THAY LỜI CHÀO MỪNG!

THAY LỜI CHÀO MỪNG!

LỜI CHÀO MỪNG

CẢM ƠN QUÝ THÂN HỮU ĐÃ MỞ CỬA VÀO NGÔI NHÀ ĐƠN SƠ "QUA DẤU BỤI THỜI GIAN" CỦA
TRẦN KIÊU BẠC.




Thursday, April 21, 2016

HOÀNG ÁNH NGUYỆT


LÒNG MẸ TRONG THƠ TRẦN KIÊU BẠC
          Thành thật cám ơn nhà thơ Trần Kiêu Bạc đã gởi tặng tập thơ Qua Dấu Bụi Thời Gian. Tập thơ đến tay tôi vào một sáng đầu xuân. Ngoài trời nắng đẹp, cây lá xanh tươi, hương hoa ban mai thoang thoảng nhẹ đưa.Tôi là người yêu thơ nên đón nhận tập thơ với lòng hân hoan, trân trọng. Và tôi cho rằng đó là món quà tinh thần quý giá mà tác giả đã gởi tặng mình.
           Lần dở những trang thơ, tập thơ trình bày đẹp, trang nhã, nhất là hình bìa Dòng Sông Con Đò, sắc màu thân thương, hình ảnh đã làm ta thấy lại quê hương. Thứ tình mà mọi người tha hương đều rất trân trọng.
          Đây là một thi phẩm chứa nhiều kỷ niệm. Tất cả là những bài thơ hay, đậm đà tình cảm về Mẹ, về gia đình, lời lẽ trong sáng, tâm tư của tác giả rất chân thật, rất phong phú, tha thiết với quê hương với bạn bè, với nguồn rung cảm chân thành của một tâm hồn nghệ sĩ, thêm vào đó lời thơ diễn đạt rất nghệ thuật, mỗi bài thơ mang âm hưởng của nhạc, của những cung bậc với giai điệu khi cao khi trầm, vần điệu phóng khoáng, những cảm xúc, những ray rứt lẫn xót xa, tạo ra bao vần thơ thật trang nhã và cảm động. Tôi rất tâm đắt và rất ngưỡng mộ. Tôi lại càng sững sờ và ngạc nhiên lẫn khâm phục về bài viết thay lời bạt của Nguyễn Thị Mỹ Châu hiền nội của tác giả quả là xuất sắc.
          Đặc biệt nhất về thơ của Trần Kiêu Bạc. Tác giả đã dành hầu hết những bài thơ nhắc về “Mẹ”. Mẹ là dáng dấp quê hương, là bóng mát, là những kỷ niệm êm đềm thời thơ ấu. Tác giả khắc họa tình cảm nhớ thương sâu sắc, chân thành và thiết tha, mặn nồng, không sao có thể quên được. Những bài sau khi đọc tôi thật xúc động và rất cảm mến tác giả, bài nào cũng làm tôi ngậm ngùi.
          Đọc Qua Dấu Bụi Thời Gian đã có trong tôi cái cảm khái. Tôi không phải là người bình thơ. Nhưng trong những bài thơ hầu hết đều có một nỗi niềm và tôi cũng tìm thấy nét gần gủi, tôi mạn phép xin nêu vài nhận xét tiêu biểu một số bài thơ mà tác giả viết dành riêng để tưởng nhớ Mẹ mình:

Về thăm mồ Mẹ gió đong đưa
Mưa rớt lâm râm khoảng cuối mùa
Áo mỏng đơn sơ còn chưa ướt
Mà sao hai mắt dột đầy mưa?
(Bài Tứ Tuyệt Thăm Mồ Mẹ trang 240)
          Tôi xúc động mạnh theo những điều tác giả diễn tả qua bài thơ Tứ Tuyệt Xa Mẹ. Phải chăng đó là biểu hiện của một con tim đa cảm, lòng lưu luyến khi khuất xa mới thấm thía. Trong cảm xúc của mình tác giả đã thể hiện:

Cầm theo ve Nhị Thiên Đường
Dầu còn phân nửa, tình thương Mẹ đầy
Xa quê đếm chuỗi ngày dài
Ve dầu nhỏ xíu giữ hoài bên lưng!
(Bài Tứ Tuyệt Xa Mẹ, 1993 – trang 234)
          Với tâm hồn nhạy cảm của thi nhân , anh tâm sự qua lời thơ chân thực mà xót xa:
Xa lộ lạnh l ùng phóng theo đường thẳng
Mà lòng con xa xứ chạy lanh quanh
Con bên này nhớ Mẹ bên kia
Như xa lộ thẳng đường không sao khác
Chiều nay nhớ nhà xe chở đầy hương Tết
Con chở theo mình mùi Mẹ đầu năm!
(Mùi Mẹ Hương Tết - Trang 1)
          Thơ là sự kết tinh ngôn ngữ có chọn lọc, nhà thơ diễn đạt tư tưởng, tình cảm hết sức chân tình. Dù bao nhiêu tuổi đời đi nữa mất Mẹ con cũng bơ vơ, với lòng yêu thương thành kính, tác giả đã viết bài thơ “ Những Lằn Roi Của Mẹ” để nhớ Mẹ, thèm Mẹ, thèm cây roi thơ ấu “ Roi vẫn còn đây Mẹ vắng rồi”:
Nhìn lên ảnh Mẹ những ngậm ngùi
Nhớ lằn roi nhẹ nhớ không nguôi
Con vẫn đi theo đường Mẹ dẫn
Tạ ơn roi Mẹ giúp nên người
(Nhớ Lằn Roi Của Mẹ - trang 2)
          Những vần thơ đó đã làm cho người đọc thật cảm động , trong thơ tác giả mang khá nhiều tâm sự, rất gần gủi, rất chân thành, người giàu tình cảm thường nhớ về kỷ niệm, tuy những kỷ niệm nhỏ nhoi thời thơ ấu, những lằn roi của Mẹ đã hằn sâu trong tâm khảm, những lằn roi nhẹ giúp con nên người, mà nhớ không nguôi.
          Mỗi bài thơ là mỗi phong cách, tiêu biểu cho một khuynh hướng nội tâm, ẩn hiện đằng sau tâm trạng u buồn:

Thượng tuần tháng Giêng trăng dẫn Mẹ đi
Đóa hồng đỏ trên ngực con hóa thành hoa trắng
Vu Lan nầy trăng về trong mưa xám
Trăng trở lại một mình, hoa vẫn trắng màu tang
Vu Lan nầy không về, mẹ ở tận nơi đâu?
(Mùa Trăng Vu Lan Vẫn Biền Biệt Mẹ - trang 3)
          Anh đã cụ thể hóa trong ý thơ của mình"Trăng dẫn Mẹ đi…Trăng trở lại một mình…” Nỗi nhớ của anh càng sâu sắc.
          Và tâm trạng buồn thương ấy đã luôn luôn ám ảnh, những lời thơ Lạy Mẹ, dâng Mẹ não nuột đến vô cùng, tác giả nghẹn ngào, “Khi nắm đất sau cùng lấp kín mộ sâu”… “ Con quỳ đây lạy Mẹ đến vô cùng”, đọc bài “ Bài Thơ Dâng Mẹ” tôi không khỏi cảm thương, không có thứ tình nào cao quý thiêng liêng bằng tình Mẹ, mất Mẹ rồi  “Quỳ trước bàn thờ cam phận mồ côi”:

Khi nắm đất sau cùng lấp kín mộ sâu
Con trở về nhà một mình trống vắng
Trên ngực con nở đóa hoa hồng trắng
Quỳ trước bàn thờ cam phận mồ côi
Con quỳ đây lạy Mẹ đến vô cùng
Trong hương khói tìm đâu hình bóng Mẹ
Nửa đoạn đời sau trong miền dâu bể
Vẫn mang nặng hoài hai chữ mồ côi

Những lạy nầy xin dâng Mẹ, Mẹ ơi!
(Bài Thơ Dâng Mẹ - trang 4)
          Nỗi buồn đã theo suốt cả đoạn đời anh, anh sống với nó và hòa điệu thành sức sống của những lời thơ nhớ nhung “Bài thơ nầy viết riêng Mẹ thôi” tuyệt diệu, diễn tả chân dung người Mẹ bằng những giọt lệ từ con tim, cảm động biết bao:
Bài thơ nầy con viết riêng Mẹ thôi
Mưa bây giờ gợi nhớ lúc mưa xưa
Mưa quất mạnh lằn roi vào đời Mẹ
Những giọt mưa đau cướp đi tuổi trẻ
Những trận roi đời làm đời Mẹ mất niềm vui

Bài thơ nầy con viết riêng Mẹ thôi…
(Bài Thơ Viết Riêng Cho Mẹ - trang 5)
          Với tâm hồn đa cảm, hình ảnh người Mẹ hiền là chất liệu tạo cảm xúc trong thơ, qua lời thơ lúc nhẹ nhàng lúc sầu não, đêm vẫn đen vô cùng “Từ khi con mất Mẹ” một nỗi mất mát to lớn “Còn cơn bão nào không”… “Nỗi đau đớn ngậm ngùi”:
Trong hư ảo khói nhang
Con nghe mùi của Mẹ
Mùi thơm ngày còn bé
Hương sữa Mẹ đầu đời
Mùi riêng Mẹ cho con!
(Trong Hư Ảo Khói Nhang, Vẫn Còn Thơm Mùi Mẹ - trang 6)
          Nhà thơ cảm thấy trống trải quạnh hiu, trông ngóng mỗi chiều chờ đợi Mẹ về, nhưng Mẹ đã xa cách ngàn trùng. Thấy lá vàng rơi, một chiếc lá bay vô tình nào có phải Mẹ về thăm! Không phải Mẹ đâu!:
Chiều đợi Mẹ về! Không thấy Mẹ đâu!
Trông ngóng Mẹ ngày nầy qua ngày khác
Không có Mẹ lắm lần con đi lạc
Không ai dắt qua vũng xoáy cuộc đời
Chiều đợi Mẹ về! Chỉ thấy khói nhang!
(Chiều Đợi Mẹ Về - trang 7)
          Những lời thơ rung cảm về cuộc sống, băn khuăn day dứt “Đêm Bên Ảnh Mẹ” quỳ bên ảnh Mẹ mà thấy xa thật xa:
Mẹ gần con tiếng khóc
Như ngày con ra đời
Mẹ bây giờ cách biệt
Con bây giờ mồ côi
(Đêm Bên Ảnh Mẹ - trang 8)
          Cái buồn thiên cổ, cái buồn gắn với đời dĩ vãng xa xăm, nhiều câu nói lên cái buồn đều có ý nghĩa mênh mang thương tiếc như thế, khi về với Mẹ sau nhiều năm xa biệt ở quê người, không có Mẹ kề bên “Loanh quanh trong khốn khó cuộc đời” Nhưng hởi ơi! ngày về “Bếp Lạnh”:
Con tần ngần trước cửa Mẹ ơi
Không thấy Mẹ đâu, Mẹ vắng rồi
Bếp lửa không ai khơi lửa ấm
Con về con khóc Mẹ không nguôi.
(Bếp Lạnh - trang 9)
          Trên tất cả tình cảm nhân loại, chỉ cần nghe tiếng Mẹ , nói đến tình Mẹ là tim ta đã thấy rung động, đã thấy yêu thương vô bến vô bờ. Nhưng đau khổ nhất là không còn Mẹ tác giả đã thể hiện tâm sự trong cảm xúc của mình:
Đếm tay hơn bốn ngàn ngày
Mẹ ra đồng vắng nằm ngoài sương đêm
Mẹ ru con suốt đêm trường
Giờ con ru Mẹ qua hương khói mờ
Ngủ đi, Mẹ ngủ …ầu ơ!
(Hát Ru Cho Mẹ - trang 10)
          Bao nhiêu ấn tượng về Mẹ, mãi mãi còn lưu lại trong trí tác giả, gợi nhớ hoài, lặng đi trong mơ tưởng đêm rồi chiêm bao thấy Mẹ về:
Nhớ con lắm bận Mẹ về thăm
Trong những đêm mơ thấy Mẹ gần
Thật ra Mẹ cách xa ngàn dặm
Chiêm bao bóng Mẹ đến trăm năm.
(Đêm Thấy Mẹ Về Thăm - trang 11)
          Có những bài thơ cứ vương vấn trong trí tôi mãi, lúc nào cũng như văng vẳng bên tai lời tác giả “ Mẹ  ơi con thấy Mẹ  hoài”…“Mẹ giờ trong khói hương bay” vì những nỗi nhớ thành thực của tác giả lúc nào cũng nghĩ “Mẹ vẫn mãi bên con”:
Mẹ ơi con thấy Mẹ hoài
Trong vần con đọc trong bài học xưa
Trong cơn gió chướng trái mùa
Trán con hâm nóng Mẹ ru thì thầm
Mẹ bên con những tháng ngày
Cho con hơi ấm gởi đầy tình thương
Mẹ không về giữa ngày thường
Đêm đêm con thấy trong sương Mẹ về.
(Mẹ Vẫn Mãi Bên Con – trang 13)
          Lại có khi suối buồn thương cứ tự trong thâm tâm tuôn ra lai láng, biết rằng sự chia biệt là đau đớn, nhớ thương, mà nhất là nỗi đau thương tiếc “Nhà không còn Mẹ”:
Cám ơn người đã ghé thăm Mẹ tôi
Tiếc đã trễ rồi, Mẹ tôi vừa mất
Trễ một chút thôi mà vườn cau thôi xanh ngắt
Lá trầu trải vàng một sắc nhớ Mẹ xưa!
Mẹ không về, nhà bỗng hóa mênh mông
Nhưng không chứa hết lòng con nhớ Mẹ
Cám ơn người ghé qua đây dù đã trễ
Tiếc Mẹ không còn, nhà đã hoang vu!
(Nhà Không Còn Mẹ - trang 14)
          Vẫn một từ “Nhớ” dội lên, vẫn là cái không gian quấn quyện, chan chứa trong một giai điệu ly biệt, nhớ nhung, nhớ hoài bàn chân Mẹ, nhớ vầng trán nhăn và đôi mắt khô lệ…để rồi tác giả linh cảm mình còn Mẹ qua đôi bàn chân, thật cảm động:

Mẹ tôi đi rồi để lại dấu chân
Qua dấu ấy tôi nhớ hoài bàn chân Mẹ
Ngoài vầng trán nhăn và đôi mắt Người khô lệ
Tôi linh cảm mình còn Mẹ qua đôi bàn chân
(Bàn Chân Của Mẹ Tôi – trang 15)
          Nhưng thương hay mến không đủ làm tan nỗi bơ vơ, chỉ có tình Mẹ mới lấp được muôn một, bài thơ man mác, thấm thía trong cái tê tái của một nét đau mộng và thực:

Xe rẽ trái theo đường Valley Hi
Bỗng Mẹ hiện ra ngã tư đèn đỏ
Căng mắt, bậm môi cố nhìn cho rõ
Mẹ mất quê xa, sao đứng nơi nầy?
Cám ơn Valley Hi trong vài giây đèn đỏ
Cho gặp lại mình bên Mẹ, giữa Cali!
(Cám Ơn Vài Giây Đèn Đỏ - trang 17)
          Có lúc dường như tác giả không phân biệt mộng với thực, cái mạch sầu vẫn ngấm ngầm trong cõi nhớ nầy:
Mẹ trong vùng chiêm bao
Một mình thăm cõi khác
Vẫn vội vàng chân đất
Trong cát bụi thênh thang…
(Chiều Bên Mồ Mẹ - trang 18)
          Cho nên tác giả thấy mình lạc giữa mênh mông của đất trời “Mắt ngóng chờ từng cánh chim xa” cái xa vắng của thời gian “ Trên nẻo ngược xuôi giữa cuộc đời”… “ Không có Mẹ không có gì để có” lời thơ vì thế buồn rười rượi:
Chiều nay về không chút mưa rơi
Mà lạnh lắm lòng con nhớ Mẹ
Đèn xanh không lên không ngại trễ
Sợ chờ hoài không thấy Mẹ đâu!
(Ở Ngã Tư Nhớ Mẹ - trang 19)
          Viết về cuộc đời bút pháp của tác giả nghiêm nhặt mà xúc động, xót xa. Nhưng ở đoạn thơ nào của tác giả cũng hiện lên hình ảnh Mẹ, cho nên ý thơ là sự giải thích, là tình cảm rất riêng tư, “Đêm nhớ Má tự nhiên con thèm khóc”:

Thèm như thèm kẹo thuở mới lên ba
Nhưng nước mắt bây giờ khô đâu hết
Còn lại mưa pha lẫn giọt nhớ nhà
Giờ muốn khóc tự nhiên con thèm khóc
Khóc một đêm rồi xa Má muôn đời!
(Tự Nhiên Thèm Khóc – trang 24)
          Hình ảnh “Núi” vốn vô tri trở thành đối tượng để tác giả tâm tình, để miêu tả, hiện lên trong bài thơ “Núi Khóc” . Bài thơ như mở ra trước mắt ta một không gian mênh mang, núi mồ côi, cõi trời mây gió, cánh chim lạc bầy, con nai nhỏ xa đàn…giúp ta cảm nhận, hòa quyện thành bức tranh thiên nhiên, có linh hồn, làm tôi muốn đọc đi đọc lại để tận hưởng hết khả năng diễn tả, “bài thơ dành cho những người con mất Mẹ đang khóc Mẹ và buồn cô đơn như núi”:
Tưởng đá cứng không bao giờ đá khóc
Nghĩ núi cao không ướt mắt bao giờ
Nhưng Mẹ đi không bao giờ trở lại
Đá núi buồn nước mắt chảy thành mưa.
(Núi Khóc – trang 25)
          “Hôm nay ngày giỗ Má con buồn lắm” tác giả nhớ ngày giỗ Mẹ mà chan hòa  nước mắt. Thật không có nỗi đau nào bằng nỗi đau không còn Mẹ, Mẹ mất rồi “Trăm điều đã trể nói Má nghe” thật cảm động:
Hôm nay giỗ Má con buồn lắm
Một chút khói hương gởi quê nhà
Má đi trong cõi xa ngàn dặm
Xin về cho ấm đứa con xa
(Giỗ Má – trang 26)
          Bao giờ tác giả cũng nghĩ về quá khứ, về kỷ niệm, những nỗi đau thương nhung nhớ, nghe nhói tim khi tác giả mở phong thư đứa em út gởi qua năm sợi tóc khô của Má, những bài thơ về Mẹ của tác giả làm cho tôi bồi hồi thổn thức, cảm động và âm thầm kính cẩn:
Mở lại phong thư quê nhà đã lâu
Nghe nhói tim như có nguồn điện giật
Đứa em út gởi qua năm sợi tóc
Lượm trên gối mềm lúc Má ra đi
Nhìn tóc khô buồn nhớ Má không nguôi!
(Những Sợi Tóc Khô Của Má trang 28)
          Đọc xong thi phẩm Qua Dấu Bụi Thời Gian tôi có cảm giác thơ của Trần Kiêu Bạc quả có hồn. Một bài thơ hay dầu nhẹ nhàng vui vẻ, dầu sầu não thương đau, bao giờ cũng là sự giải thoát. Giải thoát ra khỏi cái buồn đau, để sống trong sự thanh thản cho tâm hồn…Cứ để lòng trôi theo cái âm hưởng đặc biệt của bài thơ. Mặc dù có cách hiểu này khác, nhưng với riêng tôi Qua Dấu Buị Thời Gian vẫn mãi là thế giới trong thơ Trần Kiêu Bạc, thực lẫn mộng, là một thế giới huyền diệu có cả  nỗi buồn, thương nhớ, lẫn khác vọng. Lời thơ chân thành mà thanh âm êm đềm của nó luôn làm rung động, xao xuyến tâm hồn người đọc, những bài thơ tươi sáng, tuy nhiên lại mang đậm nét buồn. Nỗi buồn khó quên và thấm thía. Đó là nét đặc trưng của nhà thơ Trần Kiêu Bạc.
          Ngày nào còn con người với những buồn vui mất mát, đau khổ lẫn ước mơ, ngày đó tiếng thơ Trần Kiêu Bạc còn mãi ngân vang.

Hoàng Ánh Nguyệt

  (San Jose 2014)

THƠ TKB


Sunday, April 17, 2016

Monday, April 11, 2016

BỖNG DƯNG NHỚ THẦY CŨ / TKB ĐĂNG LẠI


BÀN TAY ẤM NHƯ MÙA XUÂN

(Lời giao cảm: Sau khi thăm Thầy Hoàng ở Milpitas, tôi có viết cảm tưởng và định gởi đăng trên Web Biên Hòa và Ngô Quyền, nhưng lại nghe thấy có tin đại khái là những bài viết về Thầy đa số có mục đích là lợi dụng sự nổi tiếng của Nhà Văn Nguyễn Xuân Hoàng để "ké" hay nói theo kiểu Việt Nam là "ăn theo" nên tôi không phổ biến bài viết. Nay nhân mùa Xuân đến thì dù ai có nói gì hay có điều chi bất trắc cũng không cản trở mình viết vài hàng mới cho Thầy Hoàng, người mà tôi luôn cảm phục cả tài năng và nhân cách)

Khi tôi đến nhà Thầy ở Thành Phố Milpitas, California thi đồng hồ chỉ 11 giờ 30 sáng. Đó là một ngày Thứ Bảy, ngày 24 đẹp trời của tháng Tám năm 2013. Trời cao và xanh trong. Nhiệt độ vừa phải khi đất trời đang chuyển mình từ Hạ sang Thu.
Cô Vy, phu nhân của Thầy, chào tôi ở cửa và niềm nở mời vào. Trong khi chờ Thầy từ phòng trong ra, tôi tò mò nhìn quanh. Đó là một phòng khách rộng vừa phải, bày trí ngăn nắp và đầy tính nhân văn. Ngoài vài tấm hình gia đình và bức hoạ cô Vy thời trẻ, tôi chú ý đến bức tranh Thư Pháp với nội dung rất lạ (đính kèm hình phía dưới) nhưng nói lên được là chủ nhân của nó là người rất phóng khoáng trong suy nghĩ và thoải mái trong đời thường.


Thầy Hoàng ra gặp tôi không lâu sau đó. Thầy rất ân cần mời tôi ngồi. Tôi đỡ Thầy qua sofa, nhưng cô Vy nói Thầy chỉ thích hợp ngồi trên ghế gỗ cứng. Như vậy hợp với tình trạng cơ thể Thầy lúc ấy. Thầy nhìn tôi im lặng. Tôi nhìn Thầy lặng im. Không phải là không có gì để nói mà những ngạc nhiên xem lẫn cảm xúc làm cả hai như nghẹn lời.
Cũng cần nói ra đây là lần đầu tiên tôi gặp Thầy sau không biết bao lần hẹn găp từ khi khi Thầy còn khỏe. Cứ hẹn rồi chưa gặp, hẹn rồi chưa đến... cho tới khi Thầy bệnh. Thầy vẫn cho phép và bảo tôi gọi Thầy bằng Anh, như là người anh vừa lớn tuổi hơn vừa đi trước trong lĩnh vực văn chương vậy! Phần tôi vừa ái ngại vừa sung sướng vì được một nhà văn nổi tiếng như Thầy cho phép đứng trong vòng thân mật. Tôi dè dặt hỏi thăm Thầy về sức khỏe và những dự tính có thể còn dang dở vì Thầy còn đang trị bệnh. Thầy thân mật trả lời, vui mà nói chuyện, không tỏ ra mệt mỏi hay có phần tiêu cực trong cuộc sống!
Sau đúng 24 phút bên Thầy, tôi nói lời thăm hỏi, an ủi, và xin cáo biệt. Tôi không muốn Thầy thấm mệt vì ngồi lâu và cũng vì tôi biết chừng 1 giờ sau đó Thầy còn tiếp khách thăm từ Nam Cali lên!
Thầy bắt tay tôi, ân cần như lúc gặp. Tôi cầm tay Thầy thật lâu và cũng không nói gì vì để nghe hơi ấm từ tay Thầy lan tỏa qua khắp châu thân. Cảm giác đó khó được tả sao cho đúng. Đó là niềm vui của tôi được cầm tay Thầy qua bao lần mơ ước. Tôi nghe kể rằng bàn tay những người làm nghệ thuật, đăc biệt là những nhà văn, nhà thơ thường hơi lạnh. Không ai lý giải điều nầy và tôi cũng cảm giác y như vậy khi được cầm tay nhà văn Bình Nguyên Lộc và nhà văn Sơn Nam vào năm xa xưa của thế kỷ trước khi những nhà văn nầy còn sống và còn trẻ. Nắm tay Thầy nghe ấm là hoàn toàn chính xác và không hề nhầm lẫn. Điều đó chứng tỏ là khi con người còn sức sống, còn hy vọng và khi con người đang chống chọi với cơn bệnh ngặt nghèo thì mọi khả năng hội tụ và vươn cao để đủ sức chữa bệnh. Thầy để yên tay ấm trong
tay tôi và nói khẽ: "Thứ Hai tới, anh sẽ trở lại bệnh viện và sẽ nhận liều Therapy đầu tiên sau nhiều ngay phải chờ đợi vì chưa đủ sức". Tôi xin chụp với Thầy hình kỷ niệm. Cô Vy bấm máy. Thầy hơi nghiêm trong nét mặt trong khi tôi cười, cười thật tình, một chút vô duyên, nhưng tôi tự nhủ đó là cách đem lạc quan đến cho người bệnh hơn là một nét trầm ngâm thường tạo buồn nản cho người mình đến thăm.


Ra về, tôi thấy vui hơn bao giờ hết bởi Thầy đã đủ sức để bảo vệ thân thể trước sự công phá tàn nhẫn của căn bệnh và cũng hơn lúc nào hết tôi hãnh diện và thỏa mãn vì được gặp mặt, trò chuyện và nắm tay người Thầy, người Anh mà tôi hằng ngưỡng mộ và yêu quý từ lâu!
Tôi vẫn theo dõi tin về Thầy từ tháng 8 đến nay qua tin tức và qua bạn bè! Tôi càng vui mừng thêm vì biết Thầy đã khá hơn mỗi ngày và chắc rằng bàn tay Thầy vẫn ấm và càng ấm hơn trong những ngày tháng đẹp của Mùa Xuân Giáp Ngọ 2014 đang đến gần.
TRẦN KIÊU BẠC
(ngày Mùa Đông lạnh dưới 25 độ F bất thường ở Cali)

Sunday, April 10, 2016

"Bến Cũ Đò Xưa" Thơ Trần Kiêu Bạc--Hồng Vân Diễn ngâm

"Phải Chi" Thơ Trần Kiêu Bạc, Hồng Vân Diễn Ngâm


CON MẮT BÃO - TRẦN KIÊU BẠC

 Bàn chân bão đi qua
Con mắt còn ở lại
Mắt bão nhìn nhân ái
Mà lòng bão nhiểu nhương

Bão không thấy tang thương
Giữa muôn vàn tiếng khóc
Lòng bão đâu biết được
Người đau hoài nỗi đau



Con mắt bão đêm sâu
Còn quay về hướng khác
Người đang thức cùng nhau
Lo lúa vàng rụng hạt

Con mắt bão vô tình
Dừng nơi nào gần nhất
Là đêm thành địa ngục
Là ngày thắp nhang thêm

Lòng bão không lặng im
Mắt người còn ái ngại
Mắt bão không nhân ái
Lòng bão thêm nhiểu nhương

Người nhìn con mắt bão
Chỉ thấy những đoạn trường!

TRẦN KIÊU BẠC

THƠ TRẦN KIÊU BẠC/ ẤM ÁP CƠN MƯA SÀI GÒN


ẤM ÁP CƠN MƯA SÀIGÒN

Gởi lời chào cơn mưa Sàigòn
Qua kẽ tay hạt lên đầy nỗi nhớ
Mưa chưa ướt hết chiều dài phố nhỏ
Ướt lòng người nầy đứng đợi người kia



Từ lúc nào mưa nhả những lời thơ
Những con chữ chạy theo mưa ướt đẫm
Gió ghé qua tim ai chừng lóng ngóng 
Cho Sàigòn nhỏ giọt khúc pha lê

Giá như đèn không sáng bên kia
Chắc gì ai biết ai còn đứng đợi 
Chảy vào lòng ai hạt mưa nóng hổi 
Lạnh lẽo bên ngoài, ấm lại bên trong !

Hỏi thăm Sàigòn, 
Thơ còn ướt hay không?

TRẦN KIÊUBẠC 

THƠ TRẦN KIÊU BẠC/ BÍCH THUỶ

BÍCH THUỶ





Nước chảy một dòng xanh thật xanh
Chở khúc phù sa mát ngọt lành
Trắng đêm thao thức chờ nhau ngủ
Một giấc chưa tròn đã bình minh

Tỉnh cơn say ngủ anh còn mộng
Thấy nụ cười em trãi nắng đầy
Gió ngẩng lên cao còn lóng ngóng
Đẩy chùm bong bóng vở trong tay

Dặn lòng anh sẽ ngồi yên chỗ
Say ngắm màu xanh nước ngọt mềm
Thương đã tô xanh trong đáy mắt
Nhớ buộc nhau hoài hai trái tim

Ước em yêu dấu đừng đi vội
Chờ nước dâng lên ngọn thuỷ triều
Để ta chung đọc lời sám hối
Nỗi buồn không toả góc quạnh hiu

Em cười như nước xanh muôn thuở
Tay hứng mùa Thu lỡ rụng vàng
Tìm đâu trong ngút ngàn chữ nghĩa
Rót cho đầy cõi nhớ miên man

Anh chạy vòng quanh say luý tuý
Qua bảy ngày đêm suốt cả tuần
Thầm gọi tên em, ơi Bích Thuỷ!
Cho mình xao động tuổi thanh xuân.


TRẦN KIÊU BẠC


                                             
ĐÊM ĐEN, SÓNG BẠC, BIỂN XANH  



Đêm đen sóng bạc biển xanh
Tan vào nỗi nhớ mà thành tương tư
Chờ nhau chờ đến bao giờ
Tay rời tay vẫn mơ hồ nỗi đau
Trách chi con sóng bạc đầu
Biển ngàn năm biển xanh màu trùng dương
Đêm đen đen đến lạ thường
Nên tình ta lạc mười phương chưa về
Biển đêm còn vẳng lời thề
Cớ sao sóng bạc mang đi cuộc tình
Đêm đen sóng bạc biển xanh
Tan vào nỗi nhớ mà thành chia phôi.

TRẦN KIÊU BẠC

THƠ TKB / CŨNG MAY ( trọn bài)

CŨNG MAY

Cũng may mưa đổ về sông rộng
Áo em chỉ ướt nửa vạt sau
Mưa chẳng hẹn hò ôm áo mỏng
Cớ sao vạt trước cũng phai màu

Cũng may nắng trãi qua lòng phố
Em hứng xôn xao biển tóc thề
Tóc lỡ bay qua vuông cửa sổ
Trăm năm tình lạc đã quay về

Cũng may thề hẹn thưở nắng mưa
Gió cũng ôm theo khúc cuối mùa
Tình trót quay đi tình sẽ lại 
Như lúc hẹn hò giửa nắng trưa

Cũng may từ biệt không buông hết
Không còn gởi lại tiếng yêu nhau
Ai nhớ ai quên mình vẫn nhớ
Chờ nhau đến lúc tóc phai màu

Cũng may gặp được em tử tế
Để thơ tãi được chút linh hồn
Bây giờ mình đã thành tri kỷ
Thơ bổng dính đầy dấu môi hôn

Cũng may mình đến trong tiền kiếp
Chắc nợ nần nhau tự lúc xưa
Chờ mảnh trăng tròn thay trăng khuyết
Đợi nhau ngàn kiếp cũng không vừa

Cũng may tháng Tám mình quen nhau
Đã qua tháng Bảy đẫm mưa ngâu
Nên đã nhìn nhau thề trong mắt
Yêu măi dù đời lắm bể dâu

Cũng may tay đã nắm bàn tay
Kiếp sau đêm tối cũng thành ngày
Qua ngày, qua tháng, trăm năm nữa
Cho nhau hạnh phúc dẫu một giây

Cũng may, mình thầm nói cũng may
Trễ nhưng không muộn khúc sum vầy
Mai mốt trong vô thường cuộc sống
Tay mình còn nắm chặt tay ai!

TRẦN KIÊU BẠC 

(8/3/2016)

XEM LẠI BẠN BÈ ĐỌC THƠ TKB

                                                                                         
                         QUA DẤU BỤI THỜI  GIAN  -   Thơ Trần Kiêu Bạc   -
                        Ngô Xuân Vũ
Tôi về lại Saigon sau 17 năm lưu lạc kể từ ngày rời ngôi trường Quốc Gia Hành Chánh thân yêu của mình, được găp lại một số  bạn bè cùng khóa giờ hầu hết đều lận đận, khó khăn, trong đó anh có lẽ đỡ hơn một chút: anh đang làm việc tại một văn phòng dạy lái xe ở  con đường sau lưng Đại học xá Minh Mạng. Anh vẫn thế, vẫn nụ cười rộng mở, vẫn tính cách hiền hòa, nhiệt tình, lịch thiệp. Gặp nhau, rũ nhau đi uống ly cà phê, hút vài điếu thuốc,  tôi không hề nghe anh nói gì về văn thơ, nào ngờ, anh đã làm thơ từ rất lâu, thời trung học đã xin bà nội 
 hai chỉ vàng để in tập thơ riêng của mình, và hôm nay “ xin vợ” một cây hai để in tập thơ “ Qua dấu bụi thời gian” nầy.
Tập thơ có 245 bài, mở đầu là bài “ Mùi Mẹ hương tết” và bài cuối cùng là “ Tiễn bạn Trần đình Mười”. Như anh viết ở phần vài dòng tâm sự “Những bài thơ, tứ thơ và lời thơ đều đơn giản, dung dị và không gai góc” và giản dị, bình thường nhưng không tầm thường. Đúng thơ anh là như vậy, nhưng phải nói thêm có rất nhiều bài thơ trong thi tập mượt mà, sâu lắng, làm xao động lòng người như những bài ca dao của quê hương chúng ta. Trong 245 bài này, gần 40 chục bài thơ đầu tiên là “ Thơ trong máu thịt” anh viết cho những người thân yêu của mình, nhưng bao trùm lên tất cả là về Mẹ. Phần sau với hơn 200 trăm bài, anh viết đủ loại từ tình yêu, tình quê hương, những kỷ niệm về những vùng đất anh đã đi qua, đã sinh sống, làm việc, cuộc sống nơi xứ người, những lần gặp gỡ vv…, chỉ thiếu vắng những chủ đề chính trị.
Tôi chỉ là người đọc thơ, yêu thơ vừa phải, nên trong những đề tài mênh mông anh viết, tôi chỉ chọn hai loại để ghi lại những cảm giác của mình: một là những bài thơ viết về Mẹ của anh và hai là những bài thơ anh viết liên quan đến những người bạn chung của chúng tôi.
Viết về Mẹ, là đề tài phổ biến nhất chỉ sau tình yêu đôi lứa, vì tiếng Mẹ, nhất là khi Mẹ đã qua đời, là tiếng kêu thống thiết nhất của con người, như lời thơ Trần Trung Đạo “ Đổi cả thiên thu tiếng Mẹ cười”. Còn với Trần Kiêu Bạc, hai mươi tám bài thơ đầu của thi tập anh dành cho Mẹ, chúng ta thử đọc một số trích đoạn:
Con bên này nhớ Mẹ bên kia
Như xa lộ thẳng đường không sao khác
Chiều nay nhớ nhà xe chở đầy hương Tết
Con chở theo mình mùi Mẹ đầu năm.
                 “ Mùi Mẹ hương Tết” , page 1
Thượng tuần tháng Giêng trăng dẫn Mẹ ra đi
Đóa hồng đỏ trên ngực con hóa thành hoa trắng
Vu lan nầy trăng về trong mưa xám
Trăng trở lại mình, hoa vẫn trắng màu tang
                             “Mùa trăng Vu lan”, page 3
Con quỳ đây lạy Mẹ đến vô cùng
Trong hương khói tìm đâu hình bóng Mẹ
Nửa đoạn đời sau trong miền dâu bể
Vẫn mang nặng hoài hai chữ mồ côi
                            “ Bài thơ dâng Mẹ”, page 4
Nhang vẽ những vòng tròn
Từng số không nối tiếp
Ngàn số không tội nghiệp
Vương vấn bước Mẹ đi
Có ngày nào Mẹ về
Qua vòng tròn khói trắng
Những số không im lặng
Tỏa ngát mùi hương quen
                              “ Trong hư ảo khói nhang”, page 6
Hay chúng ta đọc bài “Hát ru cho Mẹ” ở trang 10, đây là bài thơ lục bát mượt mà, êm như lời ru ca dao: “Mẹ ru con suốt đêm trường, Giờ con ru Mẹ qua hương khói mờ”
Dòng lục bát nầy trãi dài trong những bài thơ tiếp theo nghe thê thiết làm sao.
Đặc biệt với bài thơ “ Nhà không còn Mẹ” ở trang 14, mở đầu với bốn câu:
Cảm ơn người đã ghé thăm Mẹ tôi
Tiếc đã trễ rồi, Mẹ tôi vừa mất
Trễ một chút thôi mà vườn cau thôi xanh ngát
Lá trầu trải vàng một sắc nhớ Mẹ xưa
Ngày đó, khi hay tin Mẹ của bạn tôi mất, bạn TBS và tôi chở nhau từ Saigon lên Tây Ninh viếng tang trễ, miền quê bạn cũng giống như quê tôi: cũng nghèo, cũng lầm than dù hai miền đất nước này rất khác nhau. Chúng tôi được gặp anh chị Tư, được khấu đầu lễ Bác, với di ảnh như tấm hình được in trong tập thơ nầy.
Những bài thơ nào của anh về Mẹ cũng thật hay, thể hiện nổi lòng của đứa con ở cách xa Mẹ ngàn trùng với những nuối tiếc, xót thương, trăn trở. Nhưng sự xót xa, nuối tiếc nào đối với cha mẹ mình giờ cũng đều muộn màng, vì các Người đã ra đi, đi mãi không bao giờ về nữa.

Anh viết nhiều về bạn bè, trong đó có hai bài thơ rất gần gủi với tôi, đó là bài Những chiếc ghế còn bỏ trống và bài thơ Tiễn bạn Trần đình Mười.
  Khoảng năm 2009, từ Sacramento, miền bắc California, nơi anh ở, anh về thăm Orange County, anh chị LPB, TTN có làm một bữa tiệc tại tư gia, mời bạn bè cùng khóa đến gặp anh. Chủ nhân đã mởi khoảng hai mươi người, nhưng chỉ có tám người hiện diện, dù không được đông đảo nhưng chúng tôi rất vui vì đây là sự hội ngộ của những người bạn thân. Còn việc bạn bè vắng mặt cũng là chuyện thường tình trong cuộc sống bận rộn bên này, nên chúng tôi không để ý tới những chiếc ghế trơ trọi không có người ngồi trong buổi tiệc này. Nhưng với một tâm hồn rất nhạy cảm, nhà thơ rất ngậm ngùi khi thấy những chiếc ghế bỏ trống này. Tối hôm sau, khi về lại nhà, anh đã post bài thơ đặc biệt nầy cho chúng tôi. Qua việc nầy, anh LPB khen anh là xuất khẩu thành thơ, giống như Tào Thực thời Tam Quốc bên Tàu. Nhà văn Nguyễn xuân Hoàng và Nguyên Hạ có bài nhận định và cảm tác về bài thơ nầy được đăng ở phần phụ lục từ trang 247. Tôi xin trích vài đoạn trong bài thơ “ Những chiếc ghế còn bỏ trống”:
Bạn của năm xưa không về được
Bạn của ngày nay cũng vắng rồi
Những chiếc ghế con còn bỏ trống
Xích lại gần nhau cũng lạnh thôi
Ly rượu mừng nhau vơi phân nữa
Chìm tận đáy ly những khóc cười
Thủy tinh trong suốt qua tầm mắt
Rượu một dòng lại chảy nhiều nơi
………………..
Tôi viết bài thơ buồn độc vận
Như một mình giữa bóng trăng soi
Tôi nhặt miếng trăng rơi xuống cỏ
Kết nên tình bạn sáng muôn đời
Bài thơ “Tiễn bạn Trần Đình Mười” là tiếng khóc của bạn bè khóa Đốc Sự 17, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh khi bạn Trần Đình Mười ra đi. Tôi xin chép đầy đủ bài thơ nầy, cũng là để tưởng niệm người bạn thân thiết của mình sau một năm bạn về miền mien viễn:
Như chim lạc đàn, bạn vội bay đi
Để lòng tháng Giêng buồn hơn tháng Chạp
Trời đã xuân sao tay đầy gió bấc
Trăng vừa rằm lại khuyết mất một bên
Sẽ không còn giọng ngâm ngọt thân quen
Tiếng vọng Hồ Trường bay qua lòng đất
Đem nụ cười xinh thay bằng nước mắt 
Những mộng ước tròn bỗng hoá hư không
Thềm nhà xưa không còn những dấu chân
Mâm cơm ngày sẽ bớt đi đôi đũa
Vợ thức trông chồng chờ nghe gõ cửa
Chỉ thấy đêm dài chìm đáy vực sâu
Tiễn bạn một lời, bè bạn xót đau   
Mây ngũ sắc xin về đây hội tụ
Mang bạn đi  cho gặm hoài nỗi nhớ
Xa bạn một đời, xa mãi từ đây
Bạn đi trước tôi, xin nhận một lạy này…

Tôi thường thầm thì khấn câu cuối của bài thơ nầy khi đến viếng mộ bạn Trần đình Mười và những người bạn khác khi họ từ giã cỏi đời nầy.
Ở hải ngoại nầy, cho ra đời một cuốn sách, một tập thơ thường đi kèm với sự trăn trở, không phải do khó khăn về vật chất mà là do sự đón tiếp: lặng ngắt, không nghe thấy gì cả, kể cả một lời chê cũng không có. Nhưng đối với nhà thơ của chúng ta: “ Thơ đến với tôi tự nhiên như không khí, như hơi thở, như nắng, như mưa…” nên làm gì có sự toan tính ở đây, nhất là khi anh có người bạn đời, chị Nguyễn thị Mỹ Châu, mà đọc lời bạt ở cuối sách ta mới thấy hết được tấm lòng yêu thương, tin cậy chồng mình với những lời văn dí dỏm, nhẹ nhàng, thông minh, duyên dáng của người vợ miền Nam của anh.      

                                                                                               Ngô Xuân Vũ   

THƠ TRẦN GIA TĨNH TÂM ( tức TKB)


CHÚT TÌNH CHO MUI.




Chi
u ny Mui có bun không
N
ếu như thiếu vng nhng dòng E-mail
D
ường như hoa cũng bun hiu
Nh
ng bài nhc cũng theo chiu lng yên
Th
ế ri vng c đêm đêm
Tr
i đang gi nng bng chìm trong mưa
Mình quen nhau ch
ng tình c
V
a mail đi đã ngóng ch hi âm
Có gì nh
ư th bâng khuâng
Khi tan khi h
p khi gn khi xa
Mình đem cái nh
tht thà
G
i nhau qua Net như là chung đôi
V
ng tin lòng li bi hi
B
ng dưng mình thy đơn côi l thường
Nh
ư giáo đường vng tiếng chuông
Nh
ư chuà không tiếng kinh bun công phu
M
ượn câu lc bát Nguyn Du
G
i lòng cho Mui như ru chính mình!


TRN GIA TĨNH TÂM. ( TKB California)

THƠ 4 CÂU TRẦN KIÊU BẠC (DÒNG THƠ TIẾP NỐI)


THƠ BỐN CÂU 
(DÒNG THƠ TIẾP NỐI)


Giai thoại Thơ Đường Trung Quốc có kể chuyện “Bốn Câu Là Đủ Ý”: Có một chàng thư sinh trẻ tên Tố Vịnh quê ở Lạc Dương đến Tràng An dự kỳ thi Hội.
Đề thi được ra là “Chung Nam vọng dư tuyết” (dịch nghĩa: Núi Chung Nam ngắm tuyết còn sót lại). Thí sinh phải làm bài thơ năm chữ tả cảnh gồm sáu vần trong mười hai câu.

Tố Vịnh suy nghĩ và trầm ngâm, sau cùng chỉ viết ra bốn câu như sau:

(phiên âm Hán Việt)
Chung Nam âm lĩnh tú
Tích tuyết phù vân đoan
Lâm biểu minh tễ sắc
Thành trung tăng mộ hàn.

(dịch nghĩa)
 Đỉnh phía Bắc núi Chung trơ trụi
Mây và tuyết thường đọng lại
Phía ngoài rừng ngày sáng rỡ
Trong thành thì giá buốt hơn.

Viết xong, Tố Vịnh đứng lên nộp bài. Quan chủ khảo xem, ngạc nhiên hỏi: Sao không làm trọn mười hai câu? Tố Vịnh cười nói: “ Khi làm thơ viết văn, đáng đi thì đi, đáng dừng thì dừng. Ý tôi đã hết, há có thể lải nhải viết bừa cho đủ số câu?”

Theo trường qui, với bài thơ thiếu tám câu, Tố Vịnh sẽ bị đánh rớt. Nhưng quan chủ khảo sau khi thấy lạ, đọc kỹ bài thơ thì thấy dù chỉ bốn câu, thí sinh đã tả cảnh rất hay, từ ngọn núi đến rừng cây, từ ngày sáng đến chiều tà qua cái lạnh khi tuyết xuống. Ý thơ toàn vẹn, quả là thơ hay!
Ông cảm kích bèn tâu Vua, đề nghị phá lệ, cho Tố Vịnh đỗ Tiến Sĩ. Việc đó thành một giai thoại trong thi cử ở Trung Hoa. Sau nầy bài thơ của Tố Vịnh được tuyển vào Đường Thi Tam Bách Thủ, thành một kiệc tác được lưu truyền dài lâu. 
(theo Hoài Anh/ Giai Thoại Thơ Đường và Tác Giả/ Nhà Xuất bản Văn Nghệ 2002)


“Bốn Câu Là Đủ Ý”, tôi suy nghĩ hoài! Vâng, thì không cần nhiều, chỉ cần bốn câu thôi!     
Tôi sẽ đưa ra vài bài bốn câu, không dám cho là Tứ Tuyệt vì dù muốn tạo ngạc nhiên hay gây ra cái mới ở câu cuối vẫn thấy đâu đó ý thơ còn vụng về, luật thơ chưa thể chỉnh như thơ cổ, và việc gây thỏa mãn cho người đọc chắc không thể chu toàn, nên chỉ dám mạo muội gởi đi như sau:

TỨ TUYỆT

Làm thơ viết chỉ bốn câu
Như phòng kín cửa như lầu một căn
Như giày vừa khít bàn chân
Vẫn tròn đủ ý dẫu văn kiệm lời.

ĐẾM LẠI THỜI GIAN

Chia tay năm ấy bảy mươi lăm
Giờ gần như đã bốn chục năm
Dẫu ngày dài thêm hay ngắn lại
Chờ nhau trăng khuyết tới trăng rằm.

PHÂN NỬA

Cà phê rơi giọt nửa ly
Bước thêm nửa bước thầm thì nửa câu
Tóc xanh bạc nửa mái đầu
Tình yêu xẻ nửa cho đau nửa đời!

MỘT CHÚT THỜI GIAN

Một sát na hạnh phúc
Bằng cả đời đấu tranh
Cả đêm nằm thao thức
Chờ sát na bình minh.

TẾT

Phải chi trở lại khi mười tuổi
Áo mới xênh xang chẳng biết buồn
Bây giờ tóc pha màu sương khói
Đón Tết xa nhà nước mắt tuôn!

BỖNG GẶP MÙA XUÂN

Mai vàng chợt nở quanh đây
Dù là hoa giả cũng bày sắc Xuân
Tết như còn lạc bước chân
Mà Xuân vẫn đến theo vần thơ say!

TỰ HỎI LÒNG MÌNH

Sao tình đi lạc mới tìm nhau?
Quên lúc bên nhau thuở ban đầu
Tìm nhau mới biết tình đi mất
Tình đã xa rồi mới biết đau!

NÓN HUẾ

Huế ơi sao có nón bài thơ?
Khuấy động tim ai lúc đợi chờ
Thơ đan trên nón thơ mời gọi
Xa nón rồi tiếc ngẩn tiếc ngơ!

TẠI MƯA

Mưa làm anh ướt loi ngoi
Làm sao găp được mà đòi gặp em
Mưa làm em ướt lem nhem
Áo em ướt mỏng không thèm gặp anh.

BÊN MỒ MẸ

Ngồi bên mồ Mẹ cỏ còn xanh
Mất Mẹ như dao cắt thân mình
Cỏ đã thay màu nay vàng úa
Vết thương vẫn đỏ mãi không lành.

MỴ CHÂU

Yêu thương đến thác vẫn còn
Dấu lông ngỗng trắng vết son không mờ
Mặc ai dối gạt tình thơ
Thuỷ chung một kiếp đợi chờ ngàn năm!

TRỌNG THUỶ

Tạ tình anh khóc khúc Mỵ Châu
Một nỏ oan khiên mấy gánh sầu
Non nước chưa tàn cơn khói lửa
Anh dìm tình hận đáy giếng sâu!

NHỚ THẦY 1
(tưởng nhớ mà không khóc như lời Thầy Nguyễn Xuân Hoàng dặn)

Ngập ngừng Thu mới ghé qua đây
Lá ngập ngừng rơi tiếc nhớ Thầy
Nửa gánh văn chương chưa thoả chí
Một đời giáo chức đã tròn vai.

NHỚ THẦY 2

Biền biệt xa “Căn Nhà Ngói Đỏ”*
Cô độc như “Người Đi Trên Mây”**
Ai tiếc ai thương xin gởi lại
Thầy đi phủi sạch nợ trần ai!

BUỒN MỘT MÌNH

Đun thêm vài que củi 
Cho ngọn lửa bùng lên
Tưởng buồn thành tro bụi
Mà buồn vẫn y nguyên.

NỮ TIẾP VIÊN

Quanh em tràn ngập tiếng cười
Tràn ly bia lạnh ngập mùi đàn ông
Đêm đêm trang điểm má hồng
Soi gương mới biết mình không nụ cười!

CUỐI NĂM

Nhìn tờ lịch cuối sắp rơi
Một năm sắp hết một đời sẽ qua
Lạ thay vẫn nhớ quê nhà
Năm nào cũng vậy cũng ta với mình!

CHÔN THƠ

Thử chôn thơ vào đất
Xem thơ chết được không
Nào ngờ thơ không mất
Mà nở hoa trắng đồng.

HẠNH PHÚC

Cây hạnh phúc lang thang hoài đâu đó
Đôi tay trần tìm mãi chẳng được đâu
Hay hạnh phúc mất đi rồi mới có
Không bây giờ không cả đến ngàn sau!

TRONG MƠ

Nằm mơ thấy Mẹ còn xanh tóc
Tay dắt con đi đến cỗng trường
Xa Mẹ mấy giờ mà con khóc
Giờ xa muôn kiếp mãi còn thương!

BÀ TẮM CHÁU
(kính tặng quý Bà Nội Bà Ngoại)

Hôm nay tắm cháu sạch trơn
Ngạc nhiên thấy cháu dài hơn thường ngày
Áo quần chật chẳng kịp thay
Bà mong cháu lớn lòng đầy niềm vui.

XÍCH LÔ
Người ta hai bánh ngược xuôi
Có người bốn bánh cười tươi bốn mùa
Còn mình ba bánh sớm trưa
Đạp đôi chân mỏi may vừa đủ ăn!

QUẬN BƯỞI 

Nghe nói Quận Cam thành Quận Bưởi
Từ ngày thẩm mỹ bước lên ngôi
Vòng một không còn vòng một nữa
Sửa to nên đáng gọi vòng mười!

EVA và ADAM

Cầm tay trái táo ngập ngừng
Nửa như muốn cắn nửa mừng nửa lo
Một bên nhận một bên cho
Adam chìm đắm bên bờ Eva!

TIẾC 
(theo Ca Dao Việt Nam)

Thương em anh nối sợi dây dài
Thả đo lòng giếng thử đêm ngày
Đắn đo chưa biết sâu hay cạn
Giếng cạn nên đành tiếc sợi dây!

TẠM NGƯNG

Thơ bốn câu chuyên chở buồn vui
Buồn nghe thơ hát khúc ngậm ngùi
Vui thấy cuộc đời như trẻ lại
Bốn câu ngưng đọng nét son tươi!

* và ** là 2 tác phẩm của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng

TRẦN KIÊU BẠC 

(lập Đông 2014)

THOE TRẦN KIÊU BẠC

LY NƯỚC TRONG VEO

Trở về căn phòng nhỏ
Tìm ly nước trong veo
Trên viền môi em đỏ
Nước dâng như thuỷ triều

Trên thành ly thuỷ tinh
Dấu môi chìm lặng lẽ
Sao lòng mình chênh vênh
Quanh nụ cười tươi trẻ




Tưởng cuộc đời xanh rêu
Sau cơn mưa mùa Hạ
Nào ngờ nước trong veo
Khơi tình xanh màu lá

Có màu xanh bích thuỷ
Đọng trong đôi mắt em
Thêm giàn hoa thiên lý
Quấn quýt tóc thơm mềm

Hỏi giọt mưa vất vả
Có trong như mắt em
Hỏi nắng đầy trên má
Còn đọng trên môi mềm?

Không bao giờ đánh mất
Ly nước ngọt lung linh
Trong veo qua ánh mắt
Lòng ta hoá thuỷ tinh!

TRẦN KIÊU BẠC


THƠ TKB CHO MUỘI

CÓ MỘT LẦN GIẬN DỖI



Muội lặng im rồi nói một hơi dài
Huynh giật mình mới hay mình có lỗi
Giận dỗi trong đời, thật tình không mới
Nhưng trong tình yêu, không cũ bao giờ

Huynh đã nhiều lần xé những trang thơ
Thơ viết vội khi nắng chiều chưa xuống
Chưa nói hết những tâm tư phiền muộn
Nên thổi thơ buồn qua cõi hư không

Chiều nầy tim Huynh như thấy chuông rung
Nghe tin xé thơ Muội buồn Muội khóc
Thơ Huynh viết dành riêng cho Muội đọc
Sao nỡ xé đi cho Muội dỗi hờn

Ai không lỗi lầm trong lúc cô đơn
Huynh nghĩ lại ngàn lần mình có lỗi
Ai trong đời hiểu thơ Huynh bằng Muội
Thơ một lòng theo tình mãi dài lâu

Sẽ không bao giờ Thơ mất trong nhau
Trang giấy trắng không bao giờ lem mực
Muội yêu thơ Huynh, tình yêu rất thật
Huynh yêu Muội nhiều, tình thật như thơ!



TRẦN KIÊU BẠC

THƠ TRẦN KIÊU BẠC

BỤI NHỚ

Hỏi tối buồn không Huynh không biết
Chỉ thấy màu đen máu của tim
Hỏi đêm sao cứ buồn da diết
Đêm trả lời buồn vốn của đêm

Buồn của ai hay Huynh nhớ Muội
Làm trăng không sáng được đêm nay
Nghe nói tình yêu không có tuổi
Mà sao trăng khuyết lại không đầy?



Muội bảo Huynh chỉ yêu qua thơ
Ngoài ra Huynh có lắm hững hờ
Huynh xin Muội đó, van Muội đó
Yêu Muội nhiều khi Muội không ngờ

Ngày mai ngày mốt Muội theo chồng
Căn phòng 59 lạnh đầy Đông
Vẳng trong phone sớm lời ai nhắn
Muội có mạnh không Muội khoẻ không?

Đêm nay thức trắng Huynh buồn lắm
Nhớ giọng ai “léo nhéo’ thân quen
Dây nhớ mọc mầm lên rất chậm
Mà leo nhanh đến tận con tim

Đêm cũ mình còn vui bên nhau
Muội nói Phải Chi … đến bạc đầu
Giờ Phải Chi … nhớ thành hạt bụi
Để Huynh và Muội mãi thương nhau!


TRẦN KIÊU BẠC 

(29/3/2016)

TKB NÓI VỀ THƠ GIANG THIÊN TƯỜNG

GẶP NHÀ THƠ GIANG THIÊN TƯỜNG QUA MƯỜI BÀI THƠ LỤC BÁT


Một ngày đầu tuần thuộc Tháng Tám Tây, 2012, tôi nhận được tập thơ Năng Chiều Còn Vương của Nhà Thơ Giang Thiên Tường do anh Triệu Huỳnh Võ gởi qua Bưu Điện với đề tặng và chữ ký của tác giả. Tôi ngạc nhiên vì tôi chưa từng quen với anh Giang Thiên Tường, nhưng lời viết tặng và chữ ký ở trang đầu làm tôi ấm lòng lắm vì như thể là đã quen và quý mến nhau lâu!
Tôi chưa quen với anh thật, cũng chưa gặp anh lần nào và chưa hề xem tập thơ anh đã ra mắt năm rồi mang tên Bên Bến Sông Buồn, nhưng đâu đó trên Báo Địa Phương, và trên các Web, tôi đã đọc những bài thơ của Giang Thiên Tường như đã quen thuộc.
Tôi qua Mỹ sau nên cũng không biết Tạp Chí Phù Sa ở Sacramento. Tôi chỉ biết anh Tô Hoà Dương tức nhà văn Tống Diên và nghe nói là anh của anh Tô Vĩnh Phúc tức tác giả Giang Thiên Tường mà tôi sắp nói lên cảm tưởng khi đọc Thơ Lục Bát của anh.
Tôi phải dài dòng như thế để tỏ rằng những suy nghĩ của tôi không hề dính dáng tới những chữ “thân quen hay bằng hữu”! Có chăng là một chút kính trọng đi kèm khi biết hai anh đều là con của Nhà Văn Bình Nguyên Lộc, một cây bút Miền Nam nổi tiếng mà tôi chỉ có dịp bắt tay một lần, đã lâu, lúc tôi còn nhỏ.

Trên tay tôi là Thi Phẩm Nắng Chiều Còn Vương của Nhà Thơ Giang Thiên Tường với nội dung chính là 49 bài thơ nhiều thể loại, trong đó có 10 bài thơ Lục Bát trải dài từ trang 10 đến trang 105 (không phải 50 bài và chỉ 3 bài Lục Bát như Nhà Văn Cao Thanh Tâm viết trong phần giới thiệu). Phần còn lại là phần in những bản nhạc phổ từ thơ Giang Thiên Tường.

Tôi chỉ lướt qua các thơ 7 chữ, 8 chữ, Song Thất Lục Bát và cả 5 chữ (loại thơ cô đặc như nước mắm kho quẹt, khó nuốt, mà hễ  nuốt được thì thành  ghiền!) và dừng lại lâu khi đọc những bài thơ Lục Bát.

Lục Bát, hai chữ tưởng ngon ăn mà làm khó biết bao Thi Sĩ! Người ta thấy Nguyễn Du qua Truyện Kiều hay Nguyễn Bính qua những vần Lục Bát êm xuôi là tưởng dễ. Không đâu! Lục Bát rất dễ làm vì người Việt mình quen nhiều với tục ngữ ca dao, nhưng rất khó làm mà tạo nên cảm xúc vì nếu Người làm Thơ không cẩn trọng, thơ Lục Bát sẽ làm cho Thơ rẽ qua nhiều ngã ba ngã bảy khó lường và sẽ gây tác dụng ngược khó bề thông cảm cho tác giả lẫn người đọc. Thêm nữa, Lục Bát bây giờ đã biến thức nhiều, không còn giữ Luật của Lục Bát xưa nên người đọc ít thấy những bài Lục Bát giữ nguyên : 
BÌNH BÌNH TRẮC TRẮC BÌNH BÌNH
BÌNH BÌNH TRẮC TRẮC BÌNH BÌNH TRẮC BÌNH

Tôi đọc Nắng Chiều Còn Vương thường chú ý đến điểm nầy! Giang Thiên Tường không thoát khỏi Lục Bát biến thức, nhưng trong nhiều câu 6/8, anh vẫn trung thành với Luật cũ, nghiêm túc và trân trọng. Điều nầy không dễ khi cảm xúc dâng trào và còn phải chọn từ sao cho đúng vận. Phải làm thế nào cho tình ý và Luật Thơ phải song hành, không vướng mắc, không đối chọi hay gây nhiều phản cảm. Tôi cảm phục Giang Thiên Tường khi thấy anh đã khéo léo giữ điều cần giữ và “phăng” những khi cần “phăng”.

Xin giới thiệu những cặp Lục Bát rất “đúng nghề” của Giang Thiên Tường trong Thi Phẩm vừa nêu:

Bâng khuâng bến đợi mơ mòng
Êm nghe tiếng hát bên dòng Hậu Giang 
(Tà Áo Quê Hương, trang 20)

Còn đây một chút bơ vơ
Là em một cõi trời thơ vẫn chờ 
(Mộng Ước Bên Đời, trang 21)

Chuông sầu bỗng tiếng ngân nga
Mang về nỗi nhớ tình xa ngút ngàn
(Theo Tiếng Chuông Chùa Ngân, trang 61)

Thôi thì mộng cũ không thành
Nhưng tranh đã điểm màu xanh của lòng
(Có một Niềm Vui, trang 71)

Thật là không dễ tìm ở đâu những cặp Lục Bát thuộc loại “giáo khoa” như thế!

Tất nhiên, Giang Thiên Tương không khỏi biến thức, nhưng không là sự biến thức dễ dãi mà luôn kéo theo sự nâng cao cảm xúc như kêu gọi sự xề xoà tha thứ của người đọc. Ai mà nỡ gọi là khuyết điểm hay tì vết với những vần Lục Bát dễ thương như thế này!

Người về bên bến sông xa
Chèo thuyền xuôi mái, bài ca năm nào
Êm êm tiếng hát đêm sao
Hồn tôi người rót ngọt ngào lời thương
Thuyền người phiêu lãng ngàn phương
Khi nao ghé lại tơ vương của lòng?
Để tôi xóa hết chờ mong
Mùa Xuân nở với nụ hồng tình yêụ.
(Hỏi Người Xưa, trang 51)

Hay

Đâu người duyên dáng đêm tàn
Nụ cười tươi thắm để ngàn luyến thương
Phất phơ tà áo còn vương
Nhớ người năm cũ, quê hương ngậm ngùi!
(Tà Áo Quê Hương, trang 20)

Hoặc

Tôi đi trong buổi chiều tàn
Ngỡ ngàng nhặt cánh lá vàng đầu tiên
Cỏ ôm đồi dốc nghiêng nghiêng
Âm thầm se sắt nỗi niềm Thu sang
Từ chia ly trước lang thang
Tìm đâu ân ái, muôn vàn tiếc thương
Tình Thu cũ vẫn còn vương
Còn đâu mộng đẹp ngày thương năm nàọ
(Thu Mong Chờ, trang 78)

Viết đến đây, tôi giật mình vì ý nghĩ “ mình khó tính với Lục Bát Giang Thiên Tương quá chăng”? Xin thưa là tôi chỉ đưa ra một lý do để cân nhắc, để lượm những viên ngọc quý trong thơ Lục Bát trong Nắng Chiều Còn Vường thôi! Xin bỏ qua nếu tôi có gì làm người đọc không vừa ý! Nghĩ cho cùng, làm một bài thơ Lục Bát mà khư khư giữ Luật thì không bao giờ chuyển tải điều mình muốn bày tỏ một cách trung thực. Ngay trong Truyện Kiều, đâu đó chúng ta cũng thấy Nguyễn Du làm Lục Bát thật tài tình, linh hoạt, và luôn tạo ra cảm xúc cao nhất. Xin dẫn chứng ngắn:

Người lên ngựa kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san
Dặm hồng bụi cuốn chinh an
Trông người đã khuất mầy ngàn dâu xanh
Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường…

Đoan Trường Tân Thanh (Nguyễn Du)
Thêm nữa, nếu chúng ta chịu khó vào Web www.lucbat.com là Trang Nhà”chuyên trị” Thơ Lục Bát thì sẽ thấy vô số Lục Bát biến thức trong đó!


Một điểm son đáng ghi của Nhà thơ Giang Thiên Tường trong Thơ Lục Bát là không quá dài cho mỗi bài. Một Nhà thơ thời thượng đã nêu đại ý: Nếu Lục Bát quá dài thì như là một chuyện kể lê thê, làm mất hứng thú cho người đọc, cho nên không thể dài quá 22 câu 
Giang Thiên Tường đã khéo léo MỞ và khéo léo KẾT cho mỗi bài Lục Bát không vượt quá chuẩn mực (như là lời khuyên tốt) , là không quá 22 câu!

Như đã nói, tôi chưa hề gặp mặt hay quen biết với Nhà Thơ Giang Thiên Tường, cũng không tham dự lần ra mắt sách lần trước của anh, nhưng hôm nay Tập Nắng Chiều Còn Vương đã nằm trong tay tôi và đã qua tầm mắt tôi rồi! Tôi có vài lời cho riêng 10 bài Thơ Lục Bát trong Tập Thơ nầy của anh như là ý kiến rất RIÊNG về một đề tài rất hạn chế về Giang Thiên Tường!
 Ai đó đã viết một câu rất chí tình: “ Gặp Thơ như gặp bạn hiền quanh đây”.
Tôi mơ ước dù không gặp anh, tôi cũng đã gặp người bạn hiền trong đời mình, ít ra là qua những vần Lục Bát dễ thương của anh!

Sacramento, 20/8/2012, viết khi Nắng Chiều Còn Vương!


TRẦN KIÊU BẠC