Ở một nơi xa nửa vòng trái đất. Mượn quê người làm một chút quê hương. Những hạt thơ rơi bên ngoài Tổ quốc. Vẫn nẩy mầm, vẫn nở đóa yêu thương.
THAY LỜI CHÀO MỪNG!
LỜI CHÀO MỪNG
CẢM ƠN QUÝ THÂN HỮU ĐÃ MỞ CỬA VÀO NGÔI NHÀ ĐƠN SƠ "QUA DẤU BỤI THỜI GIAN" CỦA TRẦN KIÊU BẠC.
Wednesday, May 16, 2012
Tuesday, May 8, 2012
LỜI THĂM MẸ TỪ MỘT NƠI XA
Khuya rồi, thưa Mẹ ngủ chưa?
Mền thì vẫn thiếu, chiếu thừa một bên
Không con, Mẹ vẫn nằm nghiêng
Chừa con khoảng trống không quên mỗi ngày
Chiếc giường như chở gió mây
Vào riêng một cõi chứa đầy tình thuơng
Bên đây vắng Mẹ con buồn
Bên kia Mẹ đợi thằng con chưa về
Lời ru cũ con thường nghe
Đêm khuya như Mẹ vỗ về lòng con
Ngày dài buồn lại buồn hơn
Nghĩ cây già nhớ lộc non cồn cào
Vì con đời Mẹ xanh xao
Biết bao giờ trút gánh sầu hai vai
Trời đêm đã mọc sao Mai
Ngủ đi, sao Mẹ thức hoài đêm thâu
Thức chi đêm lụn dầu hao
Khuya rồi, Mẹ thức càng lâu càng buồn!
TRẦN KIÊU BẠC ( 1993)
Monday, May 7, 2012
MƯỢN CHÁU
Nhớ cháu nhiều, thương mãi không thôi
Mà cháu ai, đâu phải cháu tôi?
Vẫn gần như cháu mình có được
Hay lỡ thương bà ngoại cháu rồi?
Những sợi tóc bò quanh vầng trán
Hạt nhãn tròn trong cặp mắt đen
Chưa cười đã thấy môi lém lỉnh
Lúc cười miệng lại có duyên thêm
Chỉ hóng chuyện mà chưa nói được
Bước đi không vững lại đi hoài
Bi bô một tràng không ai hiểu
Một mình ôm trọn cõi thơ ngây
Không về thăm được lễ thôi nôi
Chỉ gởi cháu vui một nụ cười
Mai mốt sẽ về thăm lại cháu
Mược cháu ai làm cháu của tôi!
TRẦN KIÊU BẠC (10/5/2012)
NHAT HOA TREN NET
HÀ ĐÌNH NGUYÊN
Trong những ca khúc đầy tâm trạng hoài hương, mang nỗi buồn man mác như: Làng tôi (Chung Quân), Hướng về Hà Nội (Hoàng Dương), Quê mẹ (Thu Hồ), Làng tôi (Văn Cao), Ngày về (Hoàng Giác)... thì Thuyền viễn xứ của Phạm Duy dù có buồn nhưng giai điệu khác hẳn: lạ hơn, sang trọng hơn...Bạn thân của tôi, nhà báo Trần Thanh Bình, có một giọng hát khá tốt cho nên trong những lúc ngà ngà cuộc bia thường được đề nghị hát giúp vui (không đề nghị... cũng hát), và hầu như lúc nào anh cũng cất lên: “Chiều nay sương khói lên khơi. Thùy dương rũ bến tơi bời. Làn mây hồng pha ráng trời. Sóng Đà Giang thuyền qua xứ người. Thuyền ơi, viễn xứ xa xưa. Một lần qua dạt bến lau thưa. Hò ơi, giọng hát thiên thu. Suối nguồn xa vắng, chiều mưa ngàn về...”(Thuyền viễn xứ). Giọng hát nghiệp dư của Trần Thanh Bình chỉ cỡ đó, nhưng cũng đủ làm xuyến xao tâm hồn người nghe, nói chi được thưởng thức tiếng hát của những danh ca như Thái Thanh, Sĩ Phú.
Bài thơ của một cô gái
Thế nhưng, nhiều người chỉ biết Thuyền viễn xứ là của Phạm Duy chứ chẳng mấy ai để ý rằng đây là một ca khúc phổ nhạc, dù trên bìa bản nhạc (thời đó, từ đầu thập niên 1940 cho đến 1954 trong toàn quốc, cả Cao Miên, và từ 1954 đến 1975 ở miền Nam, những bản nhạc được xuất bản dưới hình thức in rời bằng giấy cứng khổ lớn in 2 mặt, gấp lại ở giữa), Thuyền viễn xứ được cả hai nhà xuất bản Tinh Hoa và Á Châu ấn hành đều ghi rõ: nhạc: Phạm Duy, thơ: Huyền Chi.
Huyền Chi là bút danh của Hồ Thị Ngọc Bút, sinh năm 1934 tại Từ Sơn (Bắc Ninh), theo gia đình vào Nam từ trước năm 1954. Lúc mới vào Nam (1948-1949), cô ở với chị gái tại Đà Lạt, sau đó về Sài Gòn (1950) vừa đi học vừa phụ mẹ trông nom sạp vải ở chợ Bến Thành. Bài thơ Thuyền viễn xứ là một trong 22 bài thơ nằm trong tập thơ Cởi mở của Huyền Chi xuất bản năm 1952, trong thời gian cô sinh hoạt với một nhóm văn nghệ sĩ trẻ và làm thư ký tòa soạn chuyên trách mục thơ cho Tạp chí Phụ Nữ của bà Nguyễn Thị Lan Phương. Và đây là nguyên văn bài thơ Thuyền viễn xứ, mà tác giả là một cô gái 18 tuổi:
Ra khơi sương khói một chiều/
Ra khơi sương khói một chiều/
Thùy dương rũ bến tiêu điều ven sông
/Lơ thơ rớt nhẹ men lòng/
Mây trời pha ráng lụa hồng giăng ngang
/Có thuyền viễn xứ Đà Giang
/Một lần dạt bến qua ngàn lau thưa/
Hò ơi! Câu hát ngàn xưa
/Ngân lên trong một chiều mưa xứ người
/Đường về cố lý xa xôi
/Nhịp sầu lỡ bước, tiếng đời hoang mang
/Sau mùa mưa gió phũ phàng/
Bến sông quay lại, hướng làng nẻo xa
/Lệ nhòa như nước sông Đà/
Mái đầu sương tuyết lòng già mong con/
Chiều nay trời nhẹ xuống hồn
/Bao nhiêu sương khói chập chờn lên khơi/
Hai bờ sông cách biệt rồi/
Tần Yên đã nổi bốn trời đao binh/
Ngàn câu hát buổi quân hành
/Dặm trường vó ngựa đăng trình nẻo xưa/
Biết bao thương nhớ cho vừa/
Gửi về phương ấy mịt mờ quê hương/
Chiều nay trên bến muôn phương
/Có thuyền viễn xứ lên đường... lại đi...

Duyên văn nghệ
Tuy lời thơ có vẻ... cổ phong (vốn là chuẩn mực vào thời đó) nhưng vẫn toát lên một nỗi buồn man mác. Bố cục bài thơ cũng rất “chắc tay”, hồn thơ tinh tế. Tập thơ vừa in xong tại nhà in Sống Chung trên đường Trần Hưng Đạo thì tình cờ Huyền Chi gặp nhạc sĩ Phạm Duy khi ông đến thăm bà Đào (chủ nhà in). Cô ký tặng nhạc sĩ tập thơ Cởi mở. Cũng nghĩ là chút duyên văn nghệ thế thôi, bởi đó là lần gặp gỡ duy nhất giữa hai người. Vậy mà người được tặng tập thơ đã chọn một bài thơ lục bát rất... truyền thống trong tập thơ ấy để phổ thành ca khúc. Điều đáng nói là nhạc sĩ Phạm Duy đã trổ tài “phù thủy” khiến trong ca khúc phổ thơ của ông, khó ai tìm thấy bóng dáng của thể loại lục bát. Đã vậy, đoạn giữa được chuyển qua âm giai trưởng nghe vừa xa vắng, vừa rạo rực mênh mang: “Nhìn về đường cố lý, cố lý xa xôi. Đời nhịp sầu lỡ bước, Bước hoang mang rồi. Quay lại hướng làng, Đà Giang lệ ướt nồng. Mẹ già ngồi im bóng. Mái tuyết sương mong con bạc lòng...”.
Trong quyển Hồi ký Phạm Duy (tập 3, ấn bản 2008), tác giả viết: “Gần hai năm đã trôi qua kể từ khi tôi bỏ vùng quê vào Hà Nội, rời miền Bắc vào miền Nam, lo ổn định nơi ăn chốn ở và thu xếp công kia việc nọ ở Sài Gòn... Vào thời điểm này (trước cuộc di cư 1954), Huyền Chi, một cô em bán vải ở chợ Bến Thành đưa cho tôi phổ nhạc bài thơ nhan đề Thuyền viễn xứ. Bài thơ này nói lên tâm trạng một người Bắc Việt phải rời bỏ bến Đà Giang để vào sinh sống tại miền Nam. Phổ nhạc xong bài thơ nhớ miền viễn xứ, trong tôi lại nổi dậy sự viễn mơ của bài Bên cầu biên giới năm xưa, tôi bèn soạn bài Viễn du...”.
Huyền Chi lập gia đình với giáo sư Trần Phụng Tường vào năm 1954, và theo chồng ra Phan Thiết, nơi ông đang dạy Pháp văn ở Trường trung học Phan Bội Châu. Ở đây bà mở hiệu sách Bút Hoa và dạy Anh văn.
Nguyễn Phước Thị Liên, một cựu học sinh của Trường trung học Phan Bội Châu, đã “vẽ lại” chân dung của Huyền Chi như sau: “Huyền Chi là một phụ nữ đẹp, tài sắc vẹn toàn. Cô có nước da trắng khỏe, dáng người cao, gương mặt tươi, miệng cười hiền hậu dễ mến, tà áo dài màu thiên thanh đài các trong những chiều lộng gió, khi thầy cô sánh vai giữa thành phố Phan Thiết, đã làm xao xuyến bao tâm hồn nữ sinh lúc bấy giờ...” (Kiến Thức Ngày Nay số 768 tháng 12.2011).
Sau 1975, gia đình bà Huyền Chi chuyển vào Sài Gòn. Bà hiện vẫn còn sống tại đây, còn chồng bà - ông Trần Phụng Tường mất năm 2010. Trong 7 người con của hai ông bà có 4 người hiện ở Việt Nam, 3 người ở nước ngoài. Chắc chắn những người con ở xa quê này cũng sẽ có tâm trạng như mẹ của mình vào hơn nửa thế kỷ trước, khi: “Chiều nay gửi tới quê xưa. Biết là bao thương nhớ cho vừa. Trời cao chìm rơi xuống đời. Biết là bao sầu trên xứ người. Mịt mờ sương khói lên hương. Lũ thùy dương rủ bóng ven sông. Chiều nay trên bến muôn phương. Có thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường...” (Thuyền viễn xứ).
Hà Đình Nguyên

Duyên văn nghệ
Tuy lời thơ có vẻ... cổ phong (vốn là chuẩn mực vào thời đó) nhưng vẫn toát lên một nỗi buồn man mác. Bố cục bài thơ cũng rất “chắc tay”, hồn thơ tinh tế. Tập thơ vừa in xong tại nhà in Sống Chung trên đường Trần Hưng Đạo thì tình cờ Huyền Chi gặp nhạc sĩ Phạm Duy khi ông đến thăm bà Đào (chủ nhà in). Cô ký tặng nhạc sĩ tập thơ Cởi mở. Cũng nghĩ là chút duyên văn nghệ thế thôi, bởi đó là lần gặp gỡ duy nhất giữa hai người. Vậy mà người được tặng tập thơ đã chọn một bài thơ lục bát rất... truyền thống trong tập thơ ấy để phổ thành ca khúc. Điều đáng nói là nhạc sĩ Phạm Duy đã trổ tài “phù thủy” khiến trong ca khúc phổ thơ của ông, khó ai tìm thấy bóng dáng của thể loại lục bát. Đã vậy, đoạn giữa được chuyển qua âm giai trưởng nghe vừa xa vắng, vừa rạo rực mênh mang: “Nhìn về đường cố lý, cố lý xa xôi. Đời nhịp sầu lỡ bước, Bước hoang mang rồi. Quay lại hướng làng, Đà Giang lệ ướt nồng. Mẹ già ngồi im bóng. Mái tuyết sương mong con bạc lòng...”.
Trong quyển Hồi ký Phạm Duy (tập 3, ấn bản 2008), tác giả viết: “Gần hai năm đã trôi qua kể từ khi tôi bỏ vùng quê vào Hà Nội, rời miền Bắc vào miền Nam, lo ổn định nơi ăn chốn ở và thu xếp công kia việc nọ ở Sài Gòn... Vào thời điểm này (trước cuộc di cư 1954), Huyền Chi, một cô em bán vải ở chợ Bến Thành đưa cho tôi phổ nhạc bài thơ nhan đề Thuyền viễn xứ. Bài thơ này nói lên tâm trạng một người Bắc Việt phải rời bỏ bến Đà Giang để vào sinh sống tại miền Nam. Phổ nhạc xong bài thơ nhớ miền viễn xứ, trong tôi lại nổi dậy sự viễn mơ của bài Bên cầu biên giới năm xưa, tôi bèn soạn bài Viễn du...”.
Huyền Chi lập gia đình với giáo sư Trần Phụng Tường vào năm 1954, và theo chồng ra Phan Thiết, nơi ông đang dạy Pháp văn ở Trường trung học Phan Bội Châu. Ở đây bà mở hiệu sách Bút Hoa và dạy Anh văn.
Nguyễn Phước Thị Liên, một cựu học sinh của Trường trung học Phan Bội Châu, đã “vẽ lại” chân dung của Huyền Chi như sau: “Huyền Chi là một phụ nữ đẹp, tài sắc vẹn toàn. Cô có nước da trắng khỏe, dáng người cao, gương mặt tươi, miệng cười hiền hậu dễ mến, tà áo dài màu thiên thanh đài các trong những chiều lộng gió, khi thầy cô sánh vai giữa thành phố Phan Thiết, đã làm xao xuyến bao tâm hồn nữ sinh lúc bấy giờ...” (Kiến Thức Ngày Nay số 768 tháng 12.2011).
Sau 1975, gia đình bà Huyền Chi chuyển vào Sài Gòn. Bà hiện vẫn còn sống tại đây, còn chồng bà - ông Trần Phụng Tường mất năm 2010. Trong 7 người con của hai ông bà có 4 người hiện ở Việt Nam, 3 người ở nước ngoài. Chắc chắn những người con ở xa quê này cũng sẽ có tâm trạng như mẹ của mình vào hơn nửa thế kỷ trước, khi: “Chiều nay gửi tới quê xưa. Biết là bao thương nhớ cho vừa. Trời cao chìm rơi xuống đời. Biết là bao sầu trên xứ người. Mịt mờ sương khói lên hương. Lũ thùy dương rủ bóng ven sông. Chiều nay trên bến muôn phương. Có thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường...” (Thuyền viễn xứ).
Hà Đình Nguyên
Sunday, May 6, 2012
.Sáu mươi sáu câu Phật học.
1. Sở dĩ người ta đau khổ chính vì mãi đeo đuổi những thứ sai lầm.
2. Nếu anh không muốn rước phiền não vào mình, thì người khác cũng không cách nào gây phiền não cho anh. Vì chính tâm anh không buông xuống nỗi.
3. Anh hãy luôn cảm ơn những ai đem đến nghịch cảnh cho mình.
4. Anh phải luôn mở lòng khoan dung lượng thứ cho chúng sanh, cho dù họ xấu bao nhiêu, thậm chí họ đã làm tổn thương anh, anh phải buông bỏ, mới có được niềm vui đích thực.
5. Khi anh vui, phải nghĩ rằng niềm vui này không phải là vĩnh hằng. Khi anh đau khổ, anh hãy nghĩ rằng nỗi đau này cũng không trường tồn.
6. Sự chấp trước của ngày hôm nay sẽ là niềm hối hận cho ngày mai.
7. Anh có thể có tình yêu nhưng đừng nên dính mắc, vì chia ly là lẽ tất nhiên.
8. Đừng lãng phí sinh mạng của mình trong những chốn mà nhất định anh sẽ ân hận.
9. Khi nào anh thật sự buông xuống thì lúc ấy anh sẽ hết phiền não.
10. Mỗi một vết thương đều là một sự trưởng thành.
11.Người cuồng vọng còn cứu được, người tự ti thì vô phương, chỉ khi nhận thức được mình, hàng phục chính mình, sửa đổi mình, mới có thể thay đổi người khác.
12. Anh đừng có thái độ bất mãn người ta hoài, anh phải quay về kiểm điểm chính mình mới đúng. Bất mãn người khác là chuốc khổ cho chính anh.
13. Một người nếu tự đáy lòng không thể tha thứ cho kẻ khác, thì lòng họ sẽ không bao giờ được thanh thản.
14. Người mà trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác.
15. Hủy diệt người chỉ cần một câu, xây dựng người lại mất ngàn lời, xin anh “ đa khẩu hạ lưu tình”.
16.Vốn dĩ không cần quay đầu lại xem người nguyền rủa anh là ai? Giả sử anh bị chó điên cắn anh một phát, chẳng lẽ anh cũng phải chạy đến cắn lại một phát?
17. Đừng bao giờ lãng phí một giây phút nào để nghĩ nhớ đến người anh không hề yêu thích.
18. Mong anh đem lòng từ bi và thái độ ôn hòa để bày tỏ những nỗi oan ức và bất mãn của mình, có như vậy người khác mới khả dĩ tiếp nhận.
19. Cùng là một chiếc bình như vậy, tại sao anh lại chứa độc dược? Cùng một mảnh tâm tại sao anh phải chứa đầy những não phiền như vậy?
20. Những thứ không đạt được, chúng ta sẽ luôn cho rằng nó đẹp đẽ, chính vì anh hiểu nó quá ít, anh không có thời gian ở chung với nó. Nhưng rồi một ngày nào đó khi anh hiểu sâu sắc, anh sẽ phát hiện nó vốn không đẹp như trong tưởng tượng của anh.
21. Sống một ngày là có diễm phúc của một ngày, nên phải trân quý. Khi tôi khóc, tôi không có dép để mang thì tôi lại phát hiện có người không có chân.
22.Tốn thêm một chút tâm lực để chú ý người khác chi bằng bớt một chút tâm lực phản tỉnh chính mình, anh hiểu chứ?
23. Hận thù người khác là một mất mát lớn nhất đối với mình.
24. Mỗi người ai cũng có mạng sống, nhưng không phải ai cũng hiểu được điều đó, thậm chí trân quý mạng sống của mình hơn. Người không hiểu được mạng sống thì mạng sống đối với họ mà nói chính là một sự trừng phạt.
25. Tình chấp là nguyên nhân của khổ não, buông tình chấp anh mới được tự tại.
26. Đừng khẳng định về cách nghĩ của mình quá, như vậy sẽ đỡ phải hối hận hơn.
27. Khi anh thành thật với chính mình, thế giới sẽ không ai lừa dối anh.
28. Người che đậy khuyết điểm của mình bằng thủ đoạn tổn thương người khác là kẻ đê tiện.
29. Người âm thầm quan tâm chúc phúc người khác, đó là một sự bố thí vô hình.
30. Đừng gắng sức suy đoán cách nghĩ của người khác, nếu anh không phán đoán chính xác bằng trí huệ và kinh nghiệm thì mắc phải nhầm lẫn là lẽ thường tình.
31. Muốn hiểu một người, chỉ cần xem mục đích đến và xuất phát điểm của họ có giống nhau không, thì có thể biết được họ có thật lòng không.
32. Chân lý của nhân sinh chỉ là giấu trong cái bình thường đơn điệu.
33. Người không tắm sửa thì càng xức nước hoa càng thấy thối. Danh tiếng và tôn quý đến từ sự chân tài thực học. Có đức tự nhiên thơm.
34. Thời gian sẽ trôi qua, để thời gian xóa sạch phiền não của anh đi.
35. Anh cứ xem những chuyện đơn thuần thành nghiêm trọng, như thế anh sẽ rất đau khổ.
36. Người luôn e dè với thiện ý của người khác thì hết thuốc cứu chữa.
37. Nói một lời dối dang thì phải bịa thêm mười câu không thật nữa để đắp vào, cần gì khổ như vậy?
38. Sống một ngày vô ích, không làm được chuyện gì, thì chẳng khác gì kẻ phạm tội ăn trộm.
39. Quảng kết chúng duyên, chính là không làm tổn thương bất cứ người nào.
40. Im lặng là một câu trả lời hay nhất của sự phỉ báng.
41. Cung kính đối với người là sự trang nghiêm cho chính mình.
42. Có lòng thương yêu vô tư thì sẽ có tất cả.
43. Đến là ngẫu nhiên, đi là tất nhiên. Cho nên anh cần phải “ tùy duyên mà hằng bất biến, bất biến mà hằng tùy duyên”.
44. Từ bi là vũ khí tốt nhất của chính anh.
45. Chỉ cần đối diện với hiện thực, anh mới vượt qua hiện thực.
46. Lương tâm là tòa án công bằng nhất của mỗi người, anh dối người khác được nhưng không bao giờ dối nỗi lương tâm mình.
47. Người không biết yêu mình thì không thể yêu được người khác.
48. Có lúc chúng ta muốn thầm hỏi mình, chúng ta đang đeo đuổi cái gì? Chúng ta sống vì cái gì?
49. Đừng vì một chút tranh chấp mà xa lìa tình bạn chí thân của anh, cũng đừng vì một chút oán giận mà quên đi thâm ân của người khác.
50. Cảm ơn thượng đế với những gì tôi đã có, cảm ơn thượng đế những gì tôi không có.
51. Nếu có thể đứng ở góc độ của người khác để nghĩ cho họ thì đó mới là từ bi.
52. Nói năng đừng có tánh châm chọc, đừng gây thương tổn, đừng khoe tài cáng của mình, đừng phô điều xấu của người, tự nhiên sẽ hóa địch thành bạn.
53. Thành thật đối diện với mâu thuẩn và khuyết điểm trong tâm mình, đừng lừa dối chính mình.
54. Nhân quả không nợ chúng ta thứ gì, cho nên xin đừng oán trách nó.
55. Đa số người cả đời chỉ làm được ba việc: Dối mình, dối người, và bị người dối.
56. Tâm là tên lừa đảo lớn nhất, người khác có thể dối anh nhất thời, nhưng nó lại gạt anh suốt đời.
57. Chỉ cần tự giác tâm an, thì đông tây nam bắc đều tốt. Nếu còn một người chưa độ thì đừng nên thoát một mình.
58. Khi trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ này, nếu anh chịu buông xuống, thì anh mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác. Nếu một người luôn khư khư với quan niệm của mình, không chịu buông xuống thì trí huệ chỉ có thể đạt đến ở một mức độ nào đó mà thôi.
59. Nếu anh có thể sống qua những ngày bình an, thì đó chính là một phúc phần rồi. Biết bao nhiêu người hôm nay đã không thấy được vầng thái dương của ngày mai, biết bao nhiêu người hôm nay đã trở thành tàn phế, biết bao nhiêu người hôm nay đã đánh mất tự do, biết bao nhiêu người hôm nay đã trở thành nước mất nhà tan.
60. Anh có nhân sinh quan của anh, tôi có nhân sinh quan của tôi, tôi không dính dáng gì tới anh. Chỉ cần tôi có thể, tôi sẽ cảm hóa được anh. Nếu không thể thì tôi đành cam chịu.
61. Anh hi vọng nắm được sự vĩnh hằng thì anh cần phải khống chế hiện tại.
62. Ác khẩu, mãi mãi đừng để nó thốt ra từ miệng chúng ta, cho dù người ta có xấu bao nhiêu, có ác bao nhiêu. Anh càng nguyền rủa họ, tâm anh càng bị nhiễm ô, anh hãy nghĩ, họ chính là thiện tri thức của anh.
63. Người khác có thể làm trái nhân quả, người khác có thể tổn hại chúng ta, đánh chúng ta, hủy báng chúng ta. Nhưng chúng ta đừng vì thế mà oán hận họ, vì sao? Vì chúng ta nhất định phải giữ một bản tánh hoàn chỉnh và một tâm hồn thanh tịnh.
64. Nếu một người chưa từng cảm nhận sự đau khổ khó khăn thì rất khó cảm thông cho người khác. Anh muốn học tinh thần cứu khổ cứu nạn, thì trước hết phải chịu đựng được khổ nạn.
65. Thế giới vốn không thuộc về anh, vì thế anh không cần vứt bỏ, cái cần vứt bỏ chính là những tánh cố chấp. Vạn vật đều cung ứng cho ta, nhưng không thuộc về ta.
66. Bởi chúng ta không thể thay đổi được thế giới xung quanh, nên chúng ta đành phải sửa đổi chính mình, đối diện với tất cả bằng lòng từ bi và tâm trí huệ.
Saturday, May 5, 2012
Friday, May 4, 2012
Saturday, April 28, 2012
Tuesday, April 24, 2012
Monday, April 23, 2012
Friday, April 6, 2012
NHAT HOA TREN NET
Thơ ơi là thơ, vậy mà vẫn còn có khối người chạy vạy để in thơ kìa.”
Tôi dạo qua dạo lại vòng vòng hội sách 2012, đông vui quá chừng, tai điếc đi vì quá nhiều âm thanh chen lấn nhau cố để được chui vào cái lổ nhỉ nhỏ xíu. Chỗ nào thấy đông người thì dừng lại xem, kinh nghiệm đi hội sách những lần trước cho biết, nơi đông người là nơi sách giảm giá thấp nhất.
Đúng y bon!
Tôi
chen vào trước quày sách Bách Việt, nơi có rất đông bạn trẻ vây quanh, à
ha, quá nhiều sách đại hạ giá, từ văn học trong nước đến văn học
nước ngoài, và đủ thứ thể loại linh tinh khác…
Nhưng một thứ tôi quan tâm nhất là mảnh giấy học trò có ghi hàng chữ “ Thơ 2000 đồng”.
Không tin, tôi hỏi lại cậu trai đứng bán hàng: - Một tập thơ mà giá 2000 đồng hả em?
Cậu
trai cười tươi tỉnh: - Dạ, mua đi chị, thơ 2000, truyện ngắn 5000,
truyện dịch 5000… Rồi cậu trai chỉ vào từng chồng sách đã được phân ra
trước mặt, tôi tối mắt lại khi nhìn thấy những tập thơ, những cái tên mà
tôi từng biết họ: Tuệ Nguyên, Đỗ Trí Vương, Lê Vĩnh Tài…
Thật đau lòng cho những người làm thơ! Một sự rẻ rúng công khai!
Mặc dù tập thơ Lê Vĩnh Tài mang tên” Đêm và những khúc rời của Vũ” đã phát hành năm 2008, tập thơ của Đỗ Trí Vương, “Thức ăn của ngày hôm nay”, phát hành 2009, Tuệ Nguyên “Những giấc mơ đa chiều”, phát hành 2009,… Và những tập truyện ngắn chỉ có giá 5000 đồng, như: “Chát” (Từ Nữ Triệu Vương”; “Thế giới trùm chăn” (Hoàng Long); “Người đàn ông có đôi mắt trong“ (Cấn Vân Khánh); “Tí ti thôi nhé” (Trần Thu Trang)… Trong số này, tác giả Cấn Vân Khánh vừa được ChiBooks mua bản quyền tác phẩm với thời hạn 10 năm để xuất khẩu ra nước ngoài.
Chợt nghĩ, giá như trước khi mang sách của các nhà văn, nhà thơ ra bán đại hạ giá ở hội sách, những người có quyền quyết định ở công ty Bách Việt có thể điện thoại cho các tác giả, rằng:
-
Tôi bán sách của anh/ chị giá 2000 đồng, 5000 đồng, anh chị có mua lại
thì liên hệ, nếu không tôi sẽ bán ra ở hội sách. Lý do: Sách để lâu quá
không ai mua; Sách đã “quá đát”; Không còn kho để chứa sách nữa.
Tôi chắc chắn khi nghe tin này, dù ở xa (như Lê Vĩnh Tài ở Buôn Ma Thuột), như Tuệ Nguyên đang lang thang đâu đó trên vùng Pleiku, Kon Tum…cũng sẽ nhờ bạn bè ở Sài Gòn mua lại hết.
Tôi chắc chắn khi nghe tin này, dù ở xa (như Lê Vĩnh Tài ở Buôn Ma Thuột), như Tuệ Nguyên đang lang thang đâu đó trên vùng Pleiku, Kon Tum…cũng sẽ nhờ bạn bè ở Sài Gòn mua lại hết.
Tôi
chắc chắn, khi nhìn thấy tận mắt sách của mình được rao bán chỉ bằng
với giá mua một ly trà đá vỉa hè, vì trà đá trong các quán cà phê máy
lạnh giá 25 ngàn, còn trà đá ở trong khu cà phê các khách sạn từ 5 sao
có giá 45 ngàn, nếu lên cà phê tầng 33, ly trà đá có giá 10 đô la Mỹ,
thì các nhà thơ ấy sẽ chết đứng như Từ Hải.
Đối xử với các người viết như thế là quá xúc phạm, nếu nói huỵch tẹt ra xử sự quá bần tiện.
Còn
nhớ, ở đợt sách giảm giá của Fahasa trong năm 2011, tôi mua được tập
thơ của nhà thơ Triệu Từ Truyền với giá 10 ngàn đồng. 10 ngàn đồng mà đã
làm đau lòng vì sự bèo bọt, chứ nói chi là 2000 đồng, hay 5000 đồng 3
cuốn. Đến giờ, mỗi khi đi mua sách giảm giá, cứ nhớ mãi gương mặt của
nhà thơ Triệu Từ Truyền thất thần xụi lơ nói: - Anh mà biết họ bán vậy
anh đến mua lại hết.
Tôi
chưa kể đến sách dịch, giá 10 ngàn một cuốn, nhưng nếu trả giá 7 ngàn
một cuốn, vẫn mua được, ví dụ: Trước trong và sau cuộc tình (Jean-Marc
Parisic); Mười giờ rưỡi đêm hè (Marguerite Duras); Màu xanh trong suốt
(Ryu Murakami); Vòng xoáy (J.M.G.Le Clézio –tác giả đoạt giải nobel Văn
học năm 2008)…
Chiều
chủ nhật (25.3.2012), một người bạn đồng nghiệp đi hội sách về, đưa ra
trước mặt tôi ba tập thơ, cười rất đểu:- 5000 đồng ba cuốn thơ nè…
Thơ ơi là thơ, vậy mà vẫn còn có khối người chạy vạy để in thơ kìa.
Thơ ơi là thơ, vậy mà vẫn còn có khối người chạy vạy để in thơ kìa.
Nguồn: báo Văn Nghệ TPHCM
(Coppy lại từ Lethieunhon.com)
Monday, April 2, 2012
Sunday, April 1, 2012
Chuyện đạo
Đạo bất khả tu du ly dã.
(Không thể rời xa Đạo dù chỉ trong tíc tắc.)
Trung Dung
Đây là chuyện tôi nghe: Có thầy nọ sống đời tu hành rất mực thánh thiện. Không kể những lúc bắt buộc phải nhín chút thời gian dành cho các sinh hoạt cần thiết của đời thường, thầy luôn cố gắng thu xếp tối đa thời gian trong ngày để cầu nguyện, tụng kinh, ngồi thiền, v.v… Đầu óc thầy hầu như không còn chỗ nào trống trải cho các tà niệm sái quấy có thể thừa cơ len lỏi vào. Sau nhiều năm dài tu hành tinh nghiêm, cẩn mật như thế, thầy thấy mãn nguyện trước sự tiến bộ tâm linh.Thế rồi khuya hôm nọ, sau khi xong cữ thiền giờ Tý, thầy đi ngủ và mơ thấy mình dự một buổi tiệc lớn gồm toàn những bậc đạo cao đức trọng. Trong lúc chủ tiệc chưa ra tiếp khách, mọi người lần lượt được rước tới bàn ăn rất to và dài. Ai cũng có chỗ ngồi trang trọng theo đúng thứ bậc vì chủ tiệc đã gắn sẵn trên mặt bàn những tấm thẻ nhỏ ghi họ tên từng thực khách. Thầy thấy mình được vinh dự xếp ngồi gần chủ tiệc, nhưng ở vị trí thứ nhì. Vị trí thứ nhất dành cho người bán tạp hóa ở khu phố không xa nơi thầy cư trú.Sáng hôm sau, thầy tìm tới tiệm tạp hóa, lựa một góc và nhẫn nại đứng quan sát rất lâu. Tiệm không lớn lắm nhưng lúc nào cũng có khách hàng vào ra nườm nượp. Chủ tiệm chẳng hở tay bán hàng, thu tiền, thối tiền… vẻ mặt lúc nào cũng tươi cười, nói năng hòa nhã… Tuyệt nhiên không thấy chủ tiệm có cử chỉ, động tác đặc biệt gì tỏ ra ông đang tĩnh tâm hay cầu nguyện.Nhân một lúc ngớt khách, thầy bước tới chào chủ tiệm và kể lại giấc mơ kỳ lạ. Chủ tiệm ôn tồn nói: “Tôi cần chiết dầu ăn từ cái thùng hai mươi lít ra hai mươi cái chai xếp sẵn ở góc kia. Xin thầy giúp một tay. Đừng để chai nào đầy quá hay vơi quá. Đừng làm sánh dầu ra ngoài chai nhớp nháp. Lát nữa sẽ tiếp tục câu chuyện của thầy.”Thầy chiết dầu vừa xong thì đúng lúc chủ tiệm được ngơi tay bán hàng. Ông ta bước tới hỏi: “Nãy giờ cắm cúi lo chiết dầu ra chai, trong đầu thầy có giây phút nào nhớ nghĩ tới Trời tới Phật không?”Thầy bẽn lẽn: “Tôi làm không quen, ráng tập trung rót dầu vào từng chai theo đúng yêu cầu của ông, mệt toát mồ hôi. Do đó chẳng được phút giây nào rảnh trí mà nhớ nghĩ tới Phật Trời!”Chủ tiệm cười hiền: “Nếu thầy bận bịu buôn bán như tôi cả ngày, lu bu quanh năm suốt tháng, thì tâm thầy ắt xa Trời xa Phật mịt mù luôn! Tôi không có phước lớn để được rảnh rang chuyên lo tu hành như thầy.
Tôi chỉ ráng tập thành thói quen cho tâm tôi lúc nào cũng nhớ Trời nhớ Phật. Khi bán hàng cho khách tôi nguyện không để ai phải phiền lòng vì bị cân non đong thiếu. Khi chiều chuộng khách hàng tôi nguyện không để ai mích lòng vì thấy tôi thiên vị. Gặp khách hàng xấu tính, tôi nói cười nhã nhặn, thầm nhắc nhở: Thánh Thần giả dạng thường dân tới thử thách mình đây. Tôi tu như vậy đó, thưa thầy.
Huệ Khải
Đạo bất khả tu du ly dã.
(Không thể rời xa Đạo dù chỉ trong tíc tắc.)
Trung Dung
Đây là chuyện tôi nghe: Có thầy nọ sống đời tu hành rất mực thánh thiện. Không kể những lúc bắt buộc phải nhín chút thời gian dành cho các sinh hoạt cần thiết của đời thường, thầy luôn cố gắng thu xếp tối đa thời gian trong ngày để cầu nguyện, tụng kinh, ngồi thiền, v.v… Đầu óc thầy hầu như không còn chỗ nào trống trải cho các tà niệm sái quấy có thể thừa cơ len lỏi vào. Sau nhiều năm dài tu hành tinh nghiêm, cẩn mật như thế, thầy thấy mãn nguyện trước sự tiến bộ tâm linh.Thế rồi khuya hôm nọ, sau khi xong cữ thiền giờ Tý, thầy đi ngủ và mơ thấy mình dự một buổi tiệc lớn gồm toàn những bậc đạo cao đức trọng. Trong lúc chủ tiệc chưa ra tiếp khách, mọi người lần lượt được rước tới bàn ăn rất to và dài. Ai cũng có chỗ ngồi trang trọng theo đúng thứ bậc vì chủ tiệc đã gắn sẵn trên mặt bàn những tấm thẻ nhỏ ghi họ tên từng thực khách. Thầy thấy mình được vinh dự xếp ngồi gần chủ tiệc, nhưng ở vị trí thứ nhì. Vị trí thứ nhất dành cho người bán tạp hóa ở khu phố không xa nơi thầy cư trú.Sáng hôm sau, thầy tìm tới tiệm tạp hóa, lựa một góc và nhẫn nại đứng quan sát rất lâu. Tiệm không lớn lắm nhưng lúc nào cũng có khách hàng vào ra nườm nượp. Chủ tiệm chẳng hở tay bán hàng, thu tiền, thối tiền… vẻ mặt lúc nào cũng tươi cười, nói năng hòa nhã… Tuyệt nhiên không thấy chủ tiệm có cử chỉ, động tác đặc biệt gì tỏ ra ông đang tĩnh tâm hay cầu nguyện.Nhân một lúc ngớt khách, thầy bước tới chào chủ tiệm và kể lại giấc mơ kỳ lạ. Chủ tiệm ôn tồn nói: “Tôi cần chiết dầu ăn từ cái thùng hai mươi lít ra hai mươi cái chai xếp sẵn ở góc kia. Xin thầy giúp một tay. Đừng để chai nào đầy quá hay vơi quá. Đừng làm sánh dầu ra ngoài chai nhớp nháp. Lát nữa sẽ tiếp tục câu chuyện của thầy.”Thầy chiết dầu vừa xong thì đúng lúc chủ tiệm được ngơi tay bán hàng. Ông ta bước tới hỏi: “Nãy giờ cắm cúi lo chiết dầu ra chai, trong đầu thầy có giây phút nào nhớ nghĩ tới Trời tới Phật không?”Thầy bẽn lẽn: “Tôi làm không quen, ráng tập trung rót dầu vào từng chai theo đúng yêu cầu của ông, mệt toát mồ hôi. Do đó chẳng được phút giây nào rảnh trí mà nhớ nghĩ tới Phật Trời!”Chủ tiệm cười hiền: “Nếu thầy bận bịu buôn bán như tôi cả ngày, lu bu quanh năm suốt tháng, thì tâm thầy ắt xa Trời xa Phật mịt mù luôn! Tôi không có phước lớn để được rảnh rang chuyên lo tu hành như thầy.
Tôi chỉ ráng tập thành thói quen cho tâm tôi lúc nào cũng nhớ Trời nhớ Phật. Khi bán hàng cho khách tôi nguyện không để ai phải phiền lòng vì bị cân non đong thiếu. Khi chiều chuộng khách hàng tôi nguyện không để ai mích lòng vì thấy tôi thiên vị. Gặp khách hàng xấu tính, tôi nói cười nhã nhặn, thầm nhắc nhở: Thánh Thần giả dạng thường dân tới thử thách mình đây. Tôi tu như vậy đó, thưa thầy.
Huệ Khải
Bơm ngực - nỗi ám ảnh trăm năm của thế giới.
Mùa xuân năm 1962, một bà mẹ 6 con ở Mỹ lên bàn mổ. Sau hai giờ, số đo vòng ngực của bà thăng hạng từ B lên C. Bà vui sướng đi vào lịch sử thế giới.
Đã 50 năm kể từ ca phẫu thuật nâng ngực đầu tiên sử dụng silicon được thực hiện. Ngày nay, đây là loại phẫu thuật thẩm mỹ phổ biến thứ nhì trên toàn cầu, với 1,5 triệu quý bà quý cô thực hiện mỗi năm.
"Tôi nghĩ kết quả thật là tuyệt vời... Đôi gò bồng đảo cho cảm giác mềm mại và giống như ngực thật", bà Timmie Jean Lindsey ở Texas nay hồi tưởng. Bà hiện 80 tuổi.
"Tôi không lường hết kết quả tuyệt diệu này, cho đến khi tôi ra ngoài đường, và thấy cánh đàn ông trầm trồ liếc xéo tôi".
Vẻ đẹp căng tràn sức sống của diễn viên Marilyn Monroe khiến cả thế giới trầm trồ ngưỡng mộ. Ảnh: bartcop.com
Cuộc phẫu thuật không chỉ nâng ngực, nó nâng cả lòng tự tin của Lindsey, và bà vui sướng vì vô tình trở thành trung tâm chú ý, bởi thực ra bà chưa từng có ý định phẫu thuật nâng ngực trước đó. Lindsey đến bệnh viện là để xóa các vết xăm trên ngực, và rồi các bác sĩ hỏi bà có muốn làm tình nguyện viên cho một cuộc thử nghiệm đầu tiên hay không.
"Tôi hơi lo lắng và dường như không nghe rõ... Tai tôi dựng đứng cả lên như tai voi vậy. Và thế rồi họ bảo "Được rồi chúng tôi sẽ mổ nhé". Thế là xong". Ca mổ được thực hiện bởi hai bác sĩ đầy tham vọng là Frank Gerow và Thomas Cronin.
Gerow là người đầu tiên đưa ra ý tưởng cấy một vật thể vào ngực. "Frank Gerow bóp một túi nhựa đựng máu và thấy rằng nó cho cảm giác giống như ngực phụ nữ", Teresa Riordan, tác giả cuốn "Khám phá cái đẹp: Lịch sử những phát minh giúp chúng ta đẹp", kể.
Các kiểu làm to ngực trong lịch sử thế giới:
Năm 1890: bơm trực tiếp parafin vào ngực, nhưng cách này bị cấm ngay sau đó bởi parafin thấm vào các phần khác trong cơ thể.
Năm 1920-30: lấy mỡ từ các phần cơ thể để đưa vào ngực.
Năm 1950: cấy vào ngực các chất liệu như polyurethane, sụn, bọt xốp, gỗ, thậm chí cả những quả bóng thủy tinh.
Ngoài ra người ta còn dùng những cách không xâm lấn như bơm chân không, dùng thiết bị hút, xoa các loại kem dưỡng hoặc dung dịch "thần kỳ", dùng áo độn ngực.
Và cuối cùng anh ấy mừng điên lên khi phát minh ra cách đưa silicon vào ngực phụ nữ. Vật thử nghiệm đầu tiên là một con chó có cái tên mỹ miều Esmeralda. Nguyên tắc của việc thử nghiệm rất đơn giản. "Tên lửa bay lên được là nhờ lực nâng và lực đẩy - giống hệt như trong việc nâng ngực", Thomas Biggs, người cộng tác với hai nhà phẫu thuật nói trên, kể.
"Tôi chịu trách nhiệm về con chó. Túi cấy được đưa vào bên dưới da và để ở đó vài tuần, cho đến khi cô nàng cắn cắn vào các vết khâu, và chúng tôi phải bỏ cái túi ra".
Cuộc phẫu thuật được đánh giá là thành công, và Gerow tuyên bố các túi cấy cũng vô hại như là nước mà thôi. Sau đó, nhóm bác sĩ chuyển sang bước thứ hai, tìm kiếm phụ nữ tình nguyện cho cấy.
Bà Lindsey không còn nhớ rõ về hôm phẫu thuật. "Tôi nhớ là sau khi từ chỗ bác sĩ về nhà, tôi thấy ngực mình rất nặng - như có cái gì nặng ngồi trong ngực tôi ấy".
"Độ ba hay bốn ngày sau thì cảm giác đau biến mất".
Các bác sĩ rất hỉ hả với thành công này. Nhưng lúc đó họ vẫn chưa tưởng tượng được hết mình đang có gì trong tay.
"Tất nhiên là phấn khởi", Biggs nhớ lại. "Nhưng nếu lúc ấy tôi có cái gương soi vào tương lai, chắc tôi phát điên mất. Tôi đã không đủ khôn ngoan để nhận ra tầm vóc của cuộc phẫu thuật".
Tầm quan trọng của nó bắt đầu lan tỏa khi Cronin giới thiệu công trình của họ tại Hội phẫu thuật thẩm mỹ quốc tế ở Washington DC năm 1963. "Toàn thể giới phẫu thuật thẩm mỹ phát cuồng lên vì vui mừng", Biggs nói.
Quả là thiên thời, bởi từ những năm 1950, văn hóa Mỹ đã bị ảnh hưởng và mê đắm bởi những khuôn ngực to và đẹp. Cũng thời đó, Playboy và Barbie ra đời, và sức ảnh hưởng của các ngôi sao điện ảnh lên rất mạnh.
"Vẻ đẹp căng tràn sức sống của Marilyn Monroe và Jane Russell, rồi thì gương mặt mới của Dior năm 1957, thực sự đã đề cao những đường cong tròn trịa, và thế là phụ nữ bắt đầu nghĩ đến việc bơm ngực", tác gia Teresa Riordan viết.
"Đồ giả - thực ra là ngực có độn vải - vốn đã phổ biến từ trước đó rồi, nhưng đến lúc đó thì người ta muốn bơm kia".
Nhiều năm trước đó, người ta đã dùng đủ cách để cố làm cho ngực to lên. Những năm 1950, các bác sĩ dùng bọt xốp để cấy vào trong ngực phụ nữ. Một số người cho rằng cả cô đào Marilyn Monroe cũng từng dùng chiêu này, nhưng chuyện không rõ ràng và gây tranh cãi xôn xao. Người chuyên viết về Monroe và cả người chuyên may quần áo đồng thời là người tình của cô cũng được phỏng vấn về chủ đề này, nhưng họ đều khẳng định mỹ nhân đó chẳng có lý do gì phải độn ngực hay phẫu thuật làm cho to ra cả.
"Nhà làm phim Billy Wilder từng mô tả đôi gò bồng đảo của Monroe là 'tuyệt diệu cả về hình dáng, độ săn chắc và dường như không trọng lượng", sử gia trên nói.
Kỹ thuật dùng bọt xốp thành công, nhưng không lâu dài bởi các miếng bọt nhanh chóng bị co, và dần trở nên rắn như cục đá. Trong khi đó silicon lại đang trở thành vật liệu của thời đại. "Ở Mỹ sau chiến tranh có một niềm đam mê với những gì bằng nhựa và nhân tạo", Biggs kể.
Thế nhưng Mỹ lại không phải là nơi đầu tiên dùng silicon để cấy ngực. Nơi đầu tiên đó là ở Nhật, khi các cô gái bán dâm viện đến silicon để làm vòng một của mình to ra. Với mong muốn câu khách là những chàng lính Mỹ - những chàng vốn được cho là thích vòng một nở nang - các cô đã mua silicon ăn trộm và bơm thẳng vào ngực mình.
Cách này gây phản ứng phụ nghiêm trọng bởi silicon làm xuất hiện hoại tử quanh vết tiêm. Tại Mỹ, những người bơm silicon không bị hiện tượng này, nhưng cách làm cũng chưa chuẩn. Một số người gặp các vấn đề như tụ máu, nhiễm trùng hoặc bị nổi sẹo, và vì thế việc cấy ngực tương đối khó khăn.
Những năm 1990, Cơ quan kiểm soát dược phẩm Mỹ cấm dùng silicon cấy vào ngực sau khi có các điều tra cho kết quả rằng việc này làm gây một số bệnh do phản ứng miễn dịch. Việc cấy nước muối - dung dịch muối đựng trong túi bằng silicon - vẫn tiếp tục. Ngành công nghiệp này đem lại rất nhiều tiền. Các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu về tác động của cấy silicon và lại kết luận nó vô hại. Silicon trở lại với các quý bà quý cô.
Năm 2010, các túi cấy ngực bằng silicon do hãng PIP của Pháp sản xuất bị cấm ở một số nước Giới chức Pháp cho hay chúng có tỷ lệ nứt vỡ cao. Vụ bê bối lên đến đỉnh điểm vào tháng 12 vừa rồi, khi Pháp khuyến cáo phụ nữ nên tháo bỏ các túi của PIP. Tổng số ca nâng ngực trong năm 2011 lao dốc, theo thống kê mới công bố.
Hiện nay công nghệ đã hỗ trợ rất nhiều cho việc nâng ngực, như công nghệ chẩn đoán hình ảnh 3 chiều. Các túi silicon cũng ngày một bền hơn, và kích cỡ ngực có thể cũng đa dạng hơn.
"Trước đây chúng ta chỉ có bốn lựa chọn - to, vừa, nhỏ và nhỏ xíu. Giờ đây chúng ta có tới 450 lựa chọn", Biggs ca ngợi.
Ngày nay nâng ngực trở thành loại phẫu thuật thẩm mỹ phổ biến thứ nhì thế giới, chỉ sau số ca hút mỡ. Tại nhiều nước, nâng ngực thậm chí chiếm vị trí đầu bảng. Không chỉ những phụ nữ khỏe mạnh muốn làm đẹp chi tiền nâng ngực, số bệnh nhân ung thư vú tìm đến biện pháp này ngày càng nhiều. Giúp bệnh nhân ung thư vú lấy lại tự tin và vẻ đẹp là mục tiêu mà Gerow và Cronin nghĩ đến lúc ban đầu, và đấy cũng chính là động lực khi họ thực hiện phẫu thuật.
Trong suốt nhiều năm, bà Lindsey kín miệng về ca nâng ngực, thậm chí có một người bạn trai của bà mù tịt về chuyện này. Hàng chục năm sau, Lindsey mới tiết lộ với gia đình và bạn bè.
Suốt 50 năm qua, bà vẫn vui sướng với kết quả của ca phẫu thuật, mặc dù bà cũng không cưỡng lại được ảnh hưởng của thời gian.
"Người ta có thể nghĩ rằng ngực của họ sau khi bơm thì cứ vươn cao thế mãi, nhưng không phải, nó cũng như những vòng một bình thường, tức là cũng xệ đi theo thời gian. Điều đó khiến tôi ngạc nhiên lắm. Lúc đầu tôi cứ tưởng bở rằng nó được như thế mãi".
Nhưng Lindsey vẫn hạnh phúc với một phần lịch sử mà bà đang giữ trong cơ thể. "Tôi được là người đầu tiên trên thế giới biết đến một thứ tuyệt vời đến thế", bà nói.
Thanh Mai (theo BBC)
Mùa xuân năm 1962, một bà mẹ 6 con ở Mỹ lên bàn mổ. Sau hai giờ, số đo vòng ngực của bà thăng hạng từ B lên C. Bà vui sướng đi vào lịch sử thế giới.
Đã 50 năm kể từ ca phẫu thuật nâng ngực đầu tiên sử dụng silicon được thực hiện. Ngày nay, đây là loại phẫu thuật thẩm mỹ phổ biến thứ nhì trên toàn cầu, với 1,5 triệu quý bà quý cô thực hiện mỗi năm.
"Tôi nghĩ kết quả thật là tuyệt vời... Đôi gò bồng đảo cho cảm giác mềm mại và giống như ngực thật", bà Timmie Jean Lindsey ở Texas nay hồi tưởng. Bà hiện 80 tuổi.
"Tôi không lường hết kết quả tuyệt diệu này, cho đến khi tôi ra ngoài đường, và thấy cánh đàn ông trầm trồ liếc xéo tôi".
Vẻ đẹp căng tràn sức sống của diễn viên Marilyn Monroe khiến cả thế giới trầm trồ ngưỡng mộ. Ảnh: bartcop.com
Cuộc phẫu thuật không chỉ nâng ngực, nó nâng cả lòng tự tin của Lindsey, và bà vui sướng vì vô tình trở thành trung tâm chú ý, bởi thực ra bà chưa từng có ý định phẫu thuật nâng ngực trước đó. Lindsey đến bệnh viện là để xóa các vết xăm trên ngực, và rồi các bác sĩ hỏi bà có muốn làm tình nguyện viên cho một cuộc thử nghiệm đầu tiên hay không.
"Tôi hơi lo lắng và dường như không nghe rõ... Tai tôi dựng đứng cả lên như tai voi vậy. Và thế rồi họ bảo "Được rồi chúng tôi sẽ mổ nhé". Thế là xong". Ca mổ được thực hiện bởi hai bác sĩ đầy tham vọng là Frank Gerow và Thomas Cronin.
Gerow là người đầu tiên đưa ra ý tưởng cấy một vật thể vào ngực. "Frank Gerow bóp một túi nhựa đựng máu và thấy rằng nó cho cảm giác giống như ngực phụ nữ", Teresa Riordan, tác giả cuốn "Khám phá cái đẹp: Lịch sử những phát minh giúp chúng ta đẹp", kể.
Các kiểu làm to ngực trong lịch sử thế giới:
Năm 1890: bơm trực tiếp parafin vào ngực, nhưng cách này bị cấm ngay sau đó bởi parafin thấm vào các phần khác trong cơ thể.
Năm 1920-30: lấy mỡ từ các phần cơ thể để đưa vào ngực.
Năm 1950: cấy vào ngực các chất liệu như polyurethane, sụn, bọt xốp, gỗ, thậm chí cả những quả bóng thủy tinh.
Ngoài ra người ta còn dùng những cách không xâm lấn như bơm chân không, dùng thiết bị hút, xoa các loại kem dưỡng hoặc dung dịch "thần kỳ", dùng áo độn ngực.
Và cuối cùng anh ấy mừng điên lên khi phát minh ra cách đưa silicon vào ngực phụ nữ. Vật thử nghiệm đầu tiên là một con chó có cái tên mỹ miều Esmeralda. Nguyên tắc của việc thử nghiệm rất đơn giản. "Tên lửa bay lên được là nhờ lực nâng và lực đẩy - giống hệt như trong việc nâng ngực", Thomas Biggs, người cộng tác với hai nhà phẫu thuật nói trên, kể.
"Tôi chịu trách nhiệm về con chó. Túi cấy được đưa vào bên dưới da và để ở đó vài tuần, cho đến khi cô nàng cắn cắn vào các vết khâu, và chúng tôi phải bỏ cái túi ra".
Cuộc phẫu thuật được đánh giá là thành công, và Gerow tuyên bố các túi cấy cũng vô hại như là nước mà thôi. Sau đó, nhóm bác sĩ chuyển sang bước thứ hai, tìm kiếm phụ nữ tình nguyện cho cấy.
Bà Lindsey không còn nhớ rõ về hôm phẫu thuật. "Tôi nhớ là sau khi từ chỗ bác sĩ về nhà, tôi thấy ngực mình rất nặng - như có cái gì nặng ngồi trong ngực tôi ấy".
"Độ ba hay bốn ngày sau thì cảm giác đau biến mất".
Các bác sĩ rất hỉ hả với thành công này. Nhưng lúc đó họ vẫn chưa tưởng tượng được hết mình đang có gì trong tay.
"Tất nhiên là phấn khởi", Biggs nhớ lại. "Nhưng nếu lúc ấy tôi có cái gương soi vào tương lai, chắc tôi phát điên mất. Tôi đã không đủ khôn ngoan để nhận ra tầm vóc của cuộc phẫu thuật".
Tầm quan trọng của nó bắt đầu lan tỏa khi Cronin giới thiệu công trình của họ tại Hội phẫu thuật thẩm mỹ quốc tế ở Washington DC năm 1963. "Toàn thể giới phẫu thuật thẩm mỹ phát cuồng lên vì vui mừng", Biggs nói.
Quả là thiên thời, bởi từ những năm 1950, văn hóa Mỹ đã bị ảnh hưởng và mê đắm bởi những khuôn ngực to và đẹp. Cũng thời đó, Playboy và Barbie ra đời, và sức ảnh hưởng của các ngôi sao điện ảnh lên rất mạnh.
"Vẻ đẹp căng tràn sức sống của Marilyn Monroe và Jane Russell, rồi thì gương mặt mới của Dior năm 1957, thực sự đã đề cao những đường cong tròn trịa, và thế là phụ nữ bắt đầu nghĩ đến việc bơm ngực", tác gia Teresa Riordan viết.
"Đồ giả - thực ra là ngực có độn vải - vốn đã phổ biến từ trước đó rồi, nhưng đến lúc đó thì người ta muốn bơm kia".
Nhiều năm trước đó, người ta đã dùng đủ cách để cố làm cho ngực to lên. Những năm 1950, các bác sĩ dùng bọt xốp để cấy vào trong ngực phụ nữ. Một số người cho rằng cả cô đào Marilyn Monroe cũng từng dùng chiêu này, nhưng chuyện không rõ ràng và gây tranh cãi xôn xao. Người chuyên viết về Monroe và cả người chuyên may quần áo đồng thời là người tình của cô cũng được phỏng vấn về chủ đề này, nhưng họ đều khẳng định mỹ nhân đó chẳng có lý do gì phải độn ngực hay phẫu thuật làm cho to ra cả.
"Nhà làm phim Billy Wilder từng mô tả đôi gò bồng đảo của Monroe là 'tuyệt diệu cả về hình dáng, độ săn chắc và dường như không trọng lượng", sử gia trên nói.
Kỹ thuật dùng bọt xốp thành công, nhưng không lâu dài bởi các miếng bọt nhanh chóng bị co, và dần trở nên rắn như cục đá. Trong khi đó silicon lại đang trở thành vật liệu của thời đại. "Ở Mỹ sau chiến tranh có một niềm đam mê với những gì bằng nhựa và nhân tạo", Biggs kể.
Thế nhưng Mỹ lại không phải là nơi đầu tiên dùng silicon để cấy ngực. Nơi đầu tiên đó là ở Nhật, khi các cô gái bán dâm viện đến silicon để làm vòng một của mình to ra. Với mong muốn câu khách là những chàng lính Mỹ - những chàng vốn được cho là thích vòng một nở nang - các cô đã mua silicon ăn trộm và bơm thẳng vào ngực mình.
Cách này gây phản ứng phụ nghiêm trọng bởi silicon làm xuất hiện hoại tử quanh vết tiêm. Tại Mỹ, những người bơm silicon không bị hiện tượng này, nhưng cách làm cũng chưa chuẩn. Một số người gặp các vấn đề như tụ máu, nhiễm trùng hoặc bị nổi sẹo, và vì thế việc cấy ngực tương đối khó khăn.
Những năm 1990, Cơ quan kiểm soát dược phẩm Mỹ cấm dùng silicon cấy vào ngực sau khi có các điều tra cho kết quả rằng việc này làm gây một số bệnh do phản ứng miễn dịch. Việc cấy nước muối - dung dịch muối đựng trong túi bằng silicon - vẫn tiếp tục. Ngành công nghiệp này đem lại rất nhiều tiền. Các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu về tác động của cấy silicon và lại kết luận nó vô hại. Silicon trở lại với các quý bà quý cô.
Năm 2010, các túi cấy ngực bằng silicon do hãng PIP của Pháp sản xuất bị cấm ở một số nước Giới chức Pháp cho hay chúng có tỷ lệ nứt vỡ cao. Vụ bê bối lên đến đỉnh điểm vào tháng 12 vừa rồi, khi Pháp khuyến cáo phụ nữ nên tháo bỏ các túi của PIP. Tổng số ca nâng ngực trong năm 2011 lao dốc, theo thống kê mới công bố.
Hiện nay công nghệ đã hỗ trợ rất nhiều cho việc nâng ngực, như công nghệ chẩn đoán hình ảnh 3 chiều. Các túi silicon cũng ngày một bền hơn, và kích cỡ ngực có thể cũng đa dạng hơn.
"Trước đây chúng ta chỉ có bốn lựa chọn - to, vừa, nhỏ và nhỏ xíu. Giờ đây chúng ta có tới 450 lựa chọn", Biggs ca ngợi.
Ngày nay nâng ngực trở thành loại phẫu thuật thẩm mỹ phổ biến thứ nhì thế giới, chỉ sau số ca hút mỡ. Tại nhiều nước, nâng ngực thậm chí chiếm vị trí đầu bảng. Không chỉ những phụ nữ khỏe mạnh muốn làm đẹp chi tiền nâng ngực, số bệnh nhân ung thư vú tìm đến biện pháp này ngày càng nhiều. Giúp bệnh nhân ung thư vú lấy lại tự tin và vẻ đẹp là mục tiêu mà Gerow và Cronin nghĩ đến lúc ban đầu, và đấy cũng chính là động lực khi họ thực hiện phẫu thuật.
Trong suốt nhiều năm, bà Lindsey kín miệng về ca nâng ngực, thậm chí có một người bạn trai của bà mù tịt về chuyện này. Hàng chục năm sau, Lindsey mới tiết lộ với gia đình và bạn bè.
Suốt 50 năm qua, bà vẫn vui sướng với kết quả của ca phẫu thuật, mặc dù bà cũng không cưỡng lại được ảnh hưởng của thời gian.
"Người ta có thể nghĩ rằng ngực của họ sau khi bơm thì cứ vươn cao thế mãi, nhưng không phải, nó cũng như những vòng một bình thường, tức là cũng xệ đi theo thời gian. Điều đó khiến tôi ngạc nhiên lắm. Lúc đầu tôi cứ tưởng bở rằng nó được như thế mãi".
Nhưng Lindsey vẫn hạnh phúc với một phần lịch sử mà bà đang giữ trong cơ thể. "Tôi được là người đầu tiên trên thế giới biết đến một thứ tuyệt vời đến thế", bà nói.
Thanh Mai (theo BBC)
Wednesday, March 28, 2012
Tuesday, March 27, 2012
NHẶT HOA TRÊN NET
Tất cả đều là VÔ THƯỜNG
1-Thời gian : Vô Thường
Tháng ngày
hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. Chẳng dám nói hiểu hết
mọi lẽ nhân sinh nhưng chỉ có hiểu đời thì mới Qua một ngày vui một
ngày.sống thanh thản, sống thoải mái.
Qua một ngày mất một ngày.
Vui một ngày lãi một ngày.
2-Hạnh phúc : Vô Thường
Hạnh phúc
do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui
ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự
tìm lấy. Hạnh phúc là cảm giác, cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm
trạng.
3-Tiền : Vô Thường
Tiền không
phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng quá coi trọng đồng
tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại
thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi. Nếu có người
cần giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền
mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua ? Nếu dùng
tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ ! Người khôn biết
kiếm tiền, biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền, đừng làm tôi tớ cho nó.
(Khó lắm !?!?)
4- Đời sống : Vô Thường
“Quãng đời
còn lại càng ngắn thì càng phải làm cho nó phong phú”. Người già phải
thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư khổ hạnh”, hãy làm
“con chim bay lượn”. Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc, cần chơi thì chơi,
luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công
nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.
5-Thê´Gian : Vô Thường
-Tiền bạc
là của con ( không chắc lám) - Tài sản có thể bị mất vì các nguyên nhân:
1-Thiên tai, 2- Hỏa hoạn, 3- Pháp lênh của vua hay chính quyền tich
thu, quốc hửu hóa, 4- Trộm cướp, 5- Con cái.
- Địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, sức khỏe là của mình.
-Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn.
-Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một chút, hỏi vài câu là thấy đủ rồi.
-Con tiêu tiền cha mẹ, thoải mái ; Cha mẹ tiêu tiền con, chẳng dễ.
-Nhà cha mẹ là nhà con ; Nhà con không phải là nhà cha mẹ.
Khác nhau là thế, người hiểu đời coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong báo đáp.
-Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.
--Ốm đau trông cậy ai ? Trông cậy con ư ? Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu (cửu bệnh sàng tiền vô hiếu tử). Trông vào bạn đời ư ? Người ta lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi.
Trông cậy vào đồng tiền ư ? - Chỉ còn cách ấy.
-Cái được, người ta chẳng hay để ý; cái không được thì nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm.
Chân lý của Đạo, thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất
quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát
hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.
Cần có tấm
lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng
bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình (tỷ thượng bất túc tỷ hạ hữu
dư), biết đủ thì lúc nào cũng vui (tri túc thường lạc).
Tập cho mình nhiều đam mê, vui với chúng không biết mệt, tự tìm niềm vui.
Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui.
Subscribe to:
Posts (Atom)












