.Hoàng Nhuận Cầm khen bừa, khen ẩu thơ Trần Gia Thái
(www.vnweblogs.com)
Lts:
Hoàng Nhuận Cầm nổi tiếng trong dòng thơ mậu dịch quốc doanh với thương hiệu “nhà hót học” của một thời thơ ca véo von.
Mùa thu này ta hát khắp Trường Sơn/ Mùa thu này ta hát khắp Trường Sơn/ Mùa thu này ta hót khắp Trường Sơn. Trên đỉnh Trường Sơn ta hót/ Trên đỉnh Trrường Sơn ta hát…với cái giọng vịt đực sặc mùi thuốc lào. Hoàng Nhuận Cầm vì mấy cắc bạc khen bừa khen ẩu như mấy ông giáo không hiểu thơ ca.
Nhà thơ Trần Mạnh Hảo
CÙNG HOÀNG NHUẬN CẦM CHỌC CƯỜI THƠ TRẦN GIA THÁI
Trần Mạnh Hảo
.
Trên báo Văn Nghệ số 8 (2767) thứ bảy ngày 23-02-2013, có in bài “ Những cơn mưa thơ” của nhà thơ kiêm diễn viên điện ảnh Hoàng Nhuận Cầm khen ngợi tới tận mây xanh tập thơ “ Mưa không mùa” ( NXB Hội Nhà Văn 2012) của Trần Gia Thái . Theo website Hội Nhà báo Việt Nam giới thiệu ông nhà thơ này với các chức vụ khá to :
Đồng chí Trần Gia Thái
Phó Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam
Chủ tịch Hội Nhà báo thành phố Hà Nội
Tổng Giám đốc, Tổng biên tập Đài PT-TH Hà Nội
http://vja.org.vn/vi/vjacontact.php?id=101&dhname=BAN-THUONG-VU-HOI-NHA-BAO-VIET-NAM
Trong cuộc đời mình, Trần Gia Thái nổi tiếng nhất là vụ ông dùng Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội để chiếu một bộ phim phóng sự dài nhằm bôi nhọ, vu cáo, bịa đặt bao chuyện xấu xa cho những những người dân yêu nước biểu tình chống bọn xâm lược Trung Quốc. Ông này bị những người biểu tình kiện ra tòa; nhưng ông ta được nhà nước thân Trung Quốc bảo vệ. Những kẻ sai Trần Gia Thái làm một bộ phim phải nói là đê tiện kia quyết không để người nào dám đụng đến lông chân một kẻ có công bịa chuyện vu cáo những người yêu nước chân chính, cốt để buộc tội họ, nhằm tống họ vào tù.
Trong giới viết lách đồn nhau : ai muốn lên đài truyền hình Hà Nội cứ đem thơ Trần Gia Thái ra khen vống lên dù thơ dở tệ. Từ ông Hữu Thỉnh đến anh cóc ké trong làng văn nghệ đều thi nhau ca ngợi những tập thơ dở của Trần Gia Thái. Nhà thơ kiêm kép điện ảnh Hoàng Nhuận Cầm hôm nay bỗng đè ngửa tập thơ “ Mưa không mùa” của Trần Gia Thái ra khen không biết ngượng.
Trước hết, Hoàng Nhuận Cầm dùng kiểu nói gian ( nói dối – gian dối chủ nghĩa) để bốc thơm tập thơ không được …thơm cho lắm là tập thơ trước đây của ông Gia Thái : “Sau dư âm khá tốt đẹp của đồng nghiệp và bạn bè dành cho “Lời Nguyện Cầu Trước Lửa””. Xin qúy vị vào công cụ tìm kiếm đánh mấy chữ : “phê bình thơ Trần Gia Thái”, hoặc : “lên án Trần Gia Thái tổng giám đốc phát thanh và truyền hình Hà Nội” sẽ nhận được hàng trăm bài chê thơ ông này cực dở, chê nhân cách ông này xấu xa, một người không đàng hoàng tử tế…Hoàng Nhuận Cầm khen nịnh kiểu gian dối bất cần sự thật như vậy có xứng đáng là người cầm bút chân chính hay không ?
Xin dẫn nguyên đoạn Hoàng Nhuận Cầm bốc thơm một thứ thơ khó ngửi của Trần Gia Thái :
“Sau dư âm khá tốt đẹp của đồng nghiệp và bạn bè dành cho “Lời Nguyện Cầu Trước Lửa” – “Mưa Không Mùa” là tập thơ thứ hai của thi sĩ Trần Gia Thái. Cảm nhận đầu tiên của tôi là đã có một sự “đối trọng” giữa hai tập thơ này – một sự đối trọng hết sức tương thích để tạo nên một “xung lực mới” cho thơ của anh. Đó là sự đối trọng giữa lửa và nước, giữa chất thế sự và chất trữ tình, giữa giọng đắng chát và giọng ngọt ngào. Trần Gia Thái vẫn duy trì và vẫn giữ được sự “Ngơ ngác toàn thân”” khi đứng trước trang giấy trắng.
“Có nhiều lúc./Không biết đang làm gì./ Không muốn làm việc gì./ Định đi tìm cái gì./ Không tài nào nghĩ nổi./ Đành gọi là quên (Khoảng vắng)”
Cái mà nhà thơ tìm không thấy hoặc chưa thấy – nên “đành gọi là quên” – nhưng nếu hỏi nhà thơ quên gì thì như nhà thơ đã thú nhận cũng không nhớ nổi? Và cái điều trắc ẩn đó, chúng ta gọi là Thơ. Nó kỳ lạ và bí ẩn như tình yêu, tìm không thấy, gọi không đến – nhưng khi đã đến thì đuổi cũng không đi. ( hết trích)
http://vanvn.net/news/36/3194-nhung-con-mua-tho.html
Trời ơi, cái “ ngữ” này của Trần Gia Thái mà Hoàng Nhuận Cầm dám gọi là thơ ư ? Lại là thơ hay kinh dị phải đưa cả mùi thiền giọng triết vào bình như trên mới ác liệt chứ :
“Có nhiều lúc
Không biết đang làm gì.
Không muốn làm việc gì
Định đi tìm cái gì
Không tài nào nghĩ nổi
Đành gọi là quên”
( thơ Trần Gia Thái)
Trần Gia Thái viết những câu rất “thần kinh” thế này thì thơ con cóc phải gọi bằng cu nặng ( cụ ).
Nhà thơ trẻ Thanh Tre ( vốn nối dõi “thi pháp gãi háng Thanh Thảo”) nhân cái gọi là thơ chết cười trên của Trần Gia Thái, bèn nhại trường “thơ ngơ ngác toàn thân” này, gửi đến Trần Mạnh Hảo sáu câu ( vọng cổ ?) còn ấm ớ hơn thơ Trần Gia Thái trên, tất nhiên là mô phỏng thơ ông Thái, rồi nhờ kẻ viết bài này bình chơi :
“Có dịp thức mà ngủ
Không hiểu mình thế nào
Không biết đi đường nào
Định tìm một con nào
Có trời biết tên nó
Đành gọi là chiêm bao”
( thơ của thi sĩ Thanh Tre)
Trần Mạnh Hảo xin mượn phép “ phê bình toàn thân ngơ ngác” của Hoàng Nhuận Cầm khi bình thơ ú ớ Trần Gia Thái trên mà bình thứ thơ vô dục mới tinh của thi sĩ Thanh Tre :
“Nếu Hoàng Nhuận Cầm nói thơ của Trần Gia Thái “ ngơ ngác toàn thân” thì thơ của thi sĩ Thanh Tre vừa dẫn còn vượt lên cả sự ngơ ngác là u minh toàn phần, ấm ớ toàn diện, hâm hâm cả hồn lẫn xác, một trạng thái lên đồng, vong thân triệt để, tha hóa khôn cùng, xứng đáng với bút pháp tân kỳ có thể gọi bằng tên mới “ hết hồn ngáp ngáp”. Gã nhà thơ nơi Trần Gia Thái còn mang ý thức như mang một con đom đóm trong người, còn biết mình đang nghĩ “Không tài nào nghĩ nổi”…
Nhưng với thi sĩ mở đường cho các thi pháp tân kỳ Việt Nam Thanh Tre, bỏ xa thi pháp Tân Con cóc của trường thơ Nguyễn Quang Thiều, bỏ qua thi pháp gãi háng của Thanh Tháo, bỏ qua thi pháp ngơ ngác toàn thân của Trần Gia Thái, Thanh Tre chơi một lối thơ hoàn toàn thoát xác, tháo bỏ y phục ý thức hay tư duy ném vào sọt rác.
Con người trong sáu câu trên của Thanh Tre đi ngật ngưỡng trên đời hoàn toàn không biết mình thức hay ngủ, không biết mình là ai, mình đang đi đâu cũng cóc có biết, muốn tìm một con nào để thử tồn tại chút chút mà cóc nhớ tên nó…Nghĩa là con người ấy phi hiện thực, phi thời gian, phi không gian, một thế giới lấy chiêm bao làm vũ trụ, làm mái nhà, sống mà như con ma, sống mà như cái bóng. Cõi ấy mới đích thực thơ, thơ chí tôn chí thánh, thơ ma ma Phật Phật. Mây bay trên bầu trời so với không gian thơ Thanh Tre vô cùng tận kia chỉ đáng gọi là sâu kiến. Đành phải gọi bọn mây trắng kia đến mà mắng chúng rằng: chúng mày đang bay trên trời hay đang bay trong một cái hũ con con ?
Đọc sáu câu tuyệt tác trên của thi sĩ Thanh Tre, ta thấy xuất hiện một thi pháp mới trên thi đàn Việt Nam : ‘thi pháp thần kinh”. Hàn Mặc Tử xưa với tập “ Thơ điên” mới chỉ là điên tập sự, giả điên, làm dáng điên – tức là điên một cách có ý thức; nói như ngôn ngữ chính trị thời nay, Hàn Mặc Tử sáng tạo theo một định hướng điên. Còn Thanh Tre, thi sĩ của thời đại tham nhũng, thời đại những con bú dù chính trị, thời đại sự giả dối, đểu cáng trở thành quốc sách, quốc hồn, quốc tính, quốc doanh, quốc nạn, quốc huy, quốc ca, quốc sắc, quốc túy, quốc khùng, quốc phòng, quốc phạm…thì đã không thèm điên lẻ tẻ mà điên nặng điện, điên mà ngôn ngữ thi ca bừng sáng ánh điện tràn đầy trang giấy với ba tiếng khàn khàn mèo gào : nào ? nào ? nào ? ( hết bình thơ Thanh Tre)
Trong bài đã dẫn, Hoàng Nhuận Cầm tiếp tục bốc thơm thơ Trần Gia Thái một cách vô lối, vô phương, thơ đã sến mà lời bình còn sến hết mức :
“Ôi câu thơ rút ruột./ Rỏ máu người làm thơ. / Viết ra thì tự đọc. / Ai tri âm bây giờ. / Viết ra thì tự đọc. / Người cần nghe không nghe. / Mặc nháo nhào tranh giật. / Thơ cứ rơi não nề. (Đã mang lấy nghiệp).”
Những câu thơ rút ruột, những câu thơ rỏ máu, những câu thơ không người nghe, những câu thơ tự đọc cho mình cứ âm thầm rơi xuống bốn mươi hai bài thơ để làm nên tập “Mưa Không Mùa”. Đây là những giọt mưa không rơi theo quy luật tự nhiên – những giọt mưa rơi xuống theo quy luật của tình cảm – để tạo nên những Cơn Mưa Thơ trả nợ cho đời – những cơn mưa khô mà thấm đẫm tình người. ( hết trích Hoàng Nhuận Cầm – HNC)
Những câu nói dễ dãi, tầm thường sáo rỗng trên mà Trần Gia Thái gọi nhầm là thơ đã được Hoàng Nhuận Cầm bình như bình những câu tuyệt tác. Thơ và người bình thơ dường như cùng dắt tay nhau đi vào con đường thảm hại bức tử thi ca, con đường trao đổi làm ăn : ông bốc thơm thơ thối của tôi, tôi sẽ dành cho ông mấy cái kịch bản dựng phim hoặc mấy vai diễn xuất …
Thơ Trần Gia Thái và người bình thơ kiểu Hoàng Nhuận Cầm như trên cứ đôi lứa xứng đôi, dắt nhau đi đưa đám thi ca, tham gia chôn cất nền thơ văn minh họa, một nền văn chương con hát, thi ca thằng hề mua vua cho đám cai đầu dài chính trị coi văn nghệ chỉ là những tên đầy tớ mua vui.,.
Sài Gòn ngày 16-3-2013
Trần Mạnh Hảo
GHI CHÚ CỦA TRẦN MẠNH HẢO :
Xin qúy bạn đọc hãy vào công cụ tìm kiếm http://google.com đọc tiếp ba bài phê bình thơ Trần Gia Thái sau :
“Đọc tập thơ của Trần Gia Thái, buồn về hội chứng “méo mó hình hài vẹo xiêu nhân cách” của nền văn học VN hôm nay”
http://www.danchimviet.info/archives/43088/d%E1%BB%8Dc-t%E1%BA%ADp-th%C6%A1-c%E1%BB%A7a-tr%E1%BA%A7n-gia-thai-bu%E1%BB%93n-v%E1%BB%81-h%E1%BB%99i-ch%E1%BB%A9ng-meo-mo-hinh-hai-v%E1%BA%B9o-xieu-nhan-cach-c%E1%BB%A7a-n%E1%BB%81n-van-h/2011/09
“THƠ TRẦN GIA THÁI CƯỜNG TRÁNG THẾ NÀO TRONG MẮT HỮU THỈNH?”
http://tranmygiong.blogtiengviet.net/2012/12/18/nhan_thai_traosn_maoinh_haopo_nasi_var_t
Khi nhà thơ Hữu Thỉnh hết lời ca ngợi những câu thơ tẻ nhạt của Trần Gia Thái
http://www.danchimviet.info/archives/42658/khi-nha-th%C6%A1-h%E1%BB%AFu-th%E1%BB%89nh-h%E1%BA%BFt-l%E1%BB%9Di-ca-ng%E1%BB%A3i-nh%E1%BB%AFng-cau-th%C6%A1-t%E1%BA%BB-nh%E1%BA%A1t-c%E1%BB%A7a-tr%E1%BA%A7n-gia-thai/2011/09
TMH
Tác giả gửi cho NTT blog
Ở một nơi xa nửa vòng trái đất. Mượn quê người làm một chút quê hương. Những hạt thơ rơi bên ngoài Tổ quốc. Vẫn nẩy mầm, vẫn nở đóa yêu thương.
THAY LỜI CHÀO MỪNG!
LỜI CHÀO MỪNG
CẢM ƠN QUÝ THÂN HỮU ĐÃ MỞ CỬA VÀO NGÔI NHÀ ĐƠN SƠ "QUA DẤU BỤI THỜI GIAN" CỦA TRẦN KIÊU BẠC.
Tuesday, March 19, 2013
Tuesday, March 12, 2013
Nhìn Xuống

If you think you are unhappy, look at them.
Nếu có lúc bạn cảm thấy mình bất hạnh, hãy nhìn vào họ

If you think your salary is low, how about her?
Nếu bạn thấy đồng lương mình com cõi, thì em bé này có được bao nhiêu?

If you think you don‘t have many friends.
Nếu bạn nghĩ mình không có nhiều bạn

When you feel like giving up, think of this man.
Nếu bạn thấy mình bị bỏ rơi, hãy nghĩ về người này

If you think you suffer in life, do you suffer as much as he does?
Nếu có lúc bạn thấy gánh nặng cuộc đời ,thì có nặng giống như ai đây?

If you complain about your transport system, how about theirs?
Nếu bạn hay phàn nàn về đi lại, còn họ thì sao?

If your society is unfair to you,how about her?
Nếu bạn cho rằng xã hội bất công với mình, hãy nhìn cụ bà này
Nếu bạn cho rằng xã hội bất công với mình, hãy nhìn cụ bà này
Enjoy life how it is and as it comes. Things are worse for others and a lot better for us .
There are many things in your life that will catch your eye but only a few will catch your heart---- pursue those.
- Đời cho ta thế nào hưởng thế đó, có người bất hạnh người giàu có.
- Có quá nhiền vấn đề trong đời qua mắt bạn nhưng chỉ có số ít qua tim,
hãy cố hiểu điều đó.
Mỗi người một phận, chúng ta có nhiều hơn những gì cần có để vừa lòng
Hãy chấm dứt thói quen tiêu dùng thừa thãi và vô cảm trong xã hội “văn minh hiện đại”, đã quên và làm ngơ hai phần ba những người anh em của chúng ta!
Bonus:

Mul 98
Have a Nice day !
ĐỜI LÀ VÔ THƯỜNG !!!MỜI XEM LỜI HAY, HÌNH ẢNH THÚ VỊ…
Đời là VÔ THƯỜNG – Hạnh phúc MONG MANH (Tranh minh họa)
Hoa nở, rồi lại tàn….Trăng tròn rồi lại khuyết….Sinh lão bệnh tử…
Nét đẹp thiếu nữ rồi cũng phai tàn theo thời gian….
Tiền bạc, cơ ngơi sự nghiệp, của cải, vật chất: có đó – mất đó….
Sinh đó, diệt đó….
Hòa bình rồi lại chiến tranh, không ai biết được ngày mai….
Hiroshima năm nào, chớp mắt đã thành cát bụi….
Đừng tự hào với bất cứ cái đẹp giả tạo nào mà mình đang có trên thân thể này, vì chỉ cần 1 sự cố xảy ra, nó sẽ hư – xấu và bị hủy hoại hoàn toàn…
Nó là giả! Đôi chân ấy có thể mất đi, đôi mắt ấy có thể mù lòa, trí não ấy sẽ không còn minh mẫn….
Ngay cả sự vật cũng không thể trường tồn với thời gian, huống chi thiên nhiên, con người, và lòng người….
2 chữ “Ái Tình”…
Đời người: Sinh – Lão – Bệnh – Tử, có gì vui ???
Trong thế giới tạm bợ, ngập tràn khổ đau này, loay hoay mãi, cuối cùng chỉ có thể tìm được cái gọi là “thanh thản” và “bình yên” khi an trú dưới ánh sáng Phật Pháp….
Để tránh bất hạnh khổ đau, hãy gắng sống tốt và theo sát lời Phật dạy. “Không làm các điều ác – Thường làm các việc lành”. Dù rằng Nhân quả – Nghiệp báo đã làm chủ cuộc đời, nhưng tu thân – tích đức HOÀN TOÀN CÓ THỂ GIẢM NHẸ TỘI – NGHIỆP để
có 1 cuộc sống tốt đẹp hơn, tinh thần nhẹ nhàng thanh thản hơn. Đừng
tiếp tục sa lầy. Đừng tiếp tục trì hoãn. Đời người sống nay chết mai.
Hãy mau mau trở về dưới chân Phật….
Trích dẫn: “Thân này là vô thường, là khổ, là vô ngã,
thấy thân này là bất tịnh uế nhiễm, hôi thúi (đàm, nước tiểu,
phân,máu,mủ,..), bệnh tật, khổ đau, thấy những người thân quyến thuộc là
nhân quả, là những người vay nợ với nhau, không có chi là thường
còn, vĩnh viễn, các pháp trong thế gian này không phải của mình nữa, là
do duyên hợp, là đau khổ, là trói buộc, thương nhớ chỉ là một sự
tạm bợ trong khi thân này còn sống, đến khi nó hoại diệt rồi thì sự
thương nhớ kia cũng không còn, nó sẽ tan ra thành mây khói.”
MỘT GÓC TRÁI TIM CHO QUẢNG TRỊ
Trong nhiều năm lăn lóc tận Sài Gòn
Tôi vẽ vào tay bản đồ Quảng Trị
Bao lần trong đêm như là mộng mị
Mơ về quê nhà xa đã nhiều năm
Quảng Trị ơi! Mới xa
chỉ một lần
Mà giọt thời gian lăn không trở lại
Hay xa một lần để rồi xa mãi
Chỉ gặp quê mình qua giấc mơ thôi?
Nóng ở Sài Gòn chỉ là nóng mồ côi
Không như gió Lào từng chùm thổi ngược
Mưa lũ hàng năm không hề báo trước
Thay nắng đổ đầu khô nẻ thịt da
Dáng Mẹ còm lưng đứng dựa cột nhà
Khóc gió bão qua chỉ mình ở lại
Quên mình nghèo vướng chân đầy cỏ dại
Trái tim nồng nàn không thể đóng băng
Hẹn sẽ về như đã hứa trăm năm
Nếm lại cháo vạt giường và lòng thả
Ly rượu Kim Long muôn đời không lạ
Gặp bạn xưa “nhận không ra ri hè”!
Mơ một ngày hoa xưa gọi bướm về
Bên bờ sông đầy bao dung Thạch Hản
Đêm Cửa Tùng sương treo cành lãng mạn
Cầu treo Dakrong đưa tuổi tác sang mùa
Sông Sài Gòn đèn sáng chợt lưa thưa
Nghiêng nỗi buồn bên bồi sang bên lở
Quê mình ơi! Mẹ hiền ơi! Vẫn nhớ
Đêm một mình một Quảng Trị trong tim!
TRẦN KIÊU BẠC
(tháng 3/2013))
MOT TAI LIEU QUY GIA VO CUNG.
Đằng sau mỗi một tấm hình nhỏ mặt tiền là cả trăm hoặc vài chục tấm hình khác, tổng cộng có lẽ phải là cả ngàn tấm hình hoặc hơn nữa! Xem phải nhiều ngày, nhiều tuần lễ, nhiều tháng, nhiều năm mới hết.
Một kho tàng lịch sử bằng hình ảnh quý báu.HÌNH ẢNH XƯA HIẾM QUÝNơi đây có chứa nhiều hình ảnh thật xưa, có giá trị lịch sử văn hóa Việt Nam tưởng không bao giờ được coi, mời vào:
Monday, March 11, 2013
HARMONICA
60 năm sau, TòngSơn vẫn vô địch harmonica !!!!!!Tong Son,
the harmonica king of Việt Nam
Hơn nửa Thế kỷ trước tôi đã nhiều lần xem ông thổi khẩu cầm, đến bây giờ ông thổi có phần còn hay hơn trước nhiều.
Tong Son, who has been the harmonica king of Vietnamm
The 81-year-old Tong Son, who has been the harmonica king of Viet Nam, plays the harmonicas while eating banana and drinking beer during his performance.
LICH SU
LỊCH SỬ CHỮ QUỐC NGỮ
Người
Việt ta từ ngàn
năm xưa đã có
chữ viết riêng.
Chữ Việt cổ là
loại chữ tượng
thanh, ghép
những chữ cái
thành từ. Chữ
Việt có trước
cả chữ Hán hàng
ngàn năm và hoàn
toàn khác chữ
Hán. Các nhà
nghiên cứu ngôn
ngữ học Việt nam
đã có những khám
phá và còn tiếp
tục truy tìm.
Cùng với các
nghiên cứu của
nhiều nhà ngôn
ngữ học Pháp,
Anh, Mỹ, Tiệp và
nhất là Trung
Hoa (Lục Lưu,
Hứa Thân, Trịnh
Tiểu) đều khẳng
định người Việt
đã có chữ viết
riêng từ trước
kỷ Công nguyên
(BC).
Bộ
chữ này lưu lại
trong nền văn
hóa tiền Việt –
Mường. Trên các
mặt Trống Đồng
và nhiều di vật
cổ xưa khác đã
được khai quật ở
Bắc bộ, Bắc
Trung bộ và rải
rác ở vùng cực
bắc biên giới
Việt Nam, đều có
một dạng ký hiệu
giống nhau,
những hình con
nòng nọc là
những tự dạng,
biểu tượng để
ghi chép lại
những âm thanh
cấu thành từ
ngữ. Đó chính là
chữ Việt cổ, bộ
chữ Việt cổ ấy
dùng để ghi
tiếng nói của
người Việt từ
ngàn xưa.
Trống
đồng Đông Sơn
tại Bảo tàng
Guimet, Paris,
Pháp
Tổ tiên chúng ta đã từng phải sống qua một quá trình đô hộ lâu dài của Trung Hoa, với âm mưu hủy diệt nền văn hóa Việt Nam chúng đã bắt dân ta dùng chữ Hán để bức tử, tuyệt diệt với chữ Việt cổ, với mục đích đồng hoá dân tộc. Chữ viết tiếng Việt (bộ chữ Khoa đẩu) thời bấy giờ là đối tượng bị Trung Hoa hủy diệt trước nhất, bởi nó phản ánh tư tưởng, linh hồn, văn hóa của dân tộc Việt.
Hịch khởi nghĩa của Hai Bà Trưng kêu gọi toàn dân đứng lên chống Tàu được viết bằng chữ Khoa đẩu, chữ Việt cổ.
Trong sách Hậu Hán thư (後漢書), quyển 14 ghi: "Dân Giao Chỉ có linh vật là trống đồng, nghe đánh lên họ rất hăng lúc lâm trận.... "
Sách này còn viết rằng: "Mã Viện sau khi dập tắt cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng, đã tịch thu các trống đồng của các thủ lĩnh địa phương, một phần đem tặng, phần nấu chảy để đúc ngựa và đúc cột đồng Mã Viện."
Sử xưa cũng ghi lại rằng: " Sau khi nước Nam Việt của Triệu Đà bị người Hán xâm chiếm, văn hóa của Việt tộc bị chính sách đồng hoá. Nhâm Diên và Sĩ Nhiếp đã bắt đốt hết sách Việt tộc, nhà nào cất giữ, lưu truyền thì bị giết hại. Các trống đồng Việt tộc bị Mã Viện tịch thu (năm 43), tiếp theo sau là cuộc cướp phá, tiêu hủy sách vở Việt tộc của nhà Minh đầu thế kỷ 15…"
Với chính sách tận diệt văn hóa Việt như trên, chữ “Khoa Đẩu” của người Việt cổ và có thể cả chữ “tượng hình” sơ khai của thời Văn Lang, Âu Lạc, sau một ngàn năm bị đô hộ, đã bị xoá sạch, vì thế không thể phổ biến được cũng là điều dễ hiểu.
Hịch
khởi nghĩa của
Hai Bà Trưng, viết
bằng chữ Khoa
Đẩu.
Chữ
Việt cổ trên
thân Trống Đồng
Lũng Cú.
Tuy
nhiên, với chí
khí bất khuất
của người
Việt, luôn
khát vọng độc
lập tự do, ông
cha ta từ chữ
Hán tượng hình
đã chế tác ra
thứ chữ Nôm để
sử dụng, nhằm
mục đích giữ
gìn nền văn
hoá Việt Nam
cận đại và bản
sắc văn hóa
thuần túy dân
tộc Việt.
Nhìn
chung Việt Nam
vào thời điểm
lịch sử cổ,
trung đại, vẫn
chưa chính thức
có trường lớp
nào dạy nói và
viết tiếng Việt.
Người Việt chúng
ta ngày xưa đa
số được học
(nói) tiếng Việt
ngay từ lúc lọt
lòng mẹ, trong
sinh hoạt gia
đình và thông
qua những giao
tiếp hàng ngày
ngoài xã hội là
chính. Ở giai
đoạn này chữ
viết vì chưa
truyền bá phổ
thông trong dân
chúng nên các
câu Ca Dao, Tục
Ngữ,Thơ ngắn,
dài (1)
nhờ có
vần, có điệu,
nên mau thuộc và
dễ nhớ; là loại
văn chương ca
dao truyền khẩu
được phổ biến
rộng rãi trong
nhân gian và
ngày càng phong
phú, súc tích.
Trong
quá trình xã hội
phát triển, dân
tộc Việt Nam ta
đã tiếp xúc giao
lưu với nhiều
dân tộc khác.
Trong tiếp xúc
trao đổi thông
tin với nhau,
vấn đề học hỏi
và hiểu rõ ngôn
ngữ của nhau trở
nên nhu cầu cần
thiết.
Vào
thế kỷ XV. Sứ
thần Trung Quốc
đã phải nhờ đến
các cơ quan
phiên dịch ở
Trung Quốc như
Hội thông quán,
Tứ Di quán, Tứ
Dịch quán làm
nhiệm vụ phiên
dịch mỗi khi
giao tiếp với
Việt Nam. Các
cuốn từ vựng đối
chiếu tiếng Hán
với một số thứ
tiếng khác được
lần lượt biên
soạn, trong đó
có cuốn An Nam
Dịch Ngữ (*) là
cuốn từ điển
dùng để đối
chiếu tiếng chữ
Hán với chữ
tiếng Việt.
(*) An Nam Dịch Ngữ là bản từ vựng dùng cho cơ
quan hành chánh
(nhà Minh) đặc
trách giao dịch
với Việt Nam
từng phải triều
cống.
Giai
đoạn năm 939,
thời Vua Ngô
Quyền lập quốc,
các triều đại
Vua Việt Nam đã
mượn chữ Hán
(chữ Nho) để sử
dụng trong hành
chánh, học
thuật. Tuy
nhiên, người
Việt vẫn nói
tiếng Việt,
không công nhận
chữ Hán (chữ
Nho) là quốc
ngữ. Tổ tiên ta luôn
tìm cách sáng
tạo ra quốc ngữ
riêng và đã
dựa trên chữ Hán
để chế ra chữ
Nôm. Chữ Nôm
được ghi nhận
chính thức xuất
hiện vào thế kỷ
13, khi quan
Hình Bộ Thượng
Thư: Nguyễn
Thuyên, triều
Trần Nhân Tông
(1279-1293), làm
bài văn “Tế cá
sấu” (2) bằng
chữ Nôm. Vào
thời nầy, chữ
Nôm được xem là
Quốc ngữ bên
cạnh chữ Nho,
nên tập thơ chữ
Nôm của Chu Văn
An (1292–1370)
được ông gọi
là Tiều ẩn quốc
ngữ thi tập (Tập
thơ quốc
ngữ). Đoạn
Trường Tân Thanh
(Kim
Vân Kiều) của
thi hào Nguyễn
Du, là một trong
những tiêu biểu
hàng đầu những
thành tựu đáng
kể của
chữ Nôm đã đóng
góp cho nền văn
hoá Việt Nam cận
đại.
Tuy
nhiên, chữ Nôm
vì được cấu tạo
trên căn bản chữ
Nho, nên khi
muốn học chữ Nôm
thì phải biết
chữ Nho (chữ
Hán).Vì vậy chữ
Nôm khó học,
không phổ thông
trong dân chúng,
và ít được sử
dụng rộng rãi.
(Sách
cổ viết chữ Nôm)
Đến giai đoạn thế kỷ 16, năm 1533. Khi các nhà truyền giáo phương Tây đến Việt nam để truyền dạy ĐạoThiên Chúa, các giáo sĩ đã nghiên cứu, và soạn ra bộ chữ từ chữ La tinh để viết và cách phiên âm tiếng Việt, dùng cho việc giảng đạo bằng ngôn ngữ Việt . Từ bộ chữ này đã trở thành Chữ Quốc Ngữ. Đây cũng là giai đoạn khởi đầu quan trọng nhất, có tính chất quyết định đã giúp cho ngôn ngữ Việt, và nền Văn Hóa Việt Nam được phát triển nhanh chóng.
Các giáo sĩ, tu sĩ Jesuit (Dòng Tên) http://en.wikipedia.org/wiki/Jesuit Người Bồ Đào Nha như Francisco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, v.v. Sử dụng chữ cái La tinh để ghi chép, phiên âm Tiếng Việt.
Năm 1618, linh mục Francisco De Pina cùng với linh mục Phêrô, đã dịch Kinh Lạy Cha và các Kinh căn bản khác sang tiếng Việt, có thể xem đây là khởi đầu cho việc soạn thảo chữ Quốc ngữ. Các Linh mục tương đối hoàn tất hệ thống chuyển mẫu tự La-tinh thích hợp với cách giọng phát âm và thanh điệu tiếng Việt. Nhưng giai đoạn nầy chưa được đầy đủ.
Bản
Kinh lạy Cha
được viết tay
năm 1632 nguyên
bản như sau:
Người có công hoàn thiện công trình này là Giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La , Ngữ pháp tiếng An Nam, và “Bài giảng giáo lý Tám ngày” đầu tiên xuất bản vào năm 1651.
Từ
điển Việt-Bồ-La
Hình
bìa “Sách Phép
Giảng Giáo Lý
Tám Ngày”
Link sách DOWN
LOAD (Phép
Giảng Giáo Lý
Tám Ngày)
(Tài liệu lưu trữ 88.3 MB dạng (pdf)
https://www.dropbox.com/s/3eg88d2zf720bf2/PHEP%20GIANG%208%20NGAY%20%28TVST%29%20%20-%20%20Cathechismvs%20%20%20Alexandre%20de%20Rhodes.pdf
(Tài liệu lưu trữ 88.3 MB dạng (pdf)
https://www.dropbox.com/s/3eg88d2zf720bf2/PHEP%20GIANG%208%20NGAY%20%28TVST%29%20%20-%20%20Cathechismvs%20%20%20Alexandre%20de%20Rhodes.pdf
Ðây là sách giáo lý được biên soạn để giúp cho các cha truyền dậy giáo lý tại Việt nam. Cuốn sách được in bằng hai thứ tiếng: La tinh và Việt Nam.
Trên mỗi trang sách chia làm hai, có một gạch đôi từ trên xuống dưới: Bên tay trái của người đọc sách là chữ La tinh, bên tay phải là chữ Việt.
Ðể người đọc dễ dàng đối chiếu song ngữ. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes - Ðắc Lộ, đặt ở đầu mỗi ý tưởng chính mẫu tự abc... cho hai phần La, Việt, rồi chính giữa trang sách cũng đặt mẫu tự abc... cho hai phần La Việt song song. Cuốn sách gồm có 319 trang.
Sách không chia ra từng chương, mà lại chia theo từng ngày học (Tám ngày), được trình bày in ấn có tính cách như một giáo trình sư phạm.
Giáo
sĩ Alexandre de
Rhodes
Giáo sĩ Alexandre De Rhodes (Sinh năm1591 tại Avignon, Pháp; mất năm 1660 tại Ispahan, Ba Tư). Ngài đã sang Việt Nam truyền đạo trong vòng sáu năm (1624 -1630).
Ngài là người có công rất lớn trong việc hệ thống hoá chữ viết tiếng Việt. Nhờ đó mà chữ Quốc Ngữ được hình thành và trở thành hệ thống có quy tắc và khoa học, dễ viết, dễ phát âm, dễ học.
Nhìn chung, sự hình thành Quốc ngữ không phải do công sức cá nhân của một giáo sĩ, mà là công sức tập thể của nhiều giáo sĩ thuộc nhiều nước khác nhau, nhiều thế hệ khác nhau, đã đến truyền đạo tại Việt Nam. Và trong đó còn có sự đóng góp trực tiếp nhưng âm thầm của rất nhiều giáo sĩ Việt Nam và đồng bào giáo dân lúc bấy giờ.
Chữ Quốc ngữ tuy ra đời từ thế kỉ 17 (1651) ở Việt Nam nhờ công lao tâm trí của các Tu sĩ truyền giáo, nhưng bị giới hạn chỉ dùng để giúp các Cha giảng, truyền đạo. Vì lúc ấy triều đình phong kiến Việt Nam, đàng Trong lẫn đàng Ngoài với chính sách cấm đạo, và giết hại Giáo sĩ nên chữ Quốc ngữ đã không thể phát triển, truyền bá rộng rãi.
NGHE & Down load (AUDIO BOOK THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM)
(Trích đoạn trong sách Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ -
Nghiên cứu của
linh mục Ðỗ
Quang Chính,
do nhà sách Ra
Khơi xuất bản
tại Sài gòn
năm 1972).
Giai
Ðoạn Sơ Khởi
(1620-1626):
Các
nhà truyền
giáo Âu Châu
đã đến Hà Tiên
và Thừa Thiên
từ giữa thế kỷ
16. Nhưng mãi
sang đến đầu
thế kỷ 17
những hoạt
động truyền
giáo này mới
được ghi lại
khá đầy đủ.
Khởi đầu, các
nhà truyền
giáo đã đến
Hội An để giúp
đỡ các giáo
hữu người
Nhật. Hội An
(Hội Phố) thời
ấy là một cảng
buôn bán sầm
uất, với những
phố riêng cho
người Nhật và
người Hoa.
Theo
sách cũ, người
Âu Châu đầu
tiên thạo
tiếng Việt là
linh mục
Francisco de
Pina, người Bồ
Ðào Nha
(Portugal) (3)
. Năm 1620,
với sự công
tác của người
bản xứ, các tu
sĩ Dòng Tên
(Jésuite) tại
Hội An đã soạn
thảo một sách
giáo lý bằng
chữ Nôm. Từ
năm 1621 trở
đi, các nhà
truyền giáo đã
bắt đầu chuyển
qua mẫu tự abc
những địa
danh, tên tộc,
và từ-ngữ Việt
trong những
bản tường
trình cho giáo
hội về hoạt
động của họ.
Dựa
vào những
tài-liệu viết
tay còn được
lưu trữ, trong
giai-đoạn sơ
khai của chữ
Quốc Ngữ, các
chữ thường
được viết liền
và không có
đánh dấu. Thí
dụ:
-
Annam = An
Nam
-
Unsai = Ông
Sãi
-
Ungue = Ông
Nghè
-
Bafu = Bà Phủ
-
doij = đói
-
scin mocaij =
xin một cái
-
Sayc Chiu =
Sách chữ
-
Tuijciam, Biet
= Tôi chẳng
biết
Giai
Ðoạn Hai
(1631-1648)
Những
tài-liệu viết
tay trong
giai-đoạn này,
đặc biệt là
của linh mục
d’Amaral, cho
thấy chiều
hướng mới
trong cách
viết chữ Quốc
Ngữ. Các chữ
được viết cách
ra và đã được
bỏ dấu. Nhiều
chữ được viết
như ta hằng
thấy ngày nay.
Thí dụ như:
· Nghệ An
· Bố Chính
Nhiều
chữ nhìn tương
tự nhưng có
lối đánh vần
và bỏ dấu hơi
khác
· Thính hoa: Thanh Hóa
· oũ bà phủ: Ông bà Phủ
· hụyen: huyện
· sãy: sãi
Ngoài
những bản
tường trình,
giai đoạn này
còn có ba
tài-liệu
quan-trọng
khác. Một là
biên-bản
hội-nghị năm
1645 của 35
linh mục Dòng
Tên tại Macao
để xác nhận mô
thức rửa tội
bằng tiếng
Việt Nam (4) .
Hai là cuốn
tự-điển
Việt-Bồ-La của
linh mục
Gaspar
d’Amaral
(Diccionário
anamita-português-latim).
Ba là cuốn
tự-điển
Bồ-Việt
(Diccionário
português-anamita)
của linh mục
Antonio
Barbosa (5) .
Ðến
năm 1972, biên
bản cuộc hội
nghị được lưu
trữ tại Văn
Khố Dòng Tên
tại La Mã (6)
. Còn hai cuốn
tự-điển kia,
lúc đầu được
tàng trữ tại
Văn Khố Dòng
Tên tỉnh Nhật
Bản tại Macao,
đã mất tích
sau các cuộc
di chuyển của
văn khố này từ
Macao qua
Manila (Phi
Luật Tân), từ
Manila qua
Madrid (Tây
Ban Nha). Sở
dĩ chúng ta
còn biết đến
hai cuốn
tự-điển này là
vì chính Ðắc
Lộ, trong lời
tựa của cuốn
tự-điển mà ông
xuất-bản năm
1651, đã viết
rõ là ông đã
dùng hai cuốn
tự-điển trên
để soạn-thảo
cuốn tự-điển
của mình.
Giai
Ðoạn Ba
(1649-1651):
Giai
đoạn này được
đánh dấu bằng
sự thống nhất
cách viết chữ
Quốc Ngữ và
việc ấn hành
hai cuốn sách
quốc ngữ đầu
tiên của Ðắc
Lộ (7) . Hai
cuốn ấy là:
· Dictionarivm annamiticvm,
lvsitanvm, et
latinvm, ope
Sacrae
Congregationis
de Propaganda
Fide in lvcem
editvm. Ab
Alexandro de
Rhodes è
Societate
Iesv,
ejusdemque
Sacrae
Congregationis
Missionario
Apostolico,
Roma, 1651,
in-4°
· Cathechismvs pro iis, qui volunt
suscipere
Baptismvm, in
Octo dies
diuisus. Phép
giảng tám ngày
cho kẻ muấn
chiụ phép rứa
tọi, ma /beào
(8) đạo thánh
đức Chúa blời.
Ope Sacrae
Congregationis
de Propaganda
Fide in lucem
editus. Ab
Alexandro de
Rhodes è
Societate
Iesv,
ejusdemque
Sacrae
Congregationis
Missionario
Apostolico,
Roma, 1651,
in-4° . (Hết phần trích dẫn)
Toàn
Quyền Đông
Dương Martial
Merlin (Bên
phải hình)
Subscribe to:
Posts (Atom)















