư đâm ngược đầu xuống đất, cửa ra vào mở ra khoảng tường trống không, dãy cầu thang đâm lên nóc nhà chới với…, những chi tiết này dường như vẫn chưa lạ lùng bằng việc: trong suốt 38 năm rõng rã, ngày cũng như đêm, goá phụ Sarah Winchester nằng nặc đòi tiếng quai búa phải vang lên không một giây ngừng nghỉ.
Sinh ra trong một gia đình quyền quý vào hàng bậc nhất nước Mỹ cuối những năm 1830, tại New Haven, Connecticut, Sarah Winchester một thời đã từng khuynh đảo giới thượng lưu thành phố bởi vừa quyến rũ, mặn mà, lại có chút ít năng khiếu âm nhạc và biết vài ngoại ngữ.
Năm 1862, bà kết hôn cùng người thừa kế duy nhất của dòng họ Winchester, thừa hưởng gia sản khổng lồ là công ty vũ khí Winchester Repeating hùng mạnh. Năm 1866, Sarah sinh hạ bé gái đầu lòng, đặt tên là Annie.
Kể từ lúc đó, tại hoạ bắt đầu giáng xuống gia đình Winchester. Cô con gái chết non ngay từ thời còn đang ẵm ngửa, sự kiện này khiến Sarah suy sụp đến mức gần như mất trí. Không lâu sau đó, năm 1881, ông chồng William cũng qua đời vì bệnh lao. Sarah nghiễm nhiên được trao quyền sở hữu 50% cổ phần công ty cùng số tiền 20 triệu USD - một khoản kếch xù ít ai dám mơ ước vào thời ấy.
Bi an Biet thu Winchester
Sarah Winchester
Tuy nhiên, gia sản khổng lồ cũng không làm cơn đau nguôi ngoai đi được phần nào. Goá phụ quẫn trí bắt đầu ám ảnh: gia đình bà đang bị nguyền rủa bởi chính những linh hồn tử trận dưới vũ khí của công ty Winchester. Cùng lúc đó, Sarah nhận được mách bảo từ “cõi trên” thông qua ông đồng bà cốt, rằng: để vĩnh viễn thoát khỏi những linh hồn báo thù, bà phải tránh xa ngôi nhà hiện tại và dựng lên một công trình bất tử.
Với lòng tin tuyệt đối, năm 1884, Sarah Winchester tìm tới San José, California - khi đó vẫn còn là một vùng đất hoang vu hẻo lánh, mua lại một trang trại nhỏ bé nằm trên diện tích rộng hơn 160 mẫu vuông. Ngay sau đó, “công trình vĩnh cửu” được khởi công mà không ai đoán được rằng, nó chỉ có thể dừng lại cùng cái chết của “goá phụ điên”, tức là gần 40 năm sau đó.
Bi an Biet thu Winchester
Biệt thự Winchester những năm đầu xây dựng
Công việc xây dựng được tiến hành 24 giờ mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần…, bởi một đội ngũ gồm 16 người thợ trai tráng, lành nghề, đặc biệt được trả lương rất cao. Điểm khác thường đầu tiên là cả một công trình lớn nhường ấy nhưng không hề có bản thiết kế tổng thể nào, ngoại trừ một số phòng riêng biệt được đích thân Sarah phác thảo bằng những mô tả và hình khối rất kỳ quái.
Bi an Biet thu Winchester
Sarah Winchester đi xe ngựa
Sự mê tín nặng nề của goá phụ ngày càng không thể kiểm soát và phản ánh vào từng chi tiết ngôi nhà. Những kiến trúc kỳ dị như cầu thang đâm lên trần nhà, cửa chính mở ra bức tường trống hoác… chỉ là số ít trong những ví dụ điển hình. Ngoài ra bà còn yêu cầu phải có sự hiện diện của con số 13 ở khắp mọi nơi: 13 giá nến, 13 hàng cây, 13 cửa sổ phòng tắm…
Bi an Biet thu Winchester
Cầu thang lên... trời


Bi an Biet thu Winchester
Cầu thang xoắn đâm ra... bờ tường
Sarah cũng không bao giờ ngủ trong một phòng quá một đêm, rõ ràng là bà sợ ngõ ngách căn nhà nơi nào cũng bị ma ám. Mỗi tối, bà ngồi chọn lựa trong số 40 phòng ngủ nên ngả lưng ở phòng nào, sau đó thức đến tận 2 giờ sáng để nói chuyện với các linh hồn.
Dù sao, cũng không thể phủ nhận Biệt thự Bí ẩn Winchester mang nhiều giá trị kiến trúc độc đáo. Tính hiện đại của nó, xét trong thời điểm được xây dựng, không khỏi khiến người ta giật mình. Cả lâu đài được thắp sáng bằng hệ thống đèn nút bấm dùng khí đốt, gần giống kiểu đèn điện công tắc mãi sau này mới phát minh. Hệ thống ống nước và sưởi ấm chạy bằng hơi nước, nhà vệ sinh và tắm vòi sen khép kín. Bên trong khuôn viên nhà còn có 3 cầu thang máy, một trong số đó được thiết kế riêng biệt cho toà nhà.
Bi an Biet thu Winchester
Một trong số 40 phòng ngủ rộng thênh thang
Bi an Biet thu Winchester
Sảnh khiêu vũ lộng lẫy
Vụ động đất lịch sử San Francisco năm 1906 đã phá huỷ toàn bộ 3 tầng trên cùng của biệt thự. Kỳ tích, Sarah Winchester không mảy may thương tích mặc dù bị căn phòng sụp xuống giữa lúc bà đang ngủ. Sau nhiều giờ đồng hồ, người ta phải dùng xà beng đào bới mới lôi được bà ra khỏi đống đổ nát.
Sarah Winchester từ giã cõi đời vào tháng 9 năm 1922 ở tuổi 82. Khi đội thợ trung thành phát hiện ra, guồng máy xây dựng bị dừng lại ngay lập tức. Cho đến tận bây giờ, khách tham quan vẫn còn được thấy nhiều phòng ốc, tường vách… đang còn dang dở, thậm chí đinh còn treo lủng lẳng trên tường. Ngoại trừ được bảo trì và sơn sửa lại, tất tật mọi thứ được giữ gần như nguyên vẹn từ hồi ấy đến giờ.
Bi an Biet thu Winchester
Toàn bộ khuôn viên rộng 160 mẫu vuông
Ngày nay, biệt thự 160 phòng rộng thênh thang đã trở thành điểm thu hút đông đảo khách du lịch, mặc dù không ít người vẫn tin rằng ngôi nhà chưa thoát khỏi lời nguyền của những linh hồn tử trận: vẫn lẩn quất đâu đó những âm thanh lạ lùng, những cảm giác bủn rủn lạnh giá…
Hải Minh
Sưu tầm
Biệt thự Winchester ở San Jose

Sau khi mất chồng và con gái sơ sinh, năm 1881, Sarah Winchester - người vợ của William Winchester, nhà sáng chế vũ khí với nhãn hiệu súng trường nổi tiếng Winchester - đã gọi hồn nói chuyện với chồng. Ông vua súng thông báo rằng, những linh hồn đã bị giết bằng súng Winchester sẽ quay lại trả thù gia đình và giết Sarah!


Để chống cự lại việc trả thù, bà góa phụ Sarah cô đơn đã xây một biệt thự kỳ quặc 160 phòng với các hành lang dích dắc, các cửa và cầu thang không dẫn đến bất cứ đâu. Tất cả đã làm nên một ngôi nhà ma kỳ bí được xây dựng kéo dài trong suốt gần 40 năm. Hiện nay, ngôi nhà trở thành một điểm tham quan rất nổi tiếng ở Cali, đặc biệt là dịp Halloween.

Monday, August 25, 2014

THO CHO CHA


NHỮNG BÀI THƠ NGĂN NGẮN!


NHAT HOA TREN NET

Phạm Duy, người phổ nhạc thần tình cho thơ

Nhạc sĩ tài danh đã khéo léo đưa những giai điệu tinh tế nhập vào thơ, chắp cánh để thơ thăng hoa trong cõi bất tử.
Trong những tác phẩm của Phạm Duy - người du ca qua hai thế kỉ nhạc Việt, người nhạc sĩ tài hoa của nền tân nhạc Việt Nam - thật khó có thể phân định rạch ròi ranh giới giữa nhạc và thơ. Ông là người đã đưa hồn thơ quyện vào tiếng nhạc, khiến nhạc và thơ cứ vấn vít, giao hòa trong một vẻ đẹp quyến rũ, diệu kì.
Phạm Duy có lẽ là nhạc sĩ phổ thơ hay nhất trong âm nhạc Việt Nam. Trình độ phổ thơ của ông đã lên đến độ thần tình khi khéo léo đưa những giai điệu tinh tế nhập vào thơ, chắp cánh để thơ thăng hoa trong cõi bất tử.
Nhạc phổ thơ của Phạm Duy đa dạng về tiết tấu, phong phú trong cảm xúc, lúc trữ tình, thi vị khi phổ “Cô hái mơ” của Nguyễn Bính, “Tiếng sáo Thiên Thai” của Thế Lữ; lúc lặng buồn, hiu hắt khi phổ “Ngậm ngùi” của Huy Cận, “Còn chút gì để nhớ” của Vũ Hữu Định.
Bên cạnh đó, lúc lại bi hùng khi phổ thơ Quang Dũng; lúc sâu thẳm tâm linh khi phổ thơ Phạm Thiên Thư; lúc mộng mị, siêu thực khi phổ thơ Hàn Mặc Tử, Bích Khê… Vừa trong sáng, gợi cảm, vừa điêu luyện, hài hòa, hàng trăm bài hát phổ thơ của Phạm Duy đã, đang và sẽ làm say lòng biết bao thế hệ người nghe.
Giáo sư Trần Văn Khê trong chương trình “Thơ phổ nhạc” do hiệp hội UNESCO Hà Nội tổ chức đã dẫn ra hai ví dụ để nói về tài phổ thơ của Phạm Duy. Đó là câu ca dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa” được Phạm Duy phổ thành “Trèo lên/ lên/ trèo lên/ trèo lên/ lên/ trèo lên/ lên cây bưởi/ hái hoa” (Nụ tầm xuân) khiến người nghe cảm thấy như có một con người đang trèo lên thật sự.
Đặc biệt là câu thơ: “Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa” trong "Truyện Kiều" được nhạc sĩ linh hoạt thay đổi vị trí chữ, phổ thành “Khép nép bên hoa/ Khép nép bên hoa/ hai Kiều” tạo cảm giác như cánh tay chỉ về phía hai nàng Kiều đang thẹn thùng, e lệ bên hoa.
Đây là hai trong số rất nhiều trường hợp đạt đến chỗ tuyệt diệu trong nghệ thuật phổ thơ của Phạm Duy. Những bài thơ hay trong thi đàn Việt Nam qua tâm hồn Phạm Duy một lần nữa được sáng tạo để mãi mãi tỏa sáng như những viên ngọc lung linh, huyền ảo trong bầu trời nghệ thuật.
NS-Phamduy-5130-1407124280.jpg
Nhạc sĩ Phạm Duy: Nhạc sĩ – thi sĩ chân chính, một trong những người không lồ của nền nghệ thuật Việt Nam thế kỉ XX.
Không chỉ thuần thục, điêu luyện khi đưa nhạc vào thơ, Phạm Duy còn tỏ ra rất tài tình khi quyện hồn thơ vào tiếng nhạc. Cùng với Văn Cao, Trịnh Công Sơn, Phạm Duy được xem là một trong những nhạc sĩ đặt lời đẹp nhất trong âm nhạc Việt Nam hiện đại.
Thả hồn trong những ca khúc của ông, người nghe không khỏi xao xuyến, bâng khuâng trước bức tranh quê được vẽ ra từ nỗi hoài hương: “Quê hương ơi! Bóng đa ôm đàn em bé/ Nắng trưa im lìm trong lá/ Những con trâu lành trên đồi/ Nằm mộng gì? Chờ nghe tôi thổi khúc sáo chơi vơi” (Tình hoài hương).
Trước cảnh nương chiều yên ả, thanh bình, ông viết: “Chiều ơi/ Lúc chiều về rợp bóng nương khoai/ Trâu bò về giục mõ xa xôi/ ơi chiều/ Chiều ơi/ Áo chàm về quảy lúa trên vai/ In hình vào sương núi chơi vơi/ Ơi chiều” (Nương chiều).
Làm sao quên được những ca từ nhẹ nhàng, êm ái như xuyên thấm vào chỗ thẳm sâu nhất trong mỗi con tim người Việt, khơi dậy những tình cảm sáng trong dành cho quê hương xứ sở: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi/ Mẹ hiền ru những câu xa vời/ À à ơi! Tiếng ru muôn đời/ Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui/ Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi”.
Có thể nói, ca từ Phạm Duy là thơ, những vần thơ rất đỗi tài hoa. Và nếu đứng riêng với nhạc, nó xứng đáng được xem là những bài thơ thực thụ.
Chất thơ trong ca từ Phạm Duy còn được thể hiện một cách đặc sắc khi ông đặt lời Việt cho những ca khúc ngoại quốc. Không chỉ là người có công đầu trong việc phổ biến những tinh hoa trong âm nhạc nhân loại như "Torna a Surriento”, “The Blue Danube”, “Gloomy Sunday”… đến với thính giả Việt, Phạm Duy còn là người đem đến cho những ca khúc ấy những ca từ tuyệt đẹp.
Đó là những dòng thơ lãng mạn trong ca khúc “Dòng sông xanh” (The Blue Danube): “Ánh dương lên xôn xao/ Hai ven bờ sông sâu/ Cười ròn tiếng người/ Đẹp lòng sớm mai/ Những cô em tươi môi ngồi giặt yếm yên vui/ Thả ý thắm theo người chở gió về xuôi”.
Là cảm giác ma quái, rùng rợn toát ra từ ca từ của ca khúc “Trở về mái nhà xưa” (Torna a Surriento): “Về đây nghe tiếng hú hồn mê oan/ Về đây lắng trầm khúc nhạc truy hoan/ Về đây nhé! Cắm xong chiếc thuyền hồn/ Ôi thoáng nghe dây lòng tiếc đờn”. Phần lời giàu chất thơ ấy đã khiến những ca khúc kia vượt qua được ranh giới của sự khác biệt ngôn ngữ mà nói lời đồng điệu với bao con tim người Việt.
Non một thế kỉ đi lại trên mặt đất này, Phạm Duy tự nguyện làm chàng lãng tử hát rong của thời đại, dùng những nhạc phẩm của mình mà “Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”.
Với những “Khúc ca thơ” vấn vít giữa âm nhạc và thi ca ấy, ông xứng đáng được xem là một nhạc sĩ – thi sĩ chân chính, một trong những người không lồ của nền nghệ thuật Việt Nam thế kỉ hai mươi.

THƠ TRẦN KIÊU BẠC


VUI VUI TREN NET

Đi ăn cưới vợ cũ" và "Nhậu với chồng cũ của vợ"

Mình có cô bạn đang chiến tranh lạnh với chồng vì chồng thỉnh thoảng vẫn quan tâm chăm sóc vợ cũ và hai con do vợ cũ nuôi, dù việc chồng làm chỉ xuất phát từ tình thương chứ không vì tình yêu. Chuyện này kể cũng buồn vì hai vợ chồng cô bạn đều đã già, đều đã từng ly hôn và kết hôn lại, tưởng rằng như thế sẽ biết nhường nhịn nhau và thông cảm với nhau. Biết cô ấy thường xuyên đọc Blog này nên mình đăng lại hai bài thơ dưới đây của nhà thơ Bùi Hoàng Tám cho bạn ấy đọc. Mong cô ấy suy nghĩ và hiểu chồng.
Đi ăn cưới vợ cũ 


Vợ cũ đi lấy chồng
Mời mình về ăn cưới
Mình bàn với vợ mới
Có đi không vợ ơi!
Vợ mới cười rất tươi
“Chị mời thì nên đến
Hai chúng mình cùng đi
Để tỏ tình thân mến!”

Vợ cũ mặc rất đẹp
Nhìn thấy chạy đến chào
Chồng mới của vợ cũ
Ra tận nơi đón vào

Ôi cuộc tình rổ rá
Mà cưới vui bất ngờ
Mọi người tranh nhau hát
Mình cũng lên đọc thơ

Trong làn khói lơ mơ
Ghé tai mình hỏi vợ
”Nếu cuộc tình này vỡ
Mình có mời anh không?”

*
**

Nhậu với chồng cũ của vợ

Vợ mừng ngày sinh nhật
Mời chồng cũ đến nhà
Chồng cũ đi tầu hỏa
Mình đón ở nhà ga

Vì đường về hơi xa
Hai đứa vào quán nhậu
Trước còn anh với tôi
Sau thành tớ với cậu

Đi đón từ tinh mơ
Về nhà trời sâm sẩm
Hai đứa đổ xuống giường
Rồi ngáy vang như sấm

Sáng mai vợ dậy sớm
Tiến chồng cũ lại nhà
Vợ ôm rất nhiều túi
Trong túi rất nhiều quà

Cái này cho các cháu
Cái này biếu ông bà
Còn cái này em gửi
Cho dì hai dưới nhà

Tầu dần dần rời ga
Mắt vợ ầng ậng lệ
Sống mũi mình cay cay
Muốn nói mà không thể

Ôi cuộc đời dâu bể
Ôi mỏng manh kiếp người
Lần sau, lần sau liệu

Còn có nhau trong đời!
Nghĩ Về Một Nơi Không Quên

Chiều xuống lặng im bên nầy chân trời
Nghe nhớ quá bên kia chiều Hà Nội
Một cõi lòng xa quê buồn vời vợi
Một nửa đời xao xác lá thu phai




Đâu cần gọi tên Hà Nội của ai
Nghe vị chua là thấy hàng cây sấu
Nghe hương thơm biết tan mùi hoa sữa
Ngần ấy thôi mà thương nhớ lên đầy

Ngày qua nhanh chưa kịp thấy mặt trời
Đêm co ro lời than van của phố
Chải lại tóc cho đường ngôi chia nửa
Một nửa giận hờn, nửa khác bao dung

Xin trở về những con phố tình nhân
Hà nội vươn vai lớn trong trí nhớ
Những người tình đổi trao hương trong gió
Chờ đêm tàn đốt lửa sưởi lòng nhau

Hà nội ơi! đời khi biển khi dâu
Người vẫn sáng những tia trăng vằng vặc
Tôi mơ chạy theo gió muà Đông Bắc
Về lại Hà thành nhìn gót đỏ chân ai

Hà nội theo tôi ở mãi bên nầy ...


Trần Kiêu Bạc

THƠ XƯỚNG HỌA

DẤU CHÂN XƯA CHO ANH TRẦN KIÊU BẠC

Dấu Bụi Thời Gian vẫn đậm đà (*)
In  hình Từ Mẫu rất sâu xa
Mênh mang đất khách,  vầng mây trắng
Bàng bạc quê hương , bóng mẹ già
Vàm Cỏ, tiếng sông còn thổn thức
Biên Hoà, hương bưởi chửa phôi pha
Bâng khuâng tìm lại thời niên thiếu
Những dấu chân xưa chẳng nhạt nhòa!
THY LỆ TRANG
(*) Tập thơ Qua Dấu Bụi Thời Gian của TKB)
(Massachusetts)
Bài Họa
DẤU BỤI THỜI GIAN
Thời gian như cánh nhạn la đà
Dấu bụi còn đây nỗi xót xa
Nhớ đã in sâu thời  tuổi trẻ
Thương còn lay động khúc xuân già
Mây đùn lớp lớp như tranh vẽ
Nắng dựng hàng hàng tựa ráng pha
Một góc trời quê giờ biến mất
Ngàn năm kỷ niệm mãi không nhoà!
TRẦN KIÊU BẠC

(California)

THO SINH NHAT


Monday, August 18, 2014

THÁNG 7, MÙA VU LAN, NHỮNG BÀI THƠ MẸ!


NHAT HOA TREN NET

Cộng đồng mạng rơi nước mắt vì tự sự đớn đau của cha đẻ "Màu tím hoa sim"

"Rất cảm động, vì sự chân thành, vì tình người, tính người. Và có thể hình dung cả bối cảnh một thời cuộc tao loạn. Mỗi số phận cá nhân đều chứa trong lòng nó những bi kịch của lịch sử" - (Kim Dung) 

Vài ngày gần đây, những tự sự của nhà thơ Hữu Loan, cha đẻ "Màu tím hoa sim nổi tiếng" đã tạo ra niềm xúc động lớn trong với cộng đồng mạng. Tự sự đớn đau này được chia sẻ  rất nhiều trên Facebook tạo nên nhiều thổn thức.

"Rất cảm động, vì sự chân thành, vì tình người, tính người. Và có thể hình dung cả bối cảnh một thời cuộc tao loạn. Mỗi số phận cá nhân đều chứa trong lòng nó những bi kịch của lịch sử" - (Kim Dung)

Những người yêu thơ tình, không ai không biết đến bài thơ "Màu tím hoa sim đầy xúc động". Đằng sau đó là một câu chuyện còn sâu sắc hơn, đau đáu hơn của tác giả Hữu Loan.

Nhà thơ Hữu Loan

 Nàng có ba người anh
Đi bộ đội
Những em nàng còn chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh.
Tôi là người chiến binh
Xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới,
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân,
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi!

Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng đời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ
Bé bỏng chiều quê ...

Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con
Đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương
Tàn lạnh vây quanh ...

Tóc nàng xanh xanh
Ngắn chưa đầy búi
Em ơi!
Giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được trông thấy nhau một lần.

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa một mình
đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa...


Một chiều rừng mưa
Ba người anh
Trên chiến trường Đông Bắc,
Biết tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng.

Gió sớm thu về
Rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió thu về
Cỏ vàng chân mộ chí.

Chiều hành quân
Qua những đồi sim ..
Những đồi hoa sim ...,
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím cả chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa.
Áo tôi sứt chỉ đường tà,
Vợ tôi chết sớm mẹ già chưa khâu

Hữu Loan

 Đây là những dòng tự thuật của chính nhà thơ Hữu Loan:

"Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học.

Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh Văn Xuấn, Đỗ Thiện và…tôi – Nguyễn Hữu Loan.

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái Thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên.

Ở Thanh Hóa, bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới. Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.

Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi - mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời.

Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”.

Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..

Có lần tôi kể chuyện ”bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ…

Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..


Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì.

Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:- Thầy có thích ăn sim không ?- Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ …

Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi. Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: Ngọt quá!

Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế!

Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!

Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến.

Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …

Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi.

Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp… Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ”soạn kịch bản”.

Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ”yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”.

Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng.

Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ.

Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..

Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối!

Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn…

Dường như càng kìm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép.

Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…

Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh.

Đó là bài thơ Màu tím hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim…

Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!

Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn.

Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng…

Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông…

Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày.

Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo.

Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi …

Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956, khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa.

Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước.

Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .

Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách.

Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta.

Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói.

Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.

Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no…. Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!

Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.

Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự.

Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu tím hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.

Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán".

Nhà thơ Hữu Loan
Nguyễn Đắc Song Phương ( Song Phương ) chuyển