THAY LỜI CHÀO MỪNG!

THAY LỜI CHÀO MỪNG!

LỜI CHÀO MỪNG

CẢM ƠN QUÝ THÂN HỮU ĐÃ MỞ CỬA VÀO NGÔI NHÀ ĐƠN SƠ "QUA DẤU BỤI THỜI GIAN" CỦA
TRẦN KIÊU BẠC.




Tuesday, March 19, 2013

.Hoàng Nhuận Cầm khen bừa, khen ẩu thơ Trần Gia Thái


(www.vnweblogs.com)


Lts:

Hoàng Nhuận Cầm nổi tiếng trong dòng thơ mậu dịch quốc doanh với thương hiệu “nhà hót học” của một thời thơ ca véo von.

Mùa thu này ta hát khắp Trường Sơn/ Mùa thu này ta hát khắp Trường Sơn/ Mùa thu này ta hót khắp Trường Sơn. Trên đỉnh Trường Sơn ta hót/ Trên đỉnh Trrường Sơn ta hát…với cái giọng vịt đực sặc mùi thuốc lào. Hoàng Nhuận Cầm vì mấy cắc bạc khen bừa khen ẩu như mấy ông giáo không hiểu thơ ca.



Nhà thơ Trần Mạnh Hảo



CÙNG HOÀNG NHUẬN CẦM CHỌC CƯỜI THƠ TRẦN GIA THÁI

Trần Mạnh Hảo

.

Trên báo Văn Nghệ số 8 (2767) thứ bảy ngày 23-02-2013, có in bài “ Những cơn mưa thơ” của nhà thơ kiêm diễn viên điện ảnh Hoàng Nhuận Cầm khen ngợi tới tận mây xanh tập thơ “ Mưa không mùa” ( NXB Hội Nhà Văn 2012) của Trần Gia Thái . Theo website Hội Nhà báo Việt Nam giới thiệu ông nhà thơ này với các chức vụ khá to :

Đồng chí Trần Gia Thái

Phó Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam

Chủ tịch Hội Nhà báo thành phố Hà Nội

Tổng Giám đốc, Tổng biên tập Đài PT-TH Hà Nội

http://vja.org.vn/vi/vjacontact.php?id=101&dhname=BAN-THUONG-VU-HOI-NHA-BAO-VIET-NAM

Trong cuộc đời mình, Trần Gia Thái nổi tiếng nhất là vụ ông dùng Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội để chiếu một bộ phim phóng sự dài nhằm bôi nhọ, vu cáo, bịa đặt bao chuyện xấu xa cho những những người dân yêu nước biểu tình chống bọn xâm lược Trung Quốc. Ông này bị những người biểu tình kiện ra tòa; nhưng ông ta được nhà nước thân Trung Quốc bảo vệ. Những kẻ sai Trần Gia Thái làm một bộ phim phải nói là đê tiện kia quyết không để người nào dám đụng đến lông chân một kẻ có công bịa chuyện vu cáo những người yêu nước chân chính, cốt để buộc tội họ, nhằm tống họ vào tù.

Trong giới viết lách đồn nhau : ai muốn lên đài truyền hình Hà Nội cứ đem thơ Trần Gia Thái ra khen vống lên dù thơ dở tệ. Từ ông Hữu Thỉnh đến anh cóc ké trong làng văn nghệ đều thi nhau ca ngợi những tập thơ dở của Trần Gia Thái. Nhà thơ kiêm kép điện ảnh Hoàng Nhuận Cầm hôm nay bỗng đè ngửa tập thơ “ Mưa không mùa” của Trần Gia Thái ra khen không biết ngượng.

Trước hết, Hoàng Nhuận Cầm dùng kiểu nói gian ( nói dối – gian dối chủ nghĩa) để bốc thơm tập thơ không được …thơm cho lắm là tập thơ trước đây của ông Gia Thái : “Sau dư âm khá tốt đẹp của đồng nghiệp và bạn bè dành cho “Lời Nguyện Cầu Trước Lửa””. Xin qúy vị vào công cụ tìm kiếm đánh mấy chữ : “phê bình thơ Trần Gia Thái”, hoặc : “lên án Trần Gia Thái tổng giám đốc phát thanh và truyền hình Hà Nội” sẽ nhận được hàng trăm bài chê thơ ông này cực dở, chê nhân cách ông này xấu xa, một người không đàng hoàng tử tế…Hoàng Nhuận Cầm khen nịnh kiểu gian dối bất cần sự thật như vậy có xứng đáng là người cầm bút chân chính hay không ?

Xin dẫn nguyên đoạn Hoàng Nhuận Cầm bốc thơm một thứ thơ khó ngửi của Trần Gia Thái :

“Sau dư âm khá tốt đẹp của đồng nghiệp và bạn bè dành cho “Lời Nguyện Cầu Trước Lửa” – “Mưa Không Mùa” là tập thơ thứ hai của thi sĩ Trần Gia Thái. Cảm nhận đầu tiên của tôi là đã có một sự “đối trọng” giữa hai tập thơ này – một sự đối trọng hết sức tương thích để tạo nên một “xung lực mới” cho thơ của anh. Đó là sự đối trọng giữa lửa và nước, giữa chất thế sự và chất trữ tình, giữa giọng đắng chát và giọng ngọt ngào. Trần Gia Thái vẫn duy trì và vẫn giữ được sự “Ngơ ngác toàn thân”” khi đứng trước trang giấy trắng.

“Có nhiều lúc./Không biết đang làm gì./ Không muốn làm việc gì./ Định đi tìm cái gì./ Không tài nào nghĩ nổi./ Đành gọi là quên (Khoảng vắng)”

Cái mà nhà thơ tìm không thấy hoặc chưa thấy – nên “đành gọi là quên” – nhưng nếu hỏi nhà thơ quên gì thì như nhà thơ đã thú nhận cũng không nhớ nổi? Và cái điều trắc ẩn đó, chúng ta gọi là Thơ. Nó kỳ lạ và bí ẩn như tình yêu, tìm không thấy, gọi không đến – nhưng khi đã đến thì đuổi cũng không đi. ( hết trích)

http://vanvn.net/news/36/3194-nhung-con-mua-tho.html

Trời ơi, cái “ ngữ” này của Trần Gia Thái mà Hoàng Nhuận Cầm dám gọi là thơ ư ? Lại là thơ hay kinh dị phải đưa cả mùi thiền giọng triết vào bình như trên mới ác liệt chứ :

“Có nhiều lúc

Không biết đang làm gì.

Không muốn làm việc gì

Định đi tìm cái gì

Không tài nào nghĩ nổi

Đành gọi là quên”

( thơ Trần Gia Thái)

Trần Gia Thái viết những câu rất “thần kinh” thế này thì thơ con cóc phải gọi bằng cu nặng ( cụ ).

Nhà thơ trẻ Thanh Tre ( vốn nối dõi “thi pháp gãi háng Thanh Thảo”) nhân cái gọi là thơ chết cười trên của Trần Gia Thái, bèn nhại trường “thơ ngơ ngác toàn thân” này, gửi đến Trần Mạnh Hảo sáu câu ( vọng cổ ?) còn ấm ớ hơn thơ Trần Gia Thái trên, tất nhiên là mô phỏng thơ ông Thái, rồi nhờ kẻ viết bài này bình chơi :

“Có dịp thức mà ngủ

Không hiểu mình thế nào

Không biết đi đường nào

Định tìm một con nào

Có trời biết tên nó

Đành gọi là chiêm bao”

( thơ của thi sĩ Thanh Tre)

Trần Mạnh Hảo xin mượn phép “ phê bình toàn thân ngơ ngác” của Hoàng Nhuận Cầm khi bình thơ ú ớ Trần Gia Thái trên mà bình thứ thơ vô dục mới tinh của thi sĩ Thanh Tre :

“Nếu Hoàng Nhuận Cầm nói thơ của Trần Gia Thái “ ngơ ngác toàn thân” thì thơ của thi sĩ Thanh Tre vừa dẫn còn vượt lên cả sự ngơ ngác là u minh toàn phần, ấm ớ toàn diện, hâm hâm cả hồn lẫn xác, một trạng thái lên đồng, vong thân triệt để, tha hóa khôn cùng, xứng đáng với bút pháp tân kỳ có thể gọi bằng tên mới “ hết hồn ngáp ngáp”. Gã nhà thơ nơi Trần Gia Thái còn mang ý thức như mang một con đom đóm trong người, còn biết mình đang nghĩ “Không tài nào nghĩ nổi”…

Nhưng với thi sĩ mở đường cho các thi pháp tân kỳ Việt Nam Thanh Tre, bỏ xa thi pháp Tân Con cóc của trường thơ Nguyễn Quang Thiều, bỏ qua thi pháp gãi háng của Thanh Tháo, bỏ qua thi pháp ngơ ngác toàn thân của Trần Gia Thái, Thanh Tre chơi một lối thơ hoàn toàn thoát xác, tháo bỏ y phục ý thức hay tư duy ném vào sọt rác.

Con người trong sáu câu trên của Thanh Tre đi ngật ngưỡng trên đời hoàn toàn không biết mình thức hay ngủ, không biết mình là ai, mình đang đi đâu cũng cóc có biết, muốn tìm một con nào để thử tồn tại chút chút mà cóc nhớ tên nó…Nghĩa là con người ấy phi hiện thực, phi thời gian, phi không gian, một thế giới lấy chiêm bao làm vũ trụ, làm mái nhà, sống mà như con ma, sống mà như cái bóng. Cõi ấy mới đích thực thơ, thơ chí tôn chí thánh, thơ ma ma Phật Phật. Mây bay trên bầu trời so với không gian thơ Thanh Tre vô cùng tận kia chỉ đáng gọi là sâu kiến. Đành phải gọi bọn mây trắng kia đến mà mắng chúng rằng: chúng mày đang bay trên trời hay đang bay trong một cái hũ con con ?

Đọc sáu câu tuyệt tác trên của thi sĩ Thanh Tre, ta thấy xuất hiện một thi pháp mới trên thi đàn Việt Nam : ‘thi pháp thần kinh”. Hàn Mặc Tử xưa với tập “ Thơ điên” mới chỉ là điên tập sự, giả điên, làm dáng điên – tức là điên một cách có ý thức; nói như ngôn ngữ chính trị thời nay, Hàn Mặc Tử sáng tạo theo một định hướng điên. Còn Thanh Tre, thi sĩ của thời đại tham nhũng, thời đại những con bú dù chính trị, thời đại sự giả dối, đểu cáng trở thành quốc sách, quốc hồn, quốc tính, quốc doanh, quốc nạn, quốc huy, quốc ca, quốc sắc, quốc túy, quốc khùng, quốc phòng, quốc phạm…thì đã không thèm điên lẻ tẻ mà điên nặng điện, điên mà ngôn ngữ thi ca bừng sáng ánh điện tràn đầy trang giấy với ba tiếng khàn khàn mèo gào : nào ? nào ? nào ? ( hết bình thơ Thanh Tre)

Trong bài đã dẫn, Hoàng Nhuận Cầm tiếp tục bốc thơm thơ Trần Gia Thái một cách vô lối, vô phương, thơ đã sến mà lời bình còn sến hết mức :

“Ôi câu thơ rút ruột./ Rỏ máu người làm thơ. / Viết ra thì tự đọc. / Ai tri âm bây giờ. / Viết ra thì tự đọc. / Người cần nghe không nghe. / Mặc nháo nhào tranh giật. / Thơ cứ rơi não nề. (Đã mang lấy nghiệp).”

Những câu thơ rút ruột, những câu thơ rỏ máu, những câu thơ không người nghe, những câu thơ tự đọc cho mình cứ âm thầm rơi xuống bốn mươi hai bài thơ để làm nên tập “Mưa Không Mùa”. Đây là những giọt mưa không rơi theo quy luật tự nhiên – những giọt mưa rơi xuống theo quy luật của tình cảm – để tạo nên những Cơn Mưa Thơ trả nợ cho đời – những cơn mưa khô mà thấm đẫm tình người. ( hết trích Hoàng Nhuận Cầm – HNC)

Những câu nói dễ dãi, tầm thường sáo rỗng trên mà Trần Gia Thái gọi nhầm là thơ đã được Hoàng Nhuận Cầm bình như bình những câu tuyệt tác. Thơ và người bình thơ dường như cùng dắt tay nhau đi vào con đường thảm hại bức tử thi ca, con đường trao đổi làm ăn : ông bốc thơm thơ thối của tôi, tôi sẽ dành cho ông mấy cái kịch bản dựng phim hoặc mấy vai diễn xuất …

Thơ Trần Gia Thái và người bình thơ kiểu Hoàng Nhuận Cầm như trên cứ đôi lứa xứng đôi, dắt nhau đi đưa đám thi ca, tham gia chôn cất nền thơ văn minh họa, một nền văn chương con hát, thi ca thằng hề mua vua cho đám cai đầu dài chính trị coi văn nghệ chỉ là những tên đầy tớ mua vui.,.

Sài Gòn ngày 16-3-2013

Trần Mạnh Hảo

GHI CHÚ CỦA TRẦN MẠNH HẢO :

Xin qúy bạn đọc hãy vào công cụ tìm kiếm http://google.com đọc tiếp ba bài phê bình thơ Trần Gia Thái sau :

“Đọc tập thơ của Trần Gia Thái, buồn về hội chứng “méo mó hình hài vẹo xiêu nhân cách” của nền văn học VN hôm nay”

http://www.danchimviet.info/archives/43088/d%E1%BB%8Dc-t%E1%BA%ADp-th%C6%A1-c%E1%BB%A7a-tr%E1%BA%A7n-gia-thai-bu%E1%BB%93n-v%E1%BB%81-h%E1%BB%99i-ch%E1%BB%A9ng-meo-mo-hinh-hai-v%E1%BA%B9o-xieu-nhan-cach-c%E1%BB%A7a-n%E1%BB%81n-van-h/2011/09

“THƠ TRẦN GIA THÁI CƯỜNG TRÁNG THẾ NÀO TRONG MẮT HỮU THỈNH?”

http://tranmygiong.blogtiengviet.net/2012/12/18/nhan_thai_traosn_maoinh_haopo_nasi_var_t

Khi nhà thơ Hữu Thỉnh hết lời ca ngợi những câu thơ tẻ nhạt của Trần Gia Thái

http://www.danchimviet.info/archives/42658/khi-nha-th%C6%A1-h%E1%BB%AFu-th%E1%BB%89nh-h%E1%BA%BFt-l%E1%BB%9Di-ca-ng%E1%BB%A3i-nh%E1%BB%AFng-cau-th%C6%A1-t%E1%BA%BB-nh%E1%BA%A1t-c%E1%BB%A7a-tr%E1%BA%A7n-gia-thai/2011/09

TMH

Tác giả gửi cho NTT blog



Tuesday, March 12, 2013


                     Nhìn Xuống

Photobucket

If you think you are unhappy, look at them.
Nếu có lúc bạn cảm thấy mình bất hạnh, hãy nhìn vào họ

Photobucket

If you think your salary is low, how about her?
Nếu bạn thấy đồng lương mình com cõi, thì em bé này có được bao nhiêu?

Photobucket

If you think you don‘t have many friends.
Nếu bạn nghĩ mình không có nhiều bạn

Photobucket

When you feel like giving up, think of this man.
Nếu bạn thấy mình bị bỏ rơi, hãy nghĩ về người này

Photobucket

If you think you suffer in life, do you suffer as much as he does?
Nếu có lúc bạn thấy gánh nặng cuộc đời ,thì có nặng giống như ai đây?


Photobucket

If you complain about your transport system, how about theirs?
Nếu bạn hay phàn nàn về đi lại, còn họ thì sao?

Photobucket

If your society is unfair to you,how about her?
Nếu bạn cho rằng xã hội bất công với mình, hãy nhìn cụ bà này


Enjoy life how it is and as it comes. Things are worse for others and a lot better for us .
 There are many things in your life that will catch your eye but only a few will catch your heart---- pursue those.

- Đời cho ta thế nào hưởng thế đó, có người bất hạnh người giàu có.
- Có quá nhiền vấn đề trong đời qua mắt bạn nhưng chỉ có số ít qua tim,
hãy cố hiểu điều đó.


Mỗi người một phận, chúng ta có nhiều hơn những gì cần có để vừa lòng
Hãy chấm dứt thói quen tiêu dùng thừa thãi và vô cảm trong xã hội “văn minh hiện đại”, đã quên và làm ngơ hai phần ba những người anh em của chúng ta!

Bonus:


Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket
Mul 98
Have a Nice day !


ĐỜI LÀ VÔ THƯỜNG !!!MỜI XEM LỜI HAY, HÌNH ẢNH THÚ VỊ

Đời là VÔ THƯỜNG – Hạnh phúc MONG MANH (Tranh minh họa)

Hoa nở, rồi lại tàn….Trăng tròn rồi lại khuyết….Sinh lão bệnh tử…


http://img689.imageshack.us/img689/6251/46510402.jpg
Nét đẹp thiếu nữ rồi cũng phai tàn theo thời gian….
http://img690.imageshack.us/img690/3215/35370241.jpg
Tiền bạc, cơ ngơi sự nghiệp, của cải, vật chất: có đó – mất đó….
http://img688.imageshack.us/img688/9562/34381153.jpg

Sinh đó, diệt đó….


http://img261.imageshack.us/img261/4076/64196095.jpg
Hòa bình rồi lại chiến tranh, không ai biết được ngày mai….
http://img690.imageshack.us/img690/4628/44504178.jpg
Hiroshima năm nào, chớp mắt đã thành cát bụi….
http://img261.imageshack.us/img261/1267/34272658.jpg

Đừng tự hào với bất cứ cái đẹp giả tạo nào mà mình đang có trên thân thể này, vì chỉ cần 1 sự cố xảy ra, nó sẽ hư – xấu và bị hủy hoại hoàn toàn…

Nó là giả! Đôi chân ấy có thể mất đi, đôi mắt ấy có thể mù lòa, trí não ấy sẽ không còn minh mẫn….


http://img261.imageshack.us/img261/7534/14643528.jpg
Ngay cả sự vật cũng không thể trường tồn với thời gian, huống chi thiên nhiên, con người, và lòng người….
http://img688.imageshack.us/img688/3950/80599460.jpg
2 chữ “Ái Tình”…
http://img689.imageshack.us/img689/928/35558483.jpg
Đời người: Sinh – Lão – Bệnh – Tử, có gì vui ???
http://img52.imageshack.us/img52/2917/36791451.jpg

Trong thế giới tạm bợ, ngập tràn khổ đau này, loay hoay mãi, cuối cùng chỉ có thể tìm được cái gọi là “thanh thản” và “bình yên” khi an trú dưới ánh sáng Phật Pháp….


http://img811.imageshack.us/img811/4944/11799269.jpg
Để tránh bất hạnh khổ đau, hãy gắng sống tốt và theo sát lời Phật dạy. “Không làm các điều ác – Thường làm các việc lành”. Dù rằng Nhân quả – Nghiệp báo đã làm chủ cuộc đời, nhưng tu thân – tích đức HOÀN TOÀN CÓ THỂ GIẢM NHẸ TỘI – NGHIỆP để có 1 cuộc sống tốt đẹp hơn, tinh thần nhẹ nhàng thanh thản hơn. Đừng tiếp tục sa lầy. Đừng tiếp tục trì hoãn. Đời người sống nay chết mai. Hãy mau mau trở về dưới chân Phật….
Trích dẫn: “Thân này là vô thường, là khổ, là vô ngã, thấy thân này là bất tịnh uế nhiễm, hôi thúi (đàm, nước tiểu, phân,máu,mủ,..), bệnh tật, khổ đau, thấy những người thân quyến thuộc là nhân quả, là những người vay nợ với nhau, không có chi là thường còn, vĩnh viễn, các pháp trong thế gian này không phải của mình nữa, là do duyên hợp, là đau khổ, là trói buộc, thương nhớ chỉ là một sự tạm bợ trong khi thân này còn sống, đến khi nó hoại diệt rồi thì sự thương nhớ kia cũng không còn, nó sẽ tan ra thành mây khói.”




MỘT GÓC TRÁI TIM CHO QUẢNG TRỊ







Trong nhiều năm lăn lóc tận Sài Gòn

Tôi vẽ vào tay bản đồ Quảng Trị

Bao lần trong đêm như là mộng mị

Mơ về quê nhà xa đã nhiều năm



Quảng Trị ơi!  Mới xa chỉ một lần

Mà giọt thời gian lăn không trở lại

Hay xa một lần để rồi xa mãi

Chỉ gặp quê mình qua giấc mơ thôi?



Nóng ở Sài Gòn chỉ là nóng mồ côi

Không như gió Lào từng chùm thổi ngược

Mưa lũ hàng năm không hề báo trước

Thay nắng đổ đầu khô nẻ thịt da



Dáng Mẹ còm lưng đứng dựa cột nhà

Khóc gió bão qua chỉ mình ở lại

Quên mình nghèo vướng chân đầy cỏ dại

Trái tim nồng nàn không thể đóng băng



Hẹn sẽ về như đã hứa trăm năm

Nếm lại cháo vạt giường và lòng thả

Ly rượu Kim Long muôn đời không lạ

Gặp bạn xưa “nhận không ra ri hè”!



Mơ một ngày hoa xưa gọi bướm về

Bên bờ sông đầy bao dung Thạch Hản

Đêm Cửa Tùng sương treo cành lãng mạn

Cầu treo Dakrong đưa tuổi tác sang mùa





Sông Sài Gòn đèn sáng chợt lưa thưa

Nghiêng nỗi buồn bên bồi sang bên lở

Quê mình ơi! Mẹ hiền ơi! Vẫn nhớ

Đêm một mình một Quảng Trị trong tim!



TRẦN KIÊU BẠC

(tháng 3/2013))
MOT TAI LIEU QUY GIA VO CUNG.

Đằng sau mỗi một tấm hình nhỏ mặt tiền là cả trăm hoặc vài chục tấm hình khác, tổng cộng có lẽ phải là cả ngàn tấm hình hoặc hơn nữa! Xem phải nhiều ngày, nhiều tuần lễ, nhiều tháng, nhiều năm mới hết. 
Một kho tàng lịch sử bằng hình ảnh quý báu.
HÌNH ẢNH XƯA HIẾM QUÝ
Nơi đây có chứa nhiều hình ảnh thật xưa, có giá trị lịch sử văn hóa Việt Nam tưởng không bao giờ được coi, mời vào:


Monday, March 11, 2013

HARMONICA

60 năm sau, TòngSơn vẫn vô địch harmonica !!!!!!Tong Son,
the harmonica king of Việt Nam

Hơn nửa Thế kỷ trước tôi đã nhiều lần xem ông thổi khẩu cầm, đến bây giờ ông thổi có phần còn hay hơn trước nhiều. 
Tong Son, who has been the harmonica  king of Vietnamm
The 81-year-old Tong Son, who has been the harmonica king of Viet Nam, plays the harmonicas while eating banana and drinking beer during his performance.

LICH SU


  LỊCH SỬ CHỮ QUỐC NGỮ





Người Việt ta từ ngàn năm xưa đã có chữ viết riêng. Chữ Việt cổ là loại chữ tượng thanh, ghép những chữ cái thành từ. Chữ Việt có  trước cả chữ Hán hàng ngàn năm và hoàn toàn khác chữ Hán. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt nam đã có những khám phá và còn tiếp tục truy tìm. Cùng với các nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học Pháp, Anh, Mỹ, Tiệp và nhất là Trung Hoa (Lục Lưu, Hứa Thân, Trịnh Tiểu) đều khẳng định người Việt đã có chữ viết riêng từ trước kỷ Công nguyên (BC).
Bộ chữ này lưu lại trong nền văn hóa tiền Việt – Mường. Trên các mặt Trống Đồng và nhiều di vật cổ xưa khác đã được khai quật ở Bắc bộ, Bắc Trung bộ và rải rác ở vùng cực bắc biên giới Việt Nam, đều có một dạng ký hiệu giống nhau, những hình con nòng nọc là những tự dạng, biểu tượng để ghi chép lại những âm thanh cấu thành từ ngữ. Đó chính là chữ Việt cổ, bộ chữ Việt cổ ấy dùng để ghi tiếng nói của người Việt từ ngàn xưa.


Trống đồng Đông Sơn tại Bảo tàng Guimet, Paris, Pháp

Tổ tiên chúng ta đã từng phải sống qua một quá trình đô hộ lâu dài của Trung Hoa, với âm mưu hủy diệt nền văn hóa Việt Nam chúng đã bắt dân ta dùng chữ Hán để bức tử, tuyệt diệt với chữ Việt cổ, với mục đích đồng hoá dân tộc. Chữ viết tiếng Việt (bộ chữ Khoa đẩu) thời bấy giờ là đối tượng bị Trung Hoa hủy diệt trước nhất, bởi nó phản ánh tư tưởng, linh hồn, văn hóa của dân tộc Việt. 
Hịch khởi nghĩa của Hai Bà Trưng kêu gọi toàn dân đứng lên chống Tàu được viết bằng chữ Khoa đẩu, chữ Việt cổ.

Trong sách Hậu Hán thư (後漢書), quyển 14 ghi: "Dân Giao Chỉ có linh vật là trống đồng, nghe đánh lên họ rất hăng lúc lâm trận.... " 
Sách này còn viết rằng: "Mã Viện sau khi dập tắt cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng, đã tịch thu các trống đồng của các thủ lĩnh địa phương, một phần đem tặng, phần nấu chảy để đúc ngựa và đúc cột đồng Mã Viện."

Sử xưa cũng ghi lại rằng: " Sau khi nước Nam Việt của Triệu Đà bị người Hán xâm chiếm, văn hóa của Việt tộc bị chính sách đồng hoá. Nhâm Diên và  Sĩ Nhiếp đã bắt đốt hết sách Việt tộc, nhà nào cất giữ, lưu truyền thì bị giết hại. Các trống đồng Việt tộc bị Mã Viện tịch thu (năm 43), tiếp theo sau là cuộc cướp phá, tiêu hủy sách vở Việt tộc của nhà Minh đầu thế kỷ 15…"

Với chính sách tận diệt văn hóa Việt như trên, chữ “Khoa Đẩu” của người Việt cổ và có thể cả chữ “tượng hình” sơ khai của thời Văn Lang, Âu Lạc, sau một ngàn năm bị đô hộ, đã bị xoá sạch, vì thế không thể phổ biến được cũng là điều dễ hiểu.



Hịch khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, viết bằng chữ Khoa Đẩu.


Chữ Việt cổ trên thân Trống Đồng Lũng Cú.




Tuy nhiên, với chí khí bất khuất của người Việt, luôn khát vọng độc lập tự do, ông cha ta từ chữ Hán tượng hình đã chế tác ra thứ chữ Nôm để sử dụng, nhằm mục đích giữ gìn nền văn hoá Việt Nam cận đại và bản sắc văn hóa thuần túy dân tộc Việt.



Nhìn chung Việt Nam vào thời điểm lịch sử cổ, trung đại, vẫn chưa chính thức có trường lớp nào dạy nói và viết tiếng Việt. Người Việt chúng ta ngày xưa đa số được học (nói) tiếng Việt ngay từ lúc lọt lòng mẹ, trong sinh hoạt gia đình và thông qua những giao tiếp hàng ngày ngoài xã hội là chính. Ở giai đoạn này chữ viết vì chưa truyền bá phổ thông trong dân chúng nên các câu Ca Dao, Tục Ngữ,Thơ ngắn, dài (1)  nhờ có vần, có điệu, nên mau thuộc và dễ nhớ; là loại văn chương ca dao truyền khẩu được phổ biến rộng rãi trong nhân gian và ngày càng phong phú, súc tích. 

Trong quá trình xã hội phát triển, dân tộc Việt Nam ta đã tiếp xúc giao lưu với nhiều dân tộc khác. Trong tiếp xúc trao đổi thông tin với nhau, vấn đề học hỏi và hiểu rõ ngôn ngữ của nhau trở nên nhu cầu cần thiết.
Vào thế kỷ XV. Sứ thần Trung Quốc đã phải nhờ đến các cơ quan phiên dịch ở Trung Quốc như Hội thông quán, Tứ Di quán, Tứ Dịch quán làm nhiệm vụ phiên dịch mỗi khi giao tiếp với Việt Nam. Các cuốn từ vựng đối chiếu tiếng Hán với một số thứ tiếng khác được lần lượt biên soạn, trong đó có cuốn An Nam Dịch Ngữ (*) là cuốn từ điển dùng để đối chiếu tiếng chữ Hán với chữ tiếng Việt. 
(*) An Nam Dịch Ngữ là bản từ vựng dùng cho cơ quan hành chánh (nhà Minh) đặc trách giao dịch với Việt Nam từng phải triều cống. 
Giai đoạn năm 939, thời Vua Ngô Quyền lập quốc, các triều đại Vua Việt Nam đã mượn chữ Hán (chữ Nho) để sử dụng trong hành chánh, học thuật. Tuy nhiên, người Việt vẫn nói tiếng Việt, không công nhận chữ Hán (chữ Nho) là quốc ngữ. Tổ tiên ta  luôn tìm cách sáng tạo ra quốc ngữ riêng và đã dựa trên chữ Hán để chế ra chữ Nôm. Chữ Nôm được ghi nhận chính thức xuất hiện vào thế kỷ 13, khi quan Hình Bộ Thượng Thư: Nguyễn Thuyên, triều Trần Nhân Tông (1279-1293), làm bài văn “Tế cá sấu” (2) bằng chữ Nôm. Vào thời nầy, chữ Nôm được xem là Quốc ngữ bên cạnh chữ Nho, nên tập thơ chữ Nôm của Chu Văn An (1292–1370) được ông gọi là Tiều ẩn quốc ngữ thi tập (Tập thơ quốc ngữ). Đoạn Trường Tân Thanh (Kim Vân Kiều) của thi hào Nguyễn Du, là một trong những tiêu biểu hàng đầu những thành tựu đáng kể của chữ Nôm đã đóng góp cho nền văn hoá Việt Nam cận đại. 
Tuy nhiên, chữ Nôm vì được cấu tạo trên căn bản chữ Nho, nên khi muốn học chữ Nôm thì phải biết chữ Nho (chữ Hán).Vì vậy chữ Nôm khó học, không phổ thông trong dân chúng, và ít được sử dụng rộng rãi.


 Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Kim Vân Kiều) của thi hào Nguyễn Du



(Sách cổ viết chữ Nôm)




Đến giai đoạn thế kỷ 16, năm 1533. Khi các nhà truyền giáo phương Tây đến Việt nam để truyền dạy ĐạoThiên Chúa, các giáo sĩ đã nghiên cứu, và soạn ra bộ chữ từ chữ La tinh để viết và cách phiên âm tiếng Việt, dùng cho việc giảng đạo bằng ngôn ngữ Việt . Từ bộ chữ này đã trở thành Chữ Quốc Ngữ. Đây cũng là giai đoạn khởi đầu quan trọng nhất, có tính chất quyết định đã giúp cho ngôn ngữ Việt, và nền Văn Hóa Việt Nam được phát  triển nhanh chóng.
Các giáo sĩ, tu sĩ Jesuit (Dòng Tên)   http://en.wikipedia.org/wiki/Jesuit Người Bồ Đào Nha như Francisco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, v.v. Sử dụng chữ cái La tinh để ghi chép, phiên âm Tiếng Việt. 
Năm 1618, linh mục Francisco De Pina cùng với linh mục Phêrô, đã dịch Kinh Lạy Cha và các Kinh căn bản khác sang tiếng Việt, có thể xem đây là khởi đầu cho việc soạn thảo chữ Quốc ngữ.  Các Linh mục tương đối hoàn tất hệ thống chuyển mẫu tự La-tinh thích hợp với cách giọng phát âm và thanh điệu tiếng Việt. Nhưng giai đoạn nầy chưa được đầy đủ.  



 Bản Kinh lạy Cha được viết tay năm 1632 nguyên bản như sau: 




Người có công hoàn thiện công trình này là Giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La , Ngữ pháp tiếng An Nam, và  “Bài giảng giáo lý Tám ngày” đầu tiên xuất bản vào năm 1651.  



Từ điển Việt-Bồ-La


Phép Giảng Giáo Lý Tám Ngày (trang đầu)


Hình bìa  “Sách Phép Giảng Giáo Lý Tám Ngày” 

 Link sách DOWN LOAD (Phép Giảng Giáo Lý Tám Ngày)  
(Tài liệu lưu trữ  88.3 MB dạng (pdf)
https://www.dropbox.com/s/3eg88d2zf720bf2/PHEP%20GIANG%208%20NGAY%20%28TVST%29%20%20-%20%20Cathechismvs%20%20%20Alexandre%20de%20Rhodes.pdf

Ðây là sách giáo lý được biên soạn để giúp cho các cha truyền dậy giáo lý tại Việt nam. Cuốn sách được in bằng hai thứ tiếng: La tinh và Việt Nam.
Trên mỗi trang sách chia làm hai, có một gạch đôi từ trên xuống dưới: Bên tay trái của người đọc sách là chữ La tinh, bên tay phải là chữ Việt.
Ðể người đọc dễ dàng đối chiếu song ngữ. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes - Ðắc Lộ, đặt ở đầu mỗi ý tưởng chính mẫu tự abc... cho hai phần La, Việt, rồi chính giữa trang sách cũng đặt mẫu tự abc... cho hai phần La Việt song song. Cuốn sách gồm có 319 trang.
Sách  không chia ra từng chương, mà lại chia theo từng ngày học (Tám ngày), được trình bày in ấn có tính cách như một giáo trình sư phạm.



Giáo sĩ Alexandre de Rhodes 

Giáo sĩ Alexandre De Rhodes (Sinh năm1591 tại Avignon, Pháp; mất năm 1660 tại Ispahan, Ba Tư). Ngài đã sang Việt Nam truyền đạo trong vòng sáu năm (1624 -1630). 
Ngài là người có công rất lớn trong việc hệ thống hoá chữ viết tiếng Việt. Nhờ đó mà chữ Quốc Ngữ được hình thành và trở thành hệ thống có quy tắc và khoa học, dễ viết, dễ phát âm, dễ học. 
Nhìn chung, sự hình thành Quốc ngữ không phải do công sức cá nhân của một giáo sĩ, mà là công sức tập thể của nhiều giáo sĩ thuộc nhiều nước khác nhau, nhiều thế hệ khác nhau, đã đến truyền đạo tại Việt Nam. Và trong đó còn có sự đóng góp trực tiếp nhưng âm thầm của rất nhiều giáo sĩ Việt Nam và đồng bào giáo dân lúc bấy giờ.

Chữ Quốc ngữ tuy ra đời từ thế kỉ 17 (1651) ở Việt Nam nhờ công lao tâm trí của các Tu sĩ  truyền giáo, nhưng bị giới hạn chỉ dùng để giúp các Cha giảng, truyền đạo. Vì lúc ấy triều đình phong kiến Việt Nam, đàng Trong lẫn đàng Ngoài với chính sách cấm đạo, và giết hại Giáo sĩ nên chữ Quốc ngữ đã không thể phát triển, truyền bá rộng rãi.
NGHE & Down load  (AUDIO BOOK THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM)





Quá trình hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ được hoàn chỉnh có thể chia làm 3 giai đoạn sau:



(Trích đoạn trong sách Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ - Nghiên cứu của linh mục Ðỗ Quang Chính, do nhà sách Ra Khơi xuất bản tại Sài gòn năm 1972).

Giai Ðoạn Sơ Khởi (1620-1626): 
Các nhà truyền giáo Âu Châu đã đến Hà Tiên và Thừa Thiên từ giữa thế kỷ 16. Nhưng mãi sang đến đầu thế kỷ 17 những hoạt động truyền giáo này mới được ghi lại khá đầy đủ. Khởi đầu, các nhà truyền giáo đã đến Hội An để giúp đỡ các giáo hữu người Nhật. Hội An (Hội Phố) thời ấy là một cảng buôn bán sầm uất, với những phố riêng cho người Nhật và người Hoa. 

Theo sách cũ, người Âu Châu đầu tiên thạo tiếng Việt là linh mục Francisco de Pina, người Bồ Ðào Nha (Portugal) (3) . Năm 1620, với sự công tác của người bản xứ, các tu sĩ Dòng Tên (Jésuite) tại Hội An đã soạn thảo một sách giáo lý bằng chữ Nôm. Từ năm 1621 trở đi, các nhà truyền giáo đã bắt đầu chuyển qua mẫu tự abc những địa danh, tên tộc, và từ-ngữ Việt trong những bản tường trình cho giáo hội về hoạt động của họ. 

Dựa vào những tài-liệu viết tay còn được lưu trữ, trong giai-đoạn sơ khai của chữ Quốc Ngữ, các chữ thường được viết liền và không có đánh dấu. Thí dụ: 

- Annam = An Nam 
- Unsai = Ông Sãi 
- Ungue = Ông Nghè 
- Bafu = Bà Phủ 
- doij = đói 
- scin mocaij = xin một cái 
- Sayc Chiu = Sách chữ 
- Tuijciam, Biet = Tôi chẳng biết 


Giai Ðoạn Hai (1631-1648)
Những tài-liệu viết tay trong giai-đoạn này, đặc biệt là của linh mục d’Amaral, cho thấy chiều hướng mới trong cách viết chữ Quốc Ngữ. Các chữ được viết cách ra và đã được bỏ dấu. Nhiều chữ được viết như ta hằng thấy ngày nay. Thí dụ như: 

· Nghệ An 
· Bố Chính 

Nhiều chữ nhìn tương tự nhưng có lối đánh vần và bỏ dấu hơi khác 

· Thính hoa: Thanh Hóa 
· oũ bà phủ: Ông bà Phủ 
· hụyen: huyện 
· sãy: sãi 

Ngoài những bản tường trình, giai đoạn này còn có ba tài-liệu quan-trọng khác. Một là biên-bản hội-nghị năm 1645 của 35 linh mục Dòng Tên tại Macao để xác nhận mô thức rửa tội bằng tiếng Việt Nam (4) . Hai là cuốn tự-điển Việt-Bồ-La của linh mục Gaspar d’Amaral (Diccionário anamita-português-latim). Ba là cuốn tự-điển Bồ-Việt (Diccionário português-anamita) của linh mục Antonio Barbosa (5) . 

Ðến năm 1972, biên bản cuộc hội nghị được lưu trữ tại Văn Khố Dòng Tên tại La Mã (6) . Còn hai cuốn tự-điển kia, lúc đầu được tàng trữ tại Văn Khố Dòng Tên tỉnh Nhật Bản tại Macao, đã mất tích sau các cuộc di chuyển của văn khố này từ Macao qua Manila (Phi Luật Tân), từ Manila qua Madrid (Tây Ban Nha). Sở dĩ chúng ta còn biết đến hai cuốn tự-điển này là vì chính Ðắc Lộ, trong lời tựa của cuốn tự-điển mà ông xuất-bản năm 1651, đã viết rõ là ông đã dùng hai cuốn tự-điển trên để soạn-thảo cuốn tự-điển của mình. 


Giai Ðoạn Ba (1649-1651):
Giai đoạn này được đánh dấu bằng sự thống nhất cách viết chữ Quốc Ngữ và việc ấn hành hai cuốn sách quốc ngữ đầu tiên của Ðắc Lộ (7) . Hai cuốn ấy là: 

· Dictionarivm annamiticvm, lvsitanvm, et latinvm, ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in lvcem editvm. Ab Alexandro de Rhodes è Societate Iesv, ejusdemque Sacrae Congregationis Missionario Apostolico, Roma, 1651, in-4° 
· Cathechismvs pro iis, qui volunt suscipere Baptismvm, in Octo dies diuisus. Phép giảng tám ngày cho kẻ muấn chiụ phép rứa tọi, ma /beào (8) đạo thánh đức Chúa blời. Ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in lucem editus. Ab Alexandro de Rhodes è Societate Iesv, ejusdemque Sacrae Congregationis Missionario Apostolico, Roma, 1651, in-4° . (Hết phần trích dẫn)



Toàn Quyền Đông Dương Martial Merlin (Bên phải hình)