THAY LỜI CHÀO MỪNG!

THAY LỜI CHÀO MỪNG!

LỜI CHÀO MỪNG

CẢM ƠN QUÝ THÂN HỮU ĐÃ MỞ CỬA VÀO NGÔI NHÀ ĐƠN SƠ "QUA DẤU BỤI THỜI GIAN" CỦA
TRẦN KIÊU BẠC.




Tuesday, June 3, 2014

KINH NGHIEM SONG


Kinh nghiệm sống


 

TỐT NHỨT CHÚNG TA NÊN LỜ ĐI, BỎ QUA, HAY THA THỨ ĐỂ TÂM THẦN THANH TỊNH CÓ LỢI CHO SỨC KHỎE VÀ ĐỂ THƯ GIẢN VUI HƯỞNG VỚI NHỮNG GÌ MÌNH MUỐN, NHỮNG GÌ MÌNH ĐANG CÓ.
 
ĐỜI LÀ THẾ!  NGƯỜI LÀ THẾ!  TRÁCH MÓC, GIẬN HỜN CÓ HẠI CHO MÌNH HƠN CHO NGƯỜI KHÁC!
 
Đừng bao giờ trách móc bất kỳ ai trong cuộc sống của bạn
Người Tốt sẽ cho bạn Hạnh Phúc...
Người Xấu cho bạn Kinh Nghiệm...

Người Tồi Tệ nhất cho bạn Bài Học...Và... người Tuyệt Vời Nhất sẽ cho bạn Kỷ Niệm.
Đừng hứa khi đang... vui !
Đừng trả lời khi đang... nóng giận !
Đừng quyết đinh khi đang... buồn !
Đừng cười khi người khác... không vui !

Cái gì mua được bằng tiền, cái đó rẻ.
Ba năm học nói, một đời học cách lắng nghe

Chặng đường ngàn dặm luôn bắt đầu bằng 1 bước đi.
Đừng a tòng ghen ghét ai đó, khi mà họ chẳng có lỗi gì với ta 

Tuy trong rừng có nhiều cây đại thọ cả ngàn năm, nhưng người sống thọ đến 100 tuổi không nhiều. Bạn thọ lắm cũng chỉ sống đến 100 tuổi (tỉ lệ 1 trên 100.000 người).

Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm. Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm. Vì lẽ bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có, bạn đừng có tiết kiệm quá mức.
 
(trên 50t mừng từng năm, qua 60t mong hàng tháng, tới 70t đếm mỗi tuần, đến 80t đợi vài ngày, được 90t ...ngơ ngác một mình với giờ phút dài thăm thẳm !) 
Bạn nên tiêu những món cần tiêu, thưởng thức những gì nên thưởng thức, tặng cho thiên hạ những gì bạn có thể cho, nhưng đừng để lại tất cả cho con cháu. Bạn chẳng hề muốn chúng trở nên những kẻ ăn bám.

Đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra sau khi bạn ra đi, vì khi bạn đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai nữa đâu.

Đừng lo lăng nhiều qúa về con cái vì con cái có phần số của chúng và chúng sẽ tự tìm cách sống riêng. Đừng trở thành kẻ nô lệ của chúng.

Đừng mong chờ nhiều ở con cái. Con biết lo cho cha mẹ, dù có lòng vẫn quá bận rộn vì công ăn việc làm và các ràng buộc khác nên không thể giúp gì bạn.

Các con vô tình thì có thể sẽ tranh dành của cải của bạn ngay khi bạn còn sống, và còn muốn bạn chóng chết để chúng có thể thừa hưởng các bất động sản của bạn.

Các con của bạn cho rằng chuyện chúng thừa hưởng tài sản của bạn là chuyện dĩ nhiên nhưng bạn không thể đòi dự phần vào tiền bạc của chúng.

Với những người thuộc lứa tuổi 60 như bạn, đừng đánh đổi sức khoẻ với tài lực nữa. Bởi vì tiền bạc có thể không mua được sức khoẻ. Khi nào thì bạn thôi làm tiền? và có bao nhiêu tiền là đủ (tiền muôn, tiền triệu hay mấy chục triệu)?

Dù bạn có cả ngàn mẫu ruộng tốt, bạn cũng chỉ ăn khoảng 3 lon gạo mỗi ngày; dù bạn có cả ngàn dinh thự, bạn cũng chỉ cần một chỗ rộng 8 mét vuông để ngủ nghỉ ban đêm.

Vậy chừng nào bạn có đủ thức ăn và có đủ tiền tiêu là tốt rồi.
Nên bạn hãy sống cho vui vẻ. Mỗi gia đình đều có chuyện buồn phiền riêng.

Đừng so sánh với người khác về danh vọng và địa vị trong xã hội và con ai thành đạt hơn, nhưng bạn hãy so sánh về hạnh phúc, sức khỏe và tuổi thọ... Đừng lo nghĩ về những chuyện mà bạn không thể thay đổi vì chẳng được gì, mà lại còn làm hại cho sức khỏe bạn...

Bạn phải tạo ra sự an lạc và tìm được niềm hạnh phúc của chính mình. Miễn là bạn phấn chấn, nghĩ toàn chuyện vui và làm những việc bạn muốn mỗi ngày một cách thích thú thì bạn thật đã sống hạnh phúc từng ngày.

Một ngày qua là một ngày bạn mất đi, nhưng một ngày trôi qua trong hạnh phúc là một ngày bạn "được". 
Khi bạn vui thì bệnh tật sẽ lành; khi bạn hạnh phúc thì bệnh sẽ chóng hết. Khi bạn vui và hạnh phúc thì bệnh sẽ chẳng đến bao giờ.
Với tính khí vui vẻ, với thể thao thể dục thích đáng, thừơng xuyên ra ánh sáng mặt trời, thay đổi thực phẩm đa dạng, uống một thuốc bổ vừa phải, hy vọng rằng bạn sẽ sống thêm 20 hay 30 năm tràn trề sức khỏe.

Và nhất là biết trân qúy những điều tốt đẹp quanh mình và còn BẠN BÈ .nữa.. họ đều làm cho bạn cảm thấy trẻ trung và có người cần đến mình... không có họ chắc chắn bạn sẽ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ.!!!

Xin chúc bạn mọi điều tốt đẹp nhất.

Thursday, May 29, 2014

Wednesday, May 21, 2014

"Vẫn còn em bên này biển rộng" Thơ Trần Kiêu Bạc; Hồng Vân diễn ngâm (+p...

"CẢM ƠN NHẠC ĐÃ VÌ THƠ " Thơ: Trần K. Bạc. Hồng Vân diển ngâm (+playlist)

Tuesday, May 13, 2014

Sunday, February 23, 2014


QUA DẤU BỤI THỜI GIAN
Thơ Trần Kiêu Bạc
            Tôi về lại Sàigòn sau 17 năm lưu lạc kể từ ngày rời ngôi trường Quốc Gia Hành Chánh thân yêu của mình, được găp lại một số bạn bè cùng khóa giờ hầu hết đều lận đận, khó khăn, trong đó anh có lẽ đỡ hơn một chút: anh đang làm việc tại một văn phòng dạy lái xe ở con đường sau lưng Đại học xá Minh Mạng. Anh vẫn thế, vẫn nụ cười rộng mở, vẫn tính cách hiền hòa, nhiệt tình, lịch thiệp. Gặp nhau, rũ nhau đi uống ly cà phê, hút vài điếu thuốc, tôi không hề nghe anh nói gì về văn thơ, nào ngờ, anh đã làm thơ từ rất lâu, thời trung học đã xin bà nội hai chỉ vàng để in tập thơ riêng của mình, và hôm nay “xin vợ” một cây hai để in tập thơ “Qua dấu bụi thời gian” nầy.
            Tập thơ có 245 bài, mở đầu là bài “Mùi Mẹ hương tết” và bài cuối cùng là “Tiễn bạn Trần đình Mười”. Như anh viết ở phần vài dòng tâm sự “Những bài thơ, tứ thơ và lời thơ đều đơn giản, dung dị và không gai góc” và giản dị, bình thường nhưng không tầm thường. Đúng thơ anh là như vậy, nhưng phải nói thêm có rất nhiều bài thơ trong thi tập mượt mà, sâu lắng, làm xao động lòng người như những bài ca dao của quê hương chúng ta. Trong 245 bài này, gần 40 chục bài thơ đầu tiên là “ Thơ trong máu thịt” anh viết cho những người thân yêu của mình, nhưng bao trùm lên tất cả là về Mẹ. Phần sau với hơn 200 trăm bài, anh viết đủ loại từ tình yêu, tình quê hương, những kỷ niệm về những vùng đất anh đã đi qua, đã sinh sống, làm việc, cuộc sống nơi xứ người, những lần gặp gỡ vv…, chỉ thiếu vắng những chủ đề chính trị.
            Tôi chỉ là người đọc thơ, yêu thơ vừa phải, nên trong những đề tài mênh mông anh viết, tôi chỉ chọn hai loại để ghi lại những cảm giác của mình: một là những bài thơ viết về Mẹ của anh và hai là những bài thơ anh viết liên quan đến những người bạn chung của chúng tôi.
            Viết về Mẹ, là đề tài phổ biến nhất chỉ sau tình yêu đôi lứa, vì tiếng Mẹ, nhất là khi Mẹ đã qua đời, là tiếng kêu thống thiết nhất của con người, như lời thơ Trần Trung Đạo “ Đổi cả thiên thu tiếng Mẹ cười”. Còn với Trần Kiêu Bạc, hai mươi tám bài thơ đầu của thi tập anh dành cho Mẹ, chúng ta thử đọc một số trích đoạn:
Con bên này nhớ Mẹ bên kia
Như xa lộ thẳng đường không sao khác
Chiều nay nhớ nhà xe chở đầy hương Tết
Con chở theo mình mùi Mẹ đầu năm.
                 “ Mùi Mẹ hương Tết”, page 1
Thượng tuần tháng Giêng trăng dẫn Mẹ ra đi
Đóa hồng đỏ trên ngực con hóa thành hoa trắng
Vu lan nầy trăng về trong mưa xám
Trăng trở lại mình, hoa vẫn trắng màu tang
                             “Mùa trăng Vu lan”, page 3
Con quỳ đây lạy Mẹ đến vô cùng
Trong hương khói tìm đâu hình bóng Mẹ
Nửa đoạn đời sau trong miền dâu bể
Vẫn mang nặng hoài hai chữ mồ côi
                            “ Bài thơ dâng Mẹ”, page 4
Nhang vẽ những vòng tròn
Từng số không nối tiếp
Ngàn số không tội nghiệp
Vương vấn bước Mẹ đi
Có ngày nào Mẹ về
Qua vòng tròn khói trắng
Những số không im lặng
Tỏa ngát mùi hương quen
                              “ Trong hư ảo khói nhang”, page 6
            Hay chúng ta đọc bài “Hát ru cho Mẹ” ở trang 10, đây là bài thơ lục bát mượt mà, êm như lời ru ca dao: “Mẹ ru con suốt đêm trường, Giờ con ru Mẹ qua hương khói mờ.” Dòng lục bát nầy trãi dài trong những bài thơ tiếp theo nghe thê thiết làm sao.


            Đặc biệt với bài thơ “ Nhà không còn Mẹ” ở trang 14, mở đầu với bốn câu:
Cảm ơn người đã ghé thăm Mẹ tôi
Tiếc đã trễ rồi, Mẹ tôi vừa mất
Trễ một chút thôi mà vườn cau thôi xanh ngát
Lá trầu trải vàng một sắc nhớ Mẹ xưa
            Ngày đó, khi hay tin Mẹ của bạn tôi mất, bạn TBS và tôi chở nhau từ Saigon lên Tây Ninh viếng tang trễ, miền quê bạn cũng giống như quê tôi: cũng nghèo, cũng lầm than dù hai miền đất nước này rất khác nhau. Chúng tôi được gặp anh chị Tư, được khấu đầu lễ Bác, với di ảnh như tấm hình được in trong tập thơ nầy.
            Những bài thơ nào của anh về Mẹ cũng thật hay, thể hiện nổi lòng của đứa con ở cách xa Mẹ ngàn trùng với những nuối tiếc, xót thương, trăn trở. Nhưng sự xót xa, nuối tiếc nào đối với cha mẹ mình giờ cũng đều muộn màng, vì các Người đã ra đi, đi mãi không bao giờ về nữa.
* * *
            Anh viết nhiều về bạn bè, trong đó có hai bài thơ rất gần gủi với tôi, đó là bài Những chiếc ghế còn bỏ trống và bài thơ Tiễn bạn Trần đình Mười.
            Khoảng năm 2009, từ Sacramento, miền bắc California, nơi anh ở, anh về thăm Orange County, anh chị LPB, TTN có làm một bữa tiệc tại tư gia, mời bạn bè cùng khóa đến gặp anh. Chủ nhân đã mời khoảng hai mươi người, nhưng chỉ có tám người hiện diện, dù không được đông đảo nhưng chúng tôi rất vui vì đây là sự hội ngộ của những người bạn thân. Còn việc bạn bè vắng mặt cũng là chuyện thường tình trong cuộc sống bận rộn bên này, nên chúng tôi không để ý tới những chiếc ghế trơ trọi không có người ngồi trong buổi tiệc này. Nhưng với một tâm hồn rất nhạy cảm, nhà thơ rất ngậm ngùi khi thấy những chiếc ghế bỏ trống này. Tối hôm sau, khi về lại nhà, anh đã post bài thơ đặc biệt nầy cho chúng tôi. Qua việc nầy, anh LPB khen anh là xuất khẩu thành thơ, giống như Tào Thực thời Tam Quốc bên Tàu. Nhà văn Nguyễn xuân Hoàng và Nguyên Hạ có bài nhận định và cảm tác về bài thơ nầy được đăng ở phần phụ lục từ trang 247. Tôi xin trích vài đoạn trong bài thơ “Những chiếc ghế còn bỏ trống”:
Bạn của năm xưa không về được
Bạn của ngày nay cũng vắng rồi
Những chiếc ghế con còn bỏ trống
Xích lại gần nhau cũng lạnh thôi
Ly rượu mừng nhau vơi phân nữa
Chìm tận đáy ly những khóc cười
Thủy tinh trong suốt qua tầm mắt
Rượu một dòng lại chảy nhiều nơi
………………..
Tôi viết bài thơ buồn độc vận
Như một mình giữa bóng trăng soi
Tôi nhặt miếng trăng rơi xuống cỏ
Kết nên tình bạn sáng muôn đời
            Bài thơ “Tiễn bạn Trần Đình Mười” là tiếng khóc của bạn bè khóa Đốc Sự 17, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh khi bạn Trần Đình Mười ra đi. Tôi xin chép đầy đủ bài thơ nầy, cũng là để tưởng niệm người bạn thân thiết của mình sau một năm bạn về miền miên viễn:
                        Như chim lạc đàn, bạn vội bay đi
                        Để lòng tháng Giêng buồn hơn tháng Chạp
                        Trời đã xuân sao tay đầy gió bấc
                        Trăng vừa rằm lại khuyết mất một bên
                        Sẽ không còn giọng ngâm ngọt thân quen
                        Tiếng vọng Hồ Trường bay qua lòng đất
                        Đem nụ cười xinh thay bằng nước mắt
                        Những mộng ước tròn bỗng hoá hư không
                        Thềm nhà xưa không còn những dấu chân
                        Mâm cơm ngày sẽ bớt đi đôi đũa
                        Vợ thức trông chồng chờ nghe gõ cửa
                        Chỉ thấy đêm dài chìm đáy vực sâu
                        Tiễn bạn một lời, bè bạn xót đau
                        Mây ngũ sắc xin về đây hội tụ
                        Mang bạn đi  cho gặm hoài nỗi nhớ
                        Xa bạn một đời, xa mãi từ đây
                        Bạn đi trước tôi, xin nhận một lạy này…
            Tôi thường thầm thì khấn câu cuối của bài thơ nầy khi đến viếng mộ bạn Trần đình Mười và những người bạn khác khi họ từ giã cỏi đời nầy.
            Ở hải ngoại nầy, cho ra đời một cuốn sách, một tập thơ thường đi kèm với sự trăn trở, không phải do khó khăn về vật chất mà là do sự đón tiếp: lặng ngắt, không nghe thấy gì cả, kể cả một lời chê cũng không có. Nhưng đối với nhà thơ của chúng ta: “Thơ đến với tôi tự nhiên như không khí, như hơi thở, như nắng, như mưa…” nên làm gì có sự toan tính ở đây, nhất là khi anh có người bạn đời, chị Nguyễn thị Mỹ Châu, mà đọc lời bạt ở cuối sách ta mới thấy hết được tấm lòng yêu thương, tin cậy chồng mình với những lời văn dí dỏm, nhẹ nhàng, thông minh, duyên dáng của người vợ miền Nam của anh.     
            Ngô Xuân Vũ

LỜI GIỚI THIỆU TRÂN TRỌNG


Sunday, February 9, 2014

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI - QUA DẤU BỤI THỜI GIAN - Thơ Trần Kiêu Bạc
(02/08/2014 10:03 PM) (Xem: 2)

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI



Cây bút quen thuộc của trang Web và Đặc San Biên Hoà và Trường Ngô Quyền chúng ta, anh Trần Kiêu Bạc, vừa tự xuất bản Tập Thơ QUA DẤU BỤI THỜI GIAN vào Đầu Xuân Giáp Ngọ 2014.
Theo ý tác giả thì Tập Thơ sẽ dành BIẾU KHÔNG cho Thầy Cô và bằng hữu trường Ngô Quyền và mở rộng thêm cho quý đồng hương Biên Hoà, những người Yêu Thơ và quý Sách.
Sách in lần đầu có hạn, chưa chắc thõa mãn hết những mong muốn của Quý Vị muốn có Tập Thơ nầy trong tay hay trên kệ sách gia đình nên có thể Quý Vị sẽ nhận Lời Xin Lỗi nếu như hết sách!
Ở Nam Cali và vùng phụ cận, xin liên lạc với anh Nguyễn Hữu Hạnh để  trao tay trực tiếp:
Địa chỉ e-mail: hanh50@yahoo.com
Cell phone: 714-443-1819
Ở xa hơn, xin e-mail cho tác giả : trankieubac@gmail.com  để nhận sách qua Bưu Điện lâu hơn một chút.
Chi phiếu ủng hộ lần in sách kế tiếp, nếu có, xin đề tên Nguyễn Hữu Hạnh và gởi về địa chỉ: 
Nguyễn Hữu Hạnh: 9340 Bolsa Ave Westminster, CA 92683 (Memo: Qua Dấu Bụi Thời Gian)XIN NÓI RÕ: KHÔNG BẮT BUỘC GỞI TIỀN ỦNG HỘ VÌ SÁCH BIẾU KHÔNG!
Theo anh Trần Kiêu Bạc thì Thơ được người đọc thưởng ngoạn và thông cảm đã là phần thưởng quý báu rồi thì hành động hay suy nghĩ liên quan đến “mua và bán” chỉ làm buồn lòng tác giả mà thôi!


 

Wednesday, January 29, 2014

.

Tết 3 miền có gì khác biệt

Nếu hoa đào, bánh chưng được xem là sứ giả mùa xuân miền Bắc thì phương Nam đón Tết với mai vàng, bánh tét; miền Trung ăn bánh rò, bánh thuẫn...
phongtuc3-9054-1390880538.jpg
Đồ họa: Tiêu Trung

Tuesday, January 28, 2014

.

Những phong tục đẹp khai xuân đầu năm

Viết thơ đầu năm, mừng nhau thêm một tuổi, đi lễ chùa, trồng cây là những phong tục khai xuân... có ý nghĩa cao đẹp đối với người Việt Nam, đem lại sự thiêng liêng và làm giàu đời sống tinh thần. 
.
Khai xuân – khai bút
Ngày xưa chưa có nghệ thuật nhiếp ảnh cũng như các phương tiện lưu giữ hình ảnh, cầm bút chính là cách để mỗi người giữ lại cảm xúc thời gian đón năm mới.
Khai xuân có nghĩa là khai sinh cho mùa xuân mới bằng ngôn ngữ thể hiện qua ngòi bút. Người khai xuân đại diện cho làng xã, công sở, trường học... phải là người có uy tín và thạo văn chương. Khai xuân bằng việc viết ra những câu thơ, câu văn, câu đối chứa đựng giá trị tổng kết của một năm cũng như cảm xúc về các giá trị đó và tiên đoán cho năm mới. Phong tục này hiện nay không còn nhiều vì sự mai một của văn chương.
Khai bút là cấp độ nhỏ hơn của khai xuân. Khai bút thể hiện cảm xúc của mình với mùa xuân, với năm mới một cách trịnh trọng tùy theo sở thích của mỗi người. Ngày xưa, các cụ thường khai bút vào lúc giao thừa, sau công việc cúng lễ trời đất. Đa số bài viết khai bút là thơ, bởi những câu thơ mới khơi gợi được nhiều cảm xúc và vì thế thơ thường đắt hàng vào dịp giao thừa.
Đối với người xưa, việc khai bút được trân trọng lắm. Sáng mồng 1 Tết, con cháu đến nhà để nghe ông đọc thơ Tết với tình cảm ngưỡng mộ. Ngoài việc làm thơ chúc Tết con cháu, các cụ còn viết thơ về cảm xúc mùa xuân rồi tụ họp ở nhà ngang bên đình làng bình thơ, và những bài thơ cứ thế lan tỏa.
Mừng tuổi ở miền Bắc và lì xì ở miền Nam
Mừng tuổi có ba ý nghĩa lớn, trước hết thể hiện mình là người lớn thương yêu trẻ em. Muốn thể hiện là người lớn thì phải có tiền để cho người bé, tức là người lớn mừng tuổi cho em bé. Khi em bé lớn rồi tự kiếm được tiền thì sẵn sàng từ chối tiền mừng tuổi.
mung-tuoi-4986-1390796821.jpg
Ảnh: Hoàng Hà
Ý nghĩa thứ hai là chúc mừng nhau thêm một tuổi mới, cách mừng tuổi này tạo nên sự kết nối tâm giao giữa những người thân trong nhà, trong làng xã và trong xã hội.
Ý nghĩa thứ ba là mừng thọ, con cháu đến mừng thọ ông bà, nếu ông bà khá giả thì mới lì xì cho con cháu, nếu ông bà nghèo thì mừng tuổi bằng lời chúc, con cháu lúc này ai có tiền thì kính biếu ông bà. Như vậy việc mừng tuổi ông bà có hai giá trị rất rõ đó là giá trị tinh thần và vật chất, trong đó giá trị tinh thần mới là quan trọng.
Đối với miền Nam chỉ có phong tục lì xì, chỉ còn rất ít gia đình giữ được phong tục mừng tuổi. Ngày nay ở miền Bắc, phong tục mừng tuổi vẫn còn nhưng cũng bị biến tướng đi nhiều.
Đi lễ ngày Tết
Ba địa điểm đình, chùa, quán là nơi người miền Bắc chọn để đến lễ ngày Tết, trong đó lễ đình thường dành cho cánh đàn ông, các bé trai, vì đây được xem là việc của làng nước. Trong những năm qua, nhiều ngôi đình đã bị hư hỏng, xuống cấp vì thế việc lễ đình không còn toàn diện như xưa kia.
Lễ quán dành cho phụ nữ và bé gái. Quán thường thờ những nhân vật có công với làng và có những sự tích thiêng liêng.
Riêng lễ chùa chỉ dành cho những người theo Phật giáo và mộ đạo Phật.
Phong tục đi lễ đình, chùa, quán là đời sống tâm linh ngày Tết có từ lâu đời ở nước ta. Ngày nay, chùa khá phát triển vì thế người ta đa phần chỉ còn nghĩ tới đi lễ chùa. Nhất là ở miền Nam, đa phần chưa có đình mà chỉ có chùa, vì thế việc đi lễ đình có khi còn khá xa lạ.
Khai cày - trồng cây
Với người nông dân, khai cày là công việc vô cùng quan trọng. Đường cày đầu xuân thể hiện sức lao động của con người chinh phục đồng ruộng. Chinh phục đồng ruộng là sức sáng tạo của cư dân nông nghiệp Việt Nam - những người làm nên nền văn minh lúa nước. Phong tục khai cày từ lâu đã không còn vì việc cày bằng trâu đã được thay bằng cày máy từ khi công nghiệp phát triển.
Về sau xuất hiện việc khai xuân trồng cây. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi động phong trào này. Những năm gần đây, phong tục trồng cây ngày xuân càng được phát triển rộng khắp.
Giáo sư, tiến sĩ Vũ Gia Hiề

Ý nghĩa từng loại trên mâm ngũ quả ngày Tết

Miền Bắc thường bày 5 loại quả có 5 màu sắc khác nhau theo Ngũ hành. Ở miền Nam, các loại quả trong mâm khi ghép lại trở thành những cái tên ý nghĩa, cầu mong sự thịnh vượng.

Mâm ngũ quả đặt trên bàn thờ tổ tiên dịp Tết theo 5 sắc màu tượng trưng cho mong ước được ngũ phúc: giàu có, sang trọng, sống lâu, khỏe mạnh, bình yên. Theo thuyết ngũ hành: Kim màu trắng, Mộc màu xanh, Thủy màu đen, Hỏa màu đỏ, Thổ màu vàng. Mâm ngũ quả thường theo 5 sắc màu đó để phối trí.
Miền Bắc thường bày 5 loại quả có 5 màu khác nhau như: chuối/táo màu xanh; bưởi (hoặc phật thủ), cam, quýt màu vàng; hồng hoặc táo tây, ớt màu đỏ; roi, mận, đào hoặc lê màu trắng; hồng xiêm (sapôchê) hoặc nho đen, măng cụt, mận màu đen.
Ở miền Nam, mâm ngũ quả thường thấy các loại mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung, dưa hấu, thơm… đọc chệch thành các tên "cầu vừa đủ xài" hoặc "cầu vừa đủ sung", kiêng kỵ những trái cây mang ý nghĩa xui rủi như chuối (chúi nhủi), lê (lê lết), cam (cam chịu)...
Ý nghĩa một số loại trái cây trong mâm ngũ quả ngày Tết
Mam-ngu-qua-ngay-Tet-6910-1390880261.jpg
Lê Phương

Sunday, January 26, 2014

Ngậm ngùi với Sông dài của năm 1959

.
TT - Một đời sống rất xưa cũ, một duyên tình ngang trái cũng rất cũ xưa vậy mà vẫn làm ngậm ngùi khán giả của hôm nay. Sông dài của năm 1959 vừa tái ngộ người mộ điệu trên sân khấu Hoàng Thái Thanh (TP.HCM) năm 2014.
Tình yêu nên thơ vừa kỳ diệu mà cũng vừa cay đắng của Lượm (Hồng Ánh đóng) và Niễng (Quý Bình) trong vở Sông dài - .
1 Niễng ngâm: “Sông dài cá lội biệt tăm”, còn Lượm thì nhất nhất phải là “sông dài con cá lội biệt tăm”. Cô lý giải “hễ có chữ con là thương. Vì mỗi lần tía kêu con Lượm đâu ra ăn mít là tía thương. Còn hôm nào tía giận thì tía nói mày không có ở nhà hả Lượm...”.
Niễng và Lượm - hai “con cá lội” trong tình yêu - một mù lòa và một dị dạng trên thân thể. Và hơn cả ý nghĩa của tình yêu ấy, Lượm hay Niễng đều là những cái tên của số phận, gắn liền với khiếm khuyết, nỗi buồn trong đời mà mỗi người đang mang. Chọn cách sống nào giữa những khiếm khuyết ấy là một câu trả lời không dễ... Lượm hồn nhiên, yêu đời; Niễng mang đầy sự mặc cảm, hoang mang... Tưởng “họ sinh ra để dành cho nhau”, để bù đắp cho nhau nhưng hóa ra không hẳn vậy. Tình yêu nên thơ này vừa kỳ diệu mà cũng vừa cay đắng, và dự cảm bất an đã đến gần khi Lượm được trời thương cho sáng mắt...
Cuộc tái ngộ của Sông dài với khán giả mộ điệu lần này được sự hưởng ứng khá bất ngờ, bởi ít ai nghĩ câu chuyện của năm 1959 ấy vẫn có thể sống động và cảm động đến vậy giữa thời đại này.
Không mang gánh nặng là “đàn em” của những phiên bản đi trước, Sông dài 2014 giữ nguyên câu chuyện (so với kịch bản được dựng năm 2001), nhưng xây dựng đường dây mới, bồi đắp chi tiết giàu hơn, làm chặt chẽ hơn cho số phận nhân vật và mối liên hệ ân oán giữa bốn nhân vật Niễng - Lượm - Hai Sa - Hai Tất.
Năm cảnh của Sông dài lần này đều là năm cảnh rất dài, đòi hỏi việc nuôi tâm lý và khả năng biểu diễn rất giỏi của diễn viên từ chính đến phụ. Các vai diễn tuy có số phận không đổi nhưng ít nhiều mang cá tính, tình cảm của những “người mới”. Tiêu biểu nhất là với Lượm của Hồng Ánh, ngộ nghĩnh, hồn nhiên so với Lượm ngọt ngào, nhu mì của Thanh Thủy trước kia. Quý Bình với lối diễn thiên về cảm xúc, dù chưa giỏi kỹ thuật nhưng cũng tìm riêng được cho mình một Niễng khác so với Niễng đã rất thành công của Thành Lộc và Khánh Hoàng. Hai Tất với sự cố gắng của diễn viên trẻ như Quang Thảo hay Hai Sa trong lối diễn điềm đạm nhưng sắc sảo của Ái Như đều là những vai hay, mới mẻ...
3 Ở thời điểm 2014, điều thú vị nhất của Sông dài có lẽ là việc khán giả có thể trải nghiệm lại không khí thập niên 1960-1970 của thế kỷ trước. Đó là thời của những thùng đạn đại liên hãy còn là gia tài quý giá, để cất giữ những thứ quan trọng của một người nghèo; là thời của phụ nữ với áo dài cổ thuyền Trần Lệ Xuân, tóc vấn cao; thời của giọng ca Giao Linh trĩu nặng, đầy mê hoặc với “thôi rồi còn chi đâu em ơi, có còn lại chăng dư âm thôi...”. Và trên radio mỗi chiều sau giờ xổ số, người ta còn có thể nghe những câu hát hồ hởi “Kiến thiết quốc gia/giúp đồng bào ta/xây đắp muôn người/làm nên cửa nhà”...
Bài hát Xổ số kiến thiết quen thuộc với người Sài Gòn một thời qua giọng ca Trần Văn Trạch đã được sử dụng như một bản tình ca, một biểu tượng tình cảm trong câu chuyện tình yêu của Lượm và Niễng, làm người xem thấy vừa cảm động, vừa có thêm góc nhìn, hình dung về tình yêu của người nghèo ngày xưa. Cũng bằng việc dùng thêm rất nhiều câu hò, ru, điệu lý, phương ngữ, thói quen sinh hoạt ở nông thôn/thành thị xưa vào đúng những đoạn diễn hay, làm vở diễn thêm sinh động, cho một hình dung chân thật và cảm động về tình cảm, đời sống của Nam bộ một thời.
Sức sống qua nửa thế kỷ
Kịch Sông dài - tác giả: Hà Triều Hoa Phượng, biên tập: Hoàng Thái Thanh, đạo diễn: NSƯT Thành Hội - có sự tham gia của các diễn viên: Ái Như, Hồng Ánh, Quý Bình, Quang Thảo, Ngọc Tưởng, Lương Duyên, Guillaume Faugere... được công diễn tại sân khấu Hoàng Thái Thanh vào Tết Nguyên đán 2014.
Đây là một trong số những kịch bản có đời sống dày dặn và đa dạng nhất trên sân khấu Nam bộ. Xuất phát từ cải lương vào những năm 1959, vở được hơn 20 đoàn cải lương dàn dựng lại. Năm 1990, lần đầu Sông dài được chuyển thể thành kịch nói do Mai Trần - Thương Tín dựng tại Nhà hát Kịch thành phố. Năm 2001, Hoàng Thái Thanh biên tập lại kịch bản, đạo diễn Ái Như dựng trên sân khấu IDECAF. Đến năm 2008, cải lương Sông dài diễn lại tại Sân khấu Vàng. Năm 2013 vở được chuyển thể thành phim truyền hình nhiều tập.
Các nhân vật Lượm, Niễng, Hai Tất, Hai Sa của vở gần như đã quen thuộc với khán giả, đều được đóng dấu bởi những tên tuổi lớn của hai sân khấu kịch và cải lương: NSND Út Trà Ôn, Hữu Phước, NSƯT Thanh Nga, NSƯT Thành Hội, NSƯT Thành Lộc, Khánh Hoàng, Thanh Thủy, Tú Trinh...
ĐỖ DUY

Saturday, January 25, 2014

Lá Thư Úc Châu
Dalai Lama: Share your knowledge. It is a way to achieve immortality
Nelson Mandela: "Không ai sinh ra mà đã ghét người khác vì màu da, nn giáo dc, và tôn giáo ca người đó. Mi người phi hc cách đ ghét. Và nếu người ta có th b hc cách đ ghét, h cũng có th được dy cách yêu thương, vì tình yêu thương đến vi con người t nhiên hơn là lòng căm ghét."
Xuân Giáp Ngọ
Trang Thơ Nhc cuối Năm: 25 tháng Chạp
Y Vân & Xuân Tiên: Mừng Xuân Mến Thương
Tiếng hát: Thái Thanh
Tình thân,
Kính.
NNS
..........................................................................................
Chuyện đầu Xuân
(1) Ts Đặng Huy Văn
Giáp Ngọ xưa - Giáp Ngọ nay
Giáp Ngọ xưa, năm 1954, dưới sức ép của Trung Quốc, đất nước ta đã bị chia cắt làm hai Miền. Cuối 1953, cụ Hồ đã ra sắc lệnh “phát động quần chúng Giảm Tô và Cải Cách Ruộng Đất” trên toàn Miền Bắc, dưới sự chỉ đạo sát sao của Đoàn cố vấn Trung Quốc do Mao Trạch Đông cử sang từ 1954 đến 1956. Kết quả, đã giết chết oan uổng được hơn hai vạn người vô tội bằng xử bắn, tự tử và bỏ đói. Từ đó trở đi, nhân dân ta đã bị coi thường tính mạng, và hơn 4 triệu người cả Bắc và Nam đã bị chết oan uổng trên chiến trường trong cuộc nội chiến hai mươi năm nồi da xáo thịt từ 1955 đến 1975 để giành quyền lực.
Hậu quả to lớn của cuộc nội chiến kinh hoàng và kéo dài đó đã rẽ chia dân tộc Việt Nam cho đến tận bây giờ và ngày càng bị lệ thuộc vào cộng sản Trung Hoa xâm lược. Ngày 19/1/1974 (Tết Giáp Dần), chúng đã xâm lược quần đảo Hoàng Sa từ tay VNCH mà đảng ta không hề lên tiếng phản đối. Ngày 17/2/1979, Trung Quốc đã xâm lược 6 tỉnh biên giới phía Bắc hơn một tháng. Ngày 14/3/1988, Trung Quốc đã xâm lược đảo Gạc Ma trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Năm nay Giáp Ngọ lại tới. Nhưng đất nước ta đã ngày càng bị lệ thuộc về chính trị và kinh tế vào giặc Tàu cộng sản! Chúng đang ra sức lấn đất rừng, lấn biển đảo bằng cách mua chuộc các nhà lãnh đạo nước ta bằng tiền bạc và hứa giữ ngai vàng quyền lực cho họ. Và mới đây nhất, chúng đã tuyên bố ngư dân Việt Nam không được đánh cá trên Biển Đông từ ngày 1/1/2014, nếu không có sự đồng ý của chính quyền đảo Hải Nam. Tiếc thay, chính quyền Hà Nội đã không lên tiếng phản đối, mà hôm qua,19/1/2014, còn cản trở không cho nhân dân ba miền trên cả nước tổ chức kỷ niệm 40 năm ngày Hải Chiến Hoàng Sa. Tôi hy vọng, qua tết Giáp Ngọ này, mọi thứ sẽ được thay đổi do sự đòi hỏi chính đáng của nhân dân cả nước.
Giáp Ngọ xưa - Giáp Ngọ nay 
(Chúc mừng Năm Mới Giáp Ngọ)
Giáp Ngọ xưa, Điện Biên Phủ lẫy lừng (1)
Bị Trung cộng xúi chia cắt đất nước
Khiến cả triệu giáo dân khóc tấm tức
Rời quê hương đi tìm bến tự do!
          Giáp Ngọ xưa, “bác” phát động Giảm Tô (2)
          Được Mao khuyên giết càng nhiều càng tốt
          Khiến lương dân cả Miền Bắc sửng sốt
          Bởi tai ương ập xuống quá bất ngờ!
Từ Giáp Ngọ, “yêu người” thành lẽ sống
Nên Cải Cách, “yêu nhầm” mấy vạn dân
Hai mươi năm, 4 triệu người ngã xuống
Bao dân lành vùi xác Tết Mậu Thân!
          Giáp Ngọ nay, nhà nhà buồn đón Tết
          Bởi xuân sang chưa biết sống thế nào?
          Cả triệu người đã đầu quân thân nghiệp
          Năm mới về không biết sẽ đi đâu?
Giáp Ngọ nay, giàu nghèo càng cách biệt
Có chức quyền kiếm ngàn tỷ như không
Còn nông dân vài triệu đồng cũng khó
Dù nai lưng cả sớm tối trên đồng!
          Giáp Ngọ nay, liệu có gì thay đổi
          Để cho dân đỡ nghẹt thở đón xuân?
          Hay nói thật cũng bị toà kết tội
         “Bao cao su, trốn thuế, phản nhân dân”?
Trộm hai vịt bị mười ba năm án (3)
Ngàn tỷ đồng chỉ tù có mấy năm
Giáp Ngọ nay, thượng tướng ăn hối lộ
Chẳng biết là có xử nổi hay chăng?
          Giáp Ngọ nay, Luật Đất đai sửa đổi (4)
          “Nguyễn y vân”, Quốc Hội đã thông qua
           Không biết những dân oan về đâu hỏi
           Hay được mời ra quần đảo Hoàng Sa?
Để Trung Cộng giúp đảng ta “giải đáp”
Theo “kiểu Tàu” nhằm giảm bớt dân oan
Cho đất nước “ổn định về chính trị”
Làm tăng nhanh lợi ích nhóm, tập đoàn!
          Để giặc Tàu kéo sang lừa đủ kiểu
          Từ hứa mua các loại quả trên đồng
          Đến nuôi chuột, cắt rễ tiêu, mua đỉa
          Mà chính quyền cứ im tiếng như không!
Để giặc Tàu vung tiền mua lãnh đạo
Nhằm trúng thầu, khai bô xít, thuê rừng
Biển Hoàng Sa Tết Giáp Dần cưỡng chiếm
Nay nghênh ngang đòi lấn trọn Biển Đông!
          Để giặc Tàu cấm ngư dân đánh cá
          Ngay chính trên Biển Đông của nước nhà
          Mà chính quyền vẫn như không hề biết
          Giống ngày xưa khi giặc cướp Hoàng Sa!
Giáp Ngọ nay, chúc nhân dân tỉnh giấc
Sau bao năm lạc lối giữa trời mê
Như các nước Đông Âu nhiều năm trước
Cùng Liên Xô theo đường lớn quay về!
          Giáp Ngọ nay, chúc các nhà lãnh đạo
          Hãy mau về với Tổ Quốc đồng bào
          Đừng tiếp tục theo giặc Tàu cộng sản
          Mà hổ danh với con cháu mai sau!
Giáp Ngọ xưa, buồn đau và thất vọng
Giáp Ngọ nay, mong sẽ đổi thay nhiều!
Xin kính chúc quý đồng bào sức khoẻ!
Để giữ gìn non sông Việt mến yêu…
(ĐangHuyVan - Hà Nội, 20/1/2014)

Chú thích & Tài liệu tham khảo:
(1). Giáp Ngọ Xưa, năm 1954 - Giáp Ngọ nay, năm 2014 /  (2). Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam / (3). Bùi Văn Bồng1: Trở lại "Vụ án 2 con vịt"
(4). Luật Đất đai sửa đổi được Quốc hội thông qua: Sáng 29/11/2013, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật Đất dai sửa đổi mà về cơ bản vẫn y nguyên (nguyễn y vân) Luật Đất đai khi chưa sửa đổi. (Source: ChinhLuan)

(2) Bs Hồ Hải
Cần hiểu đúng một cách Khoa học về Chủ nghĩa Marx Lenin
Nhiều thế hệ - đặc biệt ở các quốc gia cộng sản cầm quyền - lâu nay học chủ thuyết Marx và Lenin nhưng chưa hiểu nó là gì? Nghe người ta bảo nó là triết học thì cũng ừ, gật đầu, nó là triết học. Đó là sai lầm của nhiều thế hệ ở các nước cộng sản.
Thực chất, trong 3 bộ phận của chủ nghĩa Marx Engels gồm có: Duy vật biện chứng, kinh tế chính trị học và duy vật lịch sử, thì chỉ duy nhất có bộ phận duy vật biện chứng của Engels đúc kết - mà không có gì mới - từ các trào lưu triết học trước đó, rồi đem tặng cho Marx là triết học thực sự.
Duy vật biện chứng nó là một vốn quý của nhân loại, không ai có thể chối cãi được. Vì nó giúp cho nhân loại rất lớn trong phương pháp luận khoa học. Nhưng nó lại không phải là của Marx, mà nó là của Engels đúc kết lại, và tặng Marx để Marx làm nền tảng cho việc nghiên cứu, và đưa ra 2 bộ phận còn lại theo tình hình thực tế châu Âu giữa, cuối thế kỷ XIX.
Hai bộ phận còn lại như đã nói, là kinh tế chính trị học và lịch sử phát triển của các hình thái chính trị xã hội mà Marx đã "tưởng tượng" và đặt tên cho chúng. Nhưng sự tưởng tượng của Marx lại sai ngay trong cái đặt vấn đề và giải quyết vấn đề để đi đến kết luận của ông ta.
Marx đã dùng Duy vật biện chứng và sa đà vào đặt nền tảng cho chủ thuyết của mình là Vật chất quyết định Ý thức ngay từ đầu. Nhưng khi Marx đi vào Duy vật lịch sử, ông lại "tưởng tượng" một cách cảm tính mà không khoa học thực chứng. Với sự cảm tính đó Karl Marx đã đẻ ra một hình thái chính trị xã hội loài người sau tư bản là, chủ nghĩa cộng sản khoa học và chủ nghĩa xã hội là lúc loài người sống với nhau bằng Ý thức quyết định vật chất! Nên có thể gọi bộ phận thứ 3 của Marx Engels là Duy Tình Lịch Sử thì đúng hơn là Duy Vật Lịch Sử!
Và cũng vì sa đà quá nhiều vào duy vật biện chứng mà, chủ thuyết do marx đẻ ra đã quá sắc máu, thiếu nhân bản. Hệ lụy của chủ thuyết này đã đẻ ra hình thái chính trị độc đoán và tàn ác. Nó đã tạo ra những lãnh tụ cộng sản trên thế giới đã giết chết hàng trăm triệu nhân mạng từ chủ thuyết này. Ngày nay, nó đã trở thành di tích của lịch sử, mà không ai còn muốn nhắc đến, chỉ còn các chính khách vì tham vọng cá nhân dùng nó để phục vụ dục vọng xấu xa nhất của loài động vật bậc thấp.
Sai lầm này của Marx không phải là nhân loại không biết và chưa nghĩ đến, mà ngay từ nửa cuối của thế kỷ XVIII, tại Tân lục địa - Hoa Kỳ - các quốc phụ của nước Mỹ đã bắt đầu bằng cuộc cách mạng dân chủ tư sản 1776 lập ra nước Mỹ, trong cuộc cách mạng Trà. Từ đó, hình thành một hình thái chính trị xã hội hoàn hảo nhất, đúng với duy vật biện chứng nhất với hình thái chính tri đa nguyên và tản quyền. Và Hoa Kỳ đã đi trước cả Marx và Engels 72 năm. Mặc dù Marx và Engels đi sau, nhưng lại đi sai quy luật xã hội học. Vì mãi đến 1848 Marx và Engels mới cho xuất bản tư tưởng của mình, trong khi đó, 1776 các Quốc phụ Hoa Kỳ đã làm việc này.
Đến đầu thế kỷ XX, Lenin - một chính khách lỗi lạc đúng nghĩa - đã vớ phải lý thuyết của Marx và Engels lúc này đã quá lạc hậu với nền kinh tế công nghiệp ra đời từ giữa cuối thế kỷ XIX và hoàn thiện dần. Nhưng chủ nghĩa Marx và Engels lại có thể dụ dỗ được dân cùng khổ nhưng vô học. Lenin đã hoàn thiện nó thành bộ Lenin toàn tập và áp dụng ở Nga, rồi biến cả Đông Âu thành Liên Xô và các chư hầu. Lenin đã có "công lớn" khi ông kéo một nửa nhân loại quay về lại chủ nghĩa phong kiến tập quyền, với hình thái chính trị xã hội đơn nguyên tập quyền mà ông đã vẽ ra, nhưng với cái tên rất mỹ miều - chủ nghĩa xã hội. Nếu nước Pháp có Nã Phá Luân kéo người Pháp quay lại Phong kiến sau Cách Mạng Dân Chủ Tư sản Pháp 1789, để hơn một thế kỷ sau Pháp mới thoát ra khỏi phong kiến, thì tội của Lenin với nước Nga là đã kéo lùi Đế Quốc Nga quay về phong kiến 70 năm!
Song như đã nói ở trên, do Marx đã có tầm nhìn ngắn và do ông thiếu khả năng nghiên cứu khoa học, nên ông đã đặt nền tảng chủ thuyết là A quyết định B, và kết luận là B quyết định A, và cuối cùng những gì Lenin xây dựng đã bắt đầu sụp đổ tại ngay tại nơi ông sinh nó ra. Và cho đến ngày nay, chủ nghĩa Marx Lenin chỉ là con bài cho các chính khách dùng để bảo vệ ngai vàng kiếm ăn trên tổ quốc và dân tộc mình. Đó là bi kịch của Marx, Engels và Lenin để lại cho nhân loại thiếu hiểu biết trên toàn cầu. Dù lạc hậu, và sai lệch với nguyên lý khoa học, nhưng chủ nghĩa Marx Lenin cũng có công lớn là làm đối trọng để thế giới tư bản phát triển vượt bậc trong cuộc chạy đua giành quyền thống trị toàn cầu. Ngày nay, tư bản thắng và cộng sản thua thì ai cũng rõ. Nhưng tại sao cộng sản vẫn còn sống và tồn tại? Vì nó phục vụ cho lợi ích của giai cấp phong kiến kiểu mới cầm quyền. Nhưng nó sẽ sụp đổ và đi vào bóng tối là điều chắc chắn sẽ có trong tương lai gần. Vì nó phi khoa học và không thực tế.
Hy vọng với một chút sơ lược lại lịch sử hình thành về cả lý thuyết và thực tiễn xã hội học thế giới này sẽ giúp người nào chưa hiểu, nắm được cái chính của vấn đề sẽ nhận rõ chân giá trị của chủ nghĩa Marx Lenin. (Source: BsHoHai Blog - 23/01/2014)
(3) Tin đọc nhanh:
(i) BBC: Tìm cách kéo đổ tượng Lenin ở Hanoi
Một nhóm học viên Pháp Luân Công tại Việt Nam cho hay đã tìm cách kéo đổ tượng Lenin ở vườn hoa mang tên ông trên đường Điện Biên Phủ, Hà Nội, nhưng không thành. Trả lời BBC ngày 24/1, ông Nguyễn Doãn Kiên, một người nói là đã trực tiếp tham gia, cho biết sự việc diễn ra lúc 3h30 sáng ngày 23/1 và nhóm ông gồm có 4 người. Sau sự việc, ông Kiên đã đăng tải danh tính của cả bốn người trong nhóm của mình lên mạng và công khai thừa nhận rằng chính nhóm của ông đứng đằng sau vụ việc.
"Khi chúng tôi trèo lên tận nơi để thực hiện thao tác quàng dây cáp qua cổ bức tượng thì phát hiện ra là nó được lắp ốc vít bên dưới," ông nói. "Dây cáp của bọn tôi không đủ lực để kéo đổ bức tượng nên trong lúc kéo thì xảy ra sự cố khiến dây bị đứt nên bức tượng vẫn chưa đổ." Khi được hỏi về động cơ khiến nhóm của ông quyết định đi đến hành động nói trên, ông Kiên nói: "Thực ra việc kéo đổ tượng Lenin đã được thực hiện khắp nơi trên thế giới rồi." Những năm gần đây, viêc dỡ bỏ tượng Lenin đã xảy ra ở nhiều quốc gia muốn xóa bỏ dấu tích của quá khứ cộng sản. Mới đây nhất, hồi 8/12 năm ngoái, những người biểu tình đã kéo đổ tượng Lenin ở trung tâm thủ đô Kiev, Ukraine, để phản đối ảnh hưởng của Nga tại nước này. Cuối năm 2012, Mông Cổ cũng cho dỡ bỏ bức tượng Lenin cuối cùng khỏi thủ đô Ulan-Bator. Thị trưởng Ulan-Bator, ông Bat-Uul Erdene, lúc đó đã gọi Lenin và những người cộng sản là "lũ sát nhân".
"Việc vạch trần bản chất của cộng sản thì thế giới họ đã làm từ lâu rồi, nhưng ở Việt Nam không ai dám nói ra." "Cộng sản Việt Nam chỉ là một cái vòi bạch tuộc của Cộng sản Trung Quốc, mà Trung Cộng đã bức hại Pháp Luân Công bao năm nay rồi." "Bản chất cộng sản không thể cải biến được, mà chỉ có thể đào thải thôi."
Pháp Luân Công chưa được hoạt động hợp pháp tại Việt Nam và nhiều buổi tụ tập của các học viên Pháp Luân Công tại đây những năm qua đều bị giải tán. Hồi tháng 9 năm ngoái, sáu học viên Pháp Luân Công từ Việt Nam sang Trung Quốc cũng bị câu lưu nhiều ngày trước khi được trả về nước.
(ii) BVN: Luật gia Lê Hiếu Đằng qua đời
Sinh năm 1944, trút hơi thở cuối cùng vào 10g tối ngày 22 tháng 1 năm 2014, tại bệnh viện 115 (Sài Gòn). Lễ nhập quan sẽ được tiến hành vào lúc 9 giờ sáng ngày 23 tháng 1 năm 2014 tại Trung tâm Pháp y TP HCM, 336 Trần Phú, quận 5. Linh cữu được quàn tại chùa Xá Lợi, 89b Bà Huyện Thanh Quan, quận 3. Lễ di quan sẽ bắt đầu lúc 6 giờ sáng ngày 25 tháng 1 năm 2014 và sẽ hỏa táng tại Bình Hưng Hòa. Tro cốt của ông sẽ được gia đình và bằng hữu rải trên sông Sài Gòn.
Ông là một trong 72 người đầu tiên ký vào Kiến nghị 72 trong đợt sửa đổi Hiến pháp 2013.
và cũng  là một trong những người đi đầu trong phong trào biểu tình tại Việt Nam chống Trung Quốc xâm lược Biển Đông. Ông nói:“Việt Nam vi phạm nhân quyền khi trấn dẹp biểu tình chống Trung Quốc”.
Về phiên tòa xét xử hai nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình ngày 30/10/2012, ông nói: “Trấn áp không dập tắt được những tiếng nói yêu nước phản kháng”.
Ông khẳng định: “Việc đổi tên nước là thời cơ rất lớn để thay đổi một số điều trong hiến pháp, làm đòn bẩy cho sự phát triển của đất nước. Nếu vẫn như cũ thì rất tiếc, thời cơ qua đi.”
Vào tháng 8/2013, trong bài viết “Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh”, ông Lê Hiếu Đằng đã công khai nói lên những suy nghĩ của mìnhvề việc Đảng Cộng sản đã phản bội lý tưởng cách mạng, phản bội nhân dân, phản bội những người góp phần xây dựng nên chế độ, trong đó có ông, cũng như việc cần thiết phải dân chủ hóa, xây dựng thể chế đa đảng để cứu đất nước thoát khỏi tình thế nguy cấp hiện tại, kêu gọi thành lập chính đảng mang tên Đảng Dân chủ Xã hội tại Việt Nam.
Vào ngày 4 tháng 12 năm 2013, ông viết tuyên bố từ bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam vì theo ông, “Đảng Cộng sản Việt Nam bây giờ không còn như trước (đấu tranh giải phóng dân tộc) mà đang suy thoái biến chất, thực chất chỉ là đảng của những tập đoàn lợi ích, trở thành lực cản cho sự phát triển đất nước, dân tộc, đi ngược lại lợi ích dân tộc, nhân dân.”
Lời phân ưu:
  • Bauxite Việt Nam: Anh Lê Hiếu Đằng thân yêu!
    Thế là anh đã thực sự chia tay gia đình, người thân, bạn bè đồng chí, tất cả bạn đọc của anh, tất cả những người yêu mến kính trọng anh trong cộng đồng người Việt cả trong lẫn ngoài nước.
    Anh đã ra đi với lương tâm thanh sạch sau khi kịp tuyên bố ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam, chính đảng mà anh gắn bó, cống hiến gần hết đời mình cho sự nghiệp của nó suốt 45 năm trời, nhưng cuối cùng phải đau đớn chia tay khi thấy nó phản bội lại lý tưởng của chính nó, phản bội niềm tin của những đảng viên trung thực như anh, phản bội công ơn nuôi dưỡng của nhân dân Việt Nam trong gần một thế kỷ.
    Anh ra đi sau khi đã sòng phẳng công khai tính sổ đời mình, từ một sinh viên yêu nước đối mặt án tử hình của chế độ Sài Gòn vì tin ở chính nghĩa của cuộc chiến đấu được coi là chống Mỹ giành độc lập thống nhất cho đất nước, cho đến khi bừng tỉnh và đau đớn thấy thành quả cuộc chiến đấu ấy rơi vào tay một tập đoàn độc tài tham nhũng đang đưa đất nước vào tình trạng còn tồi tệ hơn cái chế độ mà anh đã góp phần đánh đổ, cho đến khi nhận rõ sự phá sản của chủ thuyết Mác-Lênin mà mình đã từng tin theo và thuyết giảng, nhận rõ sự không tưởng của cái gọi là chủ nghĩa xã hội rút cuộc chỉ là bánh vẽ để lừa bịp nhân dân, trở thành xiềng xích trói bước dân tộc đi tìm con đường ấm no hạnh phúc.
    Anh ra đi sau những năm tháng kiên quyết, dũng cảm đứng về phía những người yêu nước của thời kỳ mới, yêu nước đồng nghĩa với yêu tự do dân chủ, yêu nước là chống độc tài tham nhũng, chống các nhómđặc quyềntàn phá kinh tế quốc gia vì lợi riêng, yêu nước là chống lại sự bành trướng xâm lược của nhà cầm quyền Trung Quốc, vạch trần thực chất đen tối của “16 chữ vàng”, “quan hệ 4 tốt”.
    Anh Lê Hiếu Đằng thân yêu!
    Những bài viết, những lời phát biểu thẳng thắn, trung thực, có tình có lý, đầy nhiệt huyết của anh, một con người cảđời chiến đấu không mệt mỏi, không nản lòng cho độc lập của đất nước, cho tự do của người dân, cho dân chủ của xã hội, đã có tác động mạnh mẽ đến công luận, thức tỉnh không ít khối óc con tim của thanh niên, viên chức, cả những đảng viên Cộng sản. 
    Những ngày tháng trên giường bệnh của anh cũng là những ngày tháng anh chiến đấu quyết liệt, dứt khoát nhất chống chế độ độc tài toàn trị, những ngày tháng anh cống hiến trọn vẹn nhất cho tương lai nền dân chủ pháp quyền của đất nước. Đó cũng là những ngày tháng anh được chứng kiến tấm chân tình, lòng cảm mến của bao nhiêu bạn bè, đồng chí, của những người cùng tâm nguyện thuộc đủ tầng lớp trong, ngoài nước.
    Anh Lê Hiếu Đằng mến yêu!
    Bauxite Việt Nam ghi nhớ lời tâm sự sau cùng của anh với trí thức: “Trí thức luôn luôn phải đi đầu, phải giương cao ngọn cờ đấu tranh, phải dũng cảm, phá tan không khí sợ hãi bao trùm xã hội trong bao nhiêu năm”. Xin hương hồn anh yên nghỉ trong niềm tin các bạn bè, đồng chí của anh, các trí thức Việt Nam sẽ không phụ lòng tin yêu chứa trong lời nhắn gửi của anh.
  • Hạ Đình Nguyên: Anh đã từ biệt !
Anh thực sự đã yên nghĩ, đã khép lại một chu kỳ hoàn hảo : “Trăm năm trong cõi người ta”.
 Lúc nầy, chúng ta lại nhớ lời nói đầy ý nghĩa của con người nổi tiếng Mandela, đúng với trường hợp của Anh:
 "Cái chết là điều không thể tránh khỏi. Khi một người đã hoàn thành điều người đó coi là trách nhiệm với dân tộc mình, với đất nước mình, người ấy có thể yên nghỉ.”...
Anh đã để lại một tấm lòng, với sự chia sẻ của tất cả những ai yêu cuộc sống nầy, và yêu tận đáy lòng sự công bằng của một xã hội dân chủ. Anh đã đi bước đi tiền phong của một giai đoạn chuyển hóa, vượt lên trên và không để ý tới mọi hình thức o ép của chủ thể vô minh.
Những tiếng hô của sân hận và hẹp hòi từ đâu đó, giờ đây tiếp tục vô nghĩa.!
 Tất cả chúng ta đều nghe thấy tiếng sóng gào thét ở Biển Đông, tiếng gió độc rít lên từ phương Bắc. Vì nghĩa cả mà con người phải dấn thân. Lẽ nào, vì sự nhỏ nhen mà thân phận con người hóa thành cỏ rác ? Người Nhật Bản nắm chắc tay nhau sau cơn đại họa, mà chẳng tham của rơi. Lẽ nào trước nguy biến, lại tranh nhau bổng lộc không hơn kẻ dân đen “hôi bia” ngoài lộ ?
 Anh để lại sau một điều ray rứt :- một dân tộc, một đất nước, chẳng thể sống cùng nhau trong một góc trời mà lại không có cùng nhau một “khế ước” ? Thực dân, đế quốc còn trả lại cho dân tộc bị trị một Hiến Pháp sau khi cuộc đâm chém chấm dứt. Lẽ nào một đảng chính trị cầm đầu cuộc kháng chiến gian khổ đã thành công, lại lạm dụng thời cơ, áp đặt cho cả dân tộc phải sống đời đời dưới sự cai trị bởi một nhóm người nhân danh đảng ấy, dười hình luật do nhóm người ấy lập ra, sống cho tới già chết, bịnh chết và giao lại cho kẻ được chọn làm truyền nhân kế thừa ? Ở Việt Nam ngày nay lại mọc lên khá nhiều những ngọn núi Paektu để có những gióng máu thần thánh truyền ngôi ở các tỉnh thành.
Thật là buồn cười và đáng xấu hổ trong thời đại hôm nay !....
Anh Đằng,
Anh đã mong muốn và tích cực đấu tranh cho một xã hội dân sự được chuyển hóa theo cách hòa bình, như kiến nghị 72 mà anh ký tên trong đó. Anh mong muốn một xã hội dân sự vì đó là nền tảng vững chắc cho độc lập dân tộc, đó cũng là nền tảng để một quốc gia phát triển. Anh đã gởi lại tâm tình của mình trong những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời ngắn ngủi nầy, với tinh thần đấu tranh không ngừng, như rất nhiều người con dân yêu nước khác. Anh ra đi như họ đã ra đi, vì hai chữ độc lập – dân chủ. Thái độ chọn lựa cuối cùng của anh về một sự chia ly đã củng cố và làm sáng rõ lý tưởng mà anh đã trọn đời theo đuổi.
 Anh đã sống trọn vẹn với suy nghĩ của mình.
Anh không cô đơn. Anh nằm xuống có bạn bè chung quanh, có nhiều bạn trẻ tiếc thương anh và những giọt nước mắt.
 Trong khi anh nằm xuống, dân tộc vẫn bước tiếp cuộc hành trình về hướng dân chù! Tất cả vẫy chào anh trong niềm thân thiết. Anh có quyền an nghỉ...

  • Ts Hà Sĩ Phu: 
    Nằm bịnh vẫn suy tư, việc đảng vào ra, thương mẹ Việt Nam, son sắt không phai lòng HIẾU tử! 
    Biểu tình cùng kháng nghị, lòng dân sau trước, ghét quân Đại Hán, oai hùng cho xứng trận ĐẰNG giang!
    Hà Sĩ Phu, cùng các thân hữu Đà Lạt: Đoàn Nhật Hồng – Diệp Đình Huyên – Bùi Minh Quốc - Trần Minh Thảo - Tiêu Dao Bảo Cự – Mai Thái Lĩnh - Huỳnh Nhật Hải – Huỳnh Nhật Tấn – Nguyễn Quang Nhàn … đồng kính viếng.
  • Ts Đoàn Xuân Lộc ( Viện Global Policy, London) : Nhận ra "Đảng biến chất"
Dù biết rằng đâu đó có những người không thích ông Đằng vì ông là một người Cộng sản và từng tham gia phong trào đấu tranh chống chính quyền Sài Gòn trước năm 1975, nhưng chắc ít ai có thể phủ nhận rằng ông làm vậy chỉ vì ông tin rằng sự dấn thân của mình có thể giúp giải phóng Dân tộc và đưa Đất nước tới tự do, dân chủ.
Có thể nói, ông thuộc thế hệ mà có ai đó gọi là ‘thế hệ Vàng của cuộc Cách mạng Giải phóng Dân tộc, trong sáng, lãng mạn, tràn đầy lí tưởng’.
Và nếu nhìn lại cuộc đời của ông Lê Hiếu Đằng, công việc của ông, những băn khoăn, trăn trở của ông – đặc biệt trong những năm tháng cuối đời, được thể hiện qua ‘Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh’ được ông viết vào tháng 8/2013 – có thể thấy rõ điều đó.
Quả thực, ông là một người rất nặng lòng với Nước, với Dân và là một người ‘Cộng sản’ thực sự. Khác hẳn với những quan chức ‘cộng sản’ nhưng nhiều ‘tư bản’ – như biệt thự, xe hơi – ở Việt Nam, dù nhiều năm công tác trong Đảng với một chức vị khá cao ông chẳng có tài sản gì đáng giá. Trong một bài viết kể về chuyện đi thăm ông Đằng khi ông nằm viện được đăng trên trang Bauxite Việt Nam vào tháng 12/2013, một người bạn của ông Đằng là ông Hạ Đình Nguyên, nguyên Chủ tịch Uỷ ban Hành động thuộc Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, đã viết rằng cái nhà ông Đằng ‘chỉ có 3 thước bề ngang đã cho thuê, chỉ sống ở phần bếp đằng sau, không thể để lọt cái quan tài’.
Chính vì một lý tưởng trong sáng và một lối sống minh bạch như vậy, ông không thể chấp nhận khi thấy Đảng Cộng sản ‘trở thành lực cản cho sự phát triển đất nước, dân tộc, đi ngược lại lợi ích dân tộc, nhân dân’ như ông nhận định trong tuyên bố bỏ Đảng của mình. Cũng vì nhận ra rằng ‘đảng’ của ngày hôm nay là một ‘đảng của những tập đoàn lợi ích’, không còn là Đảng mà ông từng biết trước đây, trong những năm tháng cuối đời, ông liên tục lên tiếng chỉ trích đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản. Cùng lúc ông kêu gọi đa nguyên, đa đảng, đòi dân chủ, tự do và hạnh phúc cho người dân và độc lập cho đất nước.
Chẳng hạn, dù đang lâm trọng bệnh, ông vẫn chấp nhận trả lời phỏng vấn của BBC sau khi Quốc hội Việt Nam thông qua Hiến pháp sửa đổi. Trong cuộc phỏng vấn ấy ông nhận định rằng việc thông qua một bản Hiến pháp như vậy chứng tỏ ‘Quốc hội chỉ là bù nhìn chứ không có thực quyền, phản lại lợi ích quần chúng’.
Chuyện Quốc hội Việt Nam thông qua ‘một Hiến pháp đi ngược lại lòng dân, không có dân chủ, nhất là trong vấn đề ruộng đất’ cũng là ‘là giọt nước làm tràn ly’, khiến ông đi đến quyết định bỏ Đảng. Khi mạnh dạn, công khai lên tiếng đòi dân chủ, tự do, hạnh phúc cho dân, ông cũng đã trở thành một biểu tượng cho phong trào dân chủ trong nước. 
Việc nhiều giới – trong đó các nhân sỹ, trí thức và những ai muốn Việt Nam thay đổi – dành cho ông sự ủng hộ hay bày tỏ sự vui mừng, thán phục mỗi khi ông thẳng thắn đề cập đến các vấn nạn của Đất nước hay mạnh dạn kêu gọi giới lãnh đạo Việt Nam thay đổi và đặc biệt khi ông quyết định bỏ Đảng Cộng sản và kêu gọi thiết lập một chính đảng mới chứng minh điều đó.
Nhiều người đã bày tỏ lòng quý mến cũng như lo lắng khi biết ông lâm bệnh. Và chắc chắn trong những ngày tới sẽ có nhiều nhân sỹ, trí thức và những người đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam cũng như hải ngoại sẽ bày tỏ sự thương tiếc, cảm phục và biết ơn ông khi hay tin ông qua đời. Với họ, trong những năm vừa qua ông đã đóng một vai trò quan trọng trong việc cổ vũ dân chủ, tự do, nhân quyền ở Việt Nam. Là một quan chức với 40 năm là đảng viên, có nhiều đóng góp cho chế độ lại nắm rõ nội tình của Đảng, việc ông lên tiếng về các vấn đề đó và đặc biệt quyết định bỏ Đảng của ông chắc chắn đã và đang có nhiều tác động lớn đến phong trào dân chủ. Đây cũng là điều làm cho giới lãnh đạo Việt Nam cảm thấy khó chịu vì nó còn có tác động rất lớn lên xã hội Việt Nam nói chung và ảnh hưởng đến vị thế, vai trò của Đảng nói riêng.
Quan trọng hơn Đảng Cộng sản sợ những tiếng nói và quyết định của ông Lê Hiếu Đằng vì những hành động như thế có thể làm các đảng viên khác phản tỉnh và ‘tự diễn biến’. Đây là một điều mà Đảng luôn lo sợ, thường cảnh báo, chỉ trích và tìm cách ngăn ngừa. Với những kinh nghiệm từ Đảng Cộng sản Liên Xô trước đây, có thể Đảng Cộng sản Việt Nam nhận ra rằng ‘đối tượng’ phá hoại Đảng lớn nhất, làm Đảng sụp đổ không phải đến từ bên ngoài mà ngay từ trong Đảng. Vì vậy, Đảng luôn sợ và tìm cách ngăn ngừa mọi ‘diễn biến hòa bình’.
Và nếu trong tương lai giới lãnh đạo Việt Nam "tự diễn biến" và có những thay đổi quan trọng, tích cực như ở Miến Điện hay khi Đất nước thực sự có dân chủ, tự do các thế hệ sau sẽ không quên ông và những đóng góp của ông.
Có thể ông ra đi chưa thực sự an lòng vì bao điều dang dở, vì sau bao năm tháng dấn thân cho lý tưởng, theo và phục vụ Đảng cuối đời thất vọng nhận ra rằng lý tưởng trong sáng, tốt đẹp ban đầu ấy không mang đến kết quả như mình mong muốn, theo đuổi. Nhưng chắc chắn nhiều người sẽ không quên ông – một người ‘Cộng sản’ đích thực và là một con người rất nặng lòng với Nhân Dân, với Dân tộc và với Đất nước.
  • Bùi Chí Vinh:  Khóc Lê Hiếu Đằng
    Thắp nén nhang cho Lê Hiếu Đằng và nhìn di hài anh ở chùa Xá Lợi đêm Ông Táo về trời 23 tháng chạp, tôi có cảm giác môi anh mím lại như không cam chịu một cái chết được báo trước. Quá đau xót nên viết bài thơ này:
    Chết là hết hay chưa là hết
    Có người chết đi để được phong thần
    Có người chết đi để làm ma quỷ
    Nhưng anh chết đi để thành nhân dân
              Được phong thần chưa chắc đã không gian
              Thành ma quỷ vì sinh thời ở ác
              Anh bỏ triều đình về với nhân dân
              Nên khi chết vẫn quang minh lỗi lạc
    Giữa thời kỳ mạng người như rơm rác
    Cái chết chẳng qua một chuyến luân hồi
    Đã dám sống một đời bất khuất
    Thì chết cũng là bất tử anh ơi!
(iii) ICIJ (Liên hiệp Nhà báo Điều tra Quốc tế): People's Republic of (China) Offshore
Một cuộc điều tra lớn trên phạm vi quốc tế thu thập được nhiều tư liệu tài chính rò rỉ cho thấy ở Trung Quốc:
(i) Theo một số ước tính, lượng tài sản trị giá khoảng từ 1 nghìn tỷ tới 4 nghìn tỷ đôla đã bị tuồn ra khỏi Trung Quốc từ năm 2000. Hiện nay, 100 người trong danh sách giàu nhất Trung Quốc có tổng tài sản lên tới trên 300 tỷ đôla, trong khi khoảng 300 triệu người còn ở mức thu nhập dưới 2 đôla/ngày.
(ii) Nhiều nhân vật quyền thế trong hệ thống chính trị Trung Quốc đã lập ra các công ty và tài khoản đặt tại Cook Islands hoặc British Virgin Islands là những nơi bị coi là "Thiên đường thuế" vì có điều kiện trốn thuế dễ dàng. Có ít nhất 15 người thuộc danh sách giàu có nhất Trung Quốc, đại biểu Quốc hội cũng như lãnh đạo các công ty nhà nước bị vướng cáo buộc tham nhũng. Cáo buộc rửa tiền của các “Thái tử Đảng” Trung Quốc, đặc biệt là ở British Virgin Islands đã đặt ra câu hỏi: "Có hay không những quốc gia có thể chế chính trị giống Bắc Kinh theo gót chân họ, như Việt Nam, Triều tiên....".
Điểm đáng chú ‎ý là trong danh sách "đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI)" mà Bộ Kế Hoạch và Đầu tư Việt Nam công bố, British Virgin Islands, nơi bị cho là điểm rửa tiền chính của Thái tử Đảng TQ, cũng chính là nơi đã đầu tư vào Việt Nam 15 tỷ USD, tính đến cuối năm 2012. 
Nếu tính thêm nơi thứ hai là Cayman Island thì tổng số tiền đầu tư vào Việt Nam từ nhiều nguồn khác nhau lên tới 23 tỷ và nếu tính tất cả các hòn đảo nhỏ, lên tới 30 tỷ USD, tương đương 14% tổng FDI vào Việt Nam tính tới cuối 2012.
Tiến sĩ Vũ Quang Việt, cựu chuyên gia thống kê của Liên Hợp Quốc nhận định: “Từ Việt Nam, ngoài cách xách tiền bằng vali, cách chuyển được làm phổ biến là đầu tư vào bất động sản, rồi đem bán và chuyển chính thức sang nước ngoài, khi đã định cư được một người trong gia đình ở nước ngoài. Đi du học rồi cưới người bản xứ là cách định cư người ra nước ngoài. “Cách làm này là cách làm cò con”, ông Việt nhận định.
Tiến sĩ Việt mô tả "Cách làm lớn của các đại gia" là mở công ty ở British Virgin Island hay Caymans Islands. “Các đại gia sẽ không cần chuyển tiền lậu ra nước ngoài, vì có thể bị bắt, mà mở công ty. Khi công ty đã được mở ở British Virgin Island hay Caymans Island, công ty của họ chỉ cần gửi hóa đơn tính dịch vụ phí một công ty ở Việt Nam (Hóa đơn dịch vụ). “Đồng tiền đen (tham nhũng) ở Việt Nam theo đó sẽ được chuyển ra ngoài một cách hợp pháp. “Các công ty này khi có đủ tiền thì lại đầu tư  lại vào Việt Nam, tức là đưa tài sản ngược lại Việt Nam, hợp pháp hóa toàn bộ số tiền tham nhũng. “Với tài sản có sẵn, họ lại thu mua các công ty nhà nước được cổ phần hóa (với giá rẻ mạt), điều đã từng xảy ra ở Nga và Trung Quốc”...
(v) Cuộc điều tra cũng phát hiện rằng các tập đoàn PricewaterhouseCoopers, UBS, Credit Suisse và một số ngân hàng phương Tây khác đã đóng vai trò môi giới tí́ch cực cho các khách hàng Trung Quốc thiết lập tài khoản ở ngoại quốc. Ba tập đoàn dầu khí hàng đầu của Trung Quốc: CNPC, Sinopec và CNOOC - đều có quan hệ với hàng chục công ty đặt tại British Virgin Islands và các nơi khác...
(iv) Hùng Cường (VOV): Trung Quốc có thể bị Mỹ đánh bại trong vòng 1 giờ, theo Tạp chí Expert 
Theo nhận định của tạp chí Expert (Nga) có trụ sở đặt tại Moscow, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) có thể bị đánh bại chỉ trong 1 giờ nếu xảy ra 1 cuộc chiến tranh hạt nhân toàn diện giữa Trung Quốc và Mỹ.
Các chuyên gia quân sự trên thế giới đã không ít lần cảnh báo Mỹ không nên đánh giá thấp năng lực hạt nhân của Quân đoàn pháo binh số 2 – lực lượng tên lửa chiến lược của Trung Quốc. Tuy nhiên, bài viết được đăng tải trên tạp chí Expert cho rằng, nhiều công nghệ mà quân đội Trung Quốc hiện đang sử dụng có từ thời Liên Xô cũ. Theo tạp chí Expert, công nghệ tiên tiến nhất mà các lực lượng hạt nhân của Trung Quốc đang áp dụng là những công nghệ có từ năm 1991.
Trên thực tế Trung Quốc vẫn chưa thực sự xây dựng được năng lực hạt nhân “3 mũi nhọn” có khả năng thách thức Mỹ, bao gồm: (i) các loại máy bay ném bom chiến lược, (ii) tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) và (iii) tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm. Quân đoàn pháo binh số 2 cũng không thể cạnh tranh với Mỹ về số lượng đầu đạn hạt nhân hiện có. Do đó, theo Expert, Trung Quốc có khả năng sẽ bị đánh bại trong một cuộc chiến tranh hạt nhân toàn diện với Mỹ chỉ trong vòng chưa đầy 1 giờ.
Chuyên gia Vasily Kashin của Trung tâm Phân tích chiến lược và công nghệ có trụ sở ở Moscow nhận định rằng, tên lửa liên lục địa Đông Phong-5 (DP-5) hiện được trang bị cho Quân đoàn pháo binh số 2 có khả năng bắn tới Mỹ. Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ phải mất ít nhất 2 giờ chuẩn bị để có thể tiến hành phóng DF-5, như vậy cũng đồng nghĩa với việc DF-5 có thể dễ dàng bị tiêu diệt ngay khi còn ở trên bệ phóng. Trong khi đó, tên lửa DF-4 chỉ có tầm bắn 5.500 km, như vậy sẽ không thể bắn tới lãnh thổ Mỹ.
Cũng theo tạp chí Expert, Trung Quốc đang phát triển loại tên lửa DF-31A, với tầm bắn lên đến 11.000 km. Loại tên lửa này có thể đe dọa các mục tiêu thuộc vùng biển phía tây nước Mỹ, bao gồm cả thành phố Los Angeles, bang California.
Tuy nhiên, Mỹ lại có ít nhất 2.000 tên lửa đạn đạo tiên tiến có khả năng tương tự như DF-31A. Bên cạnh đó, cả DF- 31 và DF-31A bị giới hạn chỉ có thể mang theo 1 đầu đạn hạt nhân.
Tạp chí Expert cho rằng, Trung Quốc hiện đang đầu tư nguồn lực để phát triển thế hệ tên lửa DF-41 có tầm bắn 14.000 km. Một quả tên lửa DF-41 có khả năng mang theo nhiều đầu đạn hạt nhân, mặc dù vậy, theo các chuyên gia, quân đội Trung Quốc không thể được trang bị loại tên lửa mới này trong tương lai gần. Theo nhận định của các chuyên gia, phải mất ít nhất từ 20 đến 30 năm để Trung Quốc có thể triển khai tên lửa đạn đạo thế hệ mới này cho tiền tuyến sau khi khởi động các cuộc thử nghiệm đầu tiên.
Đề cập đến thế hệ tầu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo Type 094 lớp Jin của Trung Quốc, bài báo cho biết, Type 094 được trang bị tên lửa JL-2 có tầm bắn 8.000km. Tuy nhiên, theo các chuyên gia phân tích của Lầu Năm Góc, tàu ngầm Type 094 chỉ có thể sánh ngang với các tàu ngầm của Liên Xô trong những năm 1970. Ngoài ra, sẽ phải mất ít nhất 5 năm nữa, chiếc tàu ngầm hạt nhân lớp Jin đầu tiên mới có thể bắt đầu phục vụ trong biên chế hải quân Trung Quốc.
Trong khi đó, Trung Quốc cũng có 1 trung đoàn máy bay ném bom chiến lược H-6K được thiết kế dựa trên nguyên mẫu là chiếc máy bay ném bom Tupolev Tu- 16 của Liên Xô – loại máy bay lần đầu tiên được sản xuất vào những năm 1950. Theo tạp chí Expert, dù H-6K đã được nâng cấp với động cơ D- 30KP và tên lửa hành trình CJ- 10 nhưng Trung Quốc vẫn chưa thể phát triển loại đầu đạn hạt nhân cỡ nhỏ để trang bị cho loại máy bay ném bom chiến lược này.
(v) Hiroyuki Noguchi (Chuyên gia Nhật): Cam Ranh là khắc tinh của “đường lưỡi bò”
Lê Trí: Theo Hiroyuki Noguchi  với địa thế hiểm yếu và độc đáo đặc biệt trên “bàn cờ” toàn khu vực Đông Nam Á, vịnh Cam Ranh của Việt Nam có thể là “thanh kiếm sắc” chặn đứng mưu đồ “thò” ra Biển Đông của “đường lưỡi bò” do Trung Quốc tự vẽ.Trong bài viết mới đây trên nhật báo “Sankei Express” của Nhật Bản, chuyên gia bình luận chính trị Hiroyuki Noguchi đã thẳng thắn vạch ra âm mưu đen tối của Bắc Kinh khi đơn phương vẽ ra cái gọi là “đường chín đoạn” (đường lưỡi bò) bao trùm tới 80% diện tích Biển Đông, bao gồm cả 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, để tuyên bố chủ quyền lãnh hải của họ.
Hiroyuki Noguchi viết, “Đáng chú ý là nếu dùng một cái que xiên lưỡi bò này từ Đông sang Tây, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra Trung Quốc đang có ý đồ nhòm ngó hai quân cảng quan trọng là Cam Ranh của Việt Nam và Subic của Philippines”.
Năm 2012, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã nhấn mạnh đến mối quan hệ tốt đẹp Việt-Mỹ trước các tướng lĩnh trên tàu hậu cần của Hải quân Mỹ khi đó đang neo đậu tại vịnh Cam Ranh. Năm 2012, Việt Nam cũng cho biết sẽ chấp nhận để tàu chiến Nga neo đậu ở Cam Ranh.Trong bối cảnh đó, Việt Nam tuyên bố chính thức mở cửa cảng Cam Ranh cho các tàu quân sự như tàu sân bay và tàu ngầm nước ngoài neo đậu. Một khi cả Nga và Mỹ đều sửa chữa và tiếp vận ở vịnh Cam Ranh thì hiệu quả kiềm chế Trung Quốc là rất lớn.
Theo “gợi ý” của ông Hiroyuki Noguchi, nếu kết hợp với vịnh Subic của Philippines, Cam Ranh sẽ tạo thành 2 cánh kéo sắc có thể khống chế sự bành trướng của đường lưỡi bò. Năm 2010, Việt Nam và Philippines đã ký bản ghi nhớ hợp tác quốc phòng.“Khi cả Hà Nội và Manila cùng tăng cường thế trận “chung chiến hào” để phản đối đường lưỡi bò của Trung Quốc, các cường quốc ở Thái Bình Dương như Mỹ, Nhật Bản và Australia sẽ phải tính chuyện sử dụng sao cho hiệu quả nhất cả hai quân cảng Cam Ranh và Subic trong thế trận này”, ông Hiroyuki Noguchi kết luận.
(4) Ngô Minh
Nhân giỗ lần thứ 19 nhà thơ Phùng Quán (1995-2014)   
 LỜI MẸ DẶN: Tuyên Ngôn Của Người Cầm Bút

 Bài thơ “ Chống tham ô lãng phí “ trong Giai phẩm mùa Thu số I (9-1956) của Phùng Quán được những nguời cực đoan thời đó đánh giá là một bài thơ “nói xấu chế độ”, “chống đảng”, là “phản động”. Sau nhiều lần học tập, viết bản tự kiểm điểm, bị “đấu tố” gay gắt , Phùng Quán có nguy cơ bị khai trừ ra khỏi Hội Nhà văn, bị đưa ra khỏi biên chế Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nơi anh đã dấn thân theo Vệ Quốc đoàn từ tuổi thiếu niên, rồi phải đi “lao động cải tạo” nhiều năm. Thực tế gần một năm sau, tức đến năm 1958 những hình thức kỷ luật này mới được thi hành, nhưng lúc đó ai cũng đã biết trước bản án dành cho “bọn nhân văn”. Đối với người miền Nam xa quê hương , thân cô thế cô giữa phố phường Hà Nội như Phùng Quán, nguy cơ bị kỷ luật như thế là rất đáng sợ. Bị coi là “phản động”, ai cũng tìm cách xa lánh, lại bị tách khỏi môi trường lính quen thuộc, xa đồng chí, bạn bè dễ làm người thanh niên trẻ tuổi dễ trở nên hoang mang tuyệt vọng , dễ dẫn đến bệnh tâm thần hoặc tìm đến cái chết. Nhưng Phùng Quán thì không. Anh vẫn sống và sáng tác hay hơn, quyết liệt hơn. Sau khi báo Nhân Văn-Giai phẩm bị đình bản, năm 1957, Nhà nước cho phép Hội Văn nghệ xuất bản tuần báo Văn do nhà văn Nguyễn Công Hoan làm chủ bút với mục đích chấn chỉnh lại tình hình văn nghệ lúc ấy.  Phùng Quán đã xuất hiện trên báo Văn số 21, ra ngày 27-9-1957 với bài thơ Lời mẹ dặn gây xôn xao dư luận. Lập tức bài thơ được nhiều người chép, thuộc như là một tuyên ngôn sống, tuyên ngôn cầm bút của văn nghệ sĩ . Nhưng bài thơ một lần nữa lại làm cho Phùng Quán lâm vào tai tương nặng hơn.
  Lời mẹ dặn là bài thơ tự sự rất dễ hiểu, dễ thuộc, không có gì mới lạ về cấu trúc, ngôn ngữ thơ, không có gì là “biểu tượng hai mặt” cả. (“Biểu tượng hai mặt” là cụm từ mà thời đó hay dùng để những tác phẩm văn học “có vấn đề”, thực ra văn chương càng đa nghĩa mới hay). Nhưng Lời mẹ dặn lại chứa đựng một tư tưởng nhân văn cực kỳ lớn lao, thể hiện bản lĩnh cao cường của tác giả trước cuộc đời. Vì thế nó đã trở thành một “kiệt tác” thơ Việt thế kỷ XX. Mở đầu bài thơ, nhà thơ kể chuyện tỉ tê rất văn xuôi như không có gì đáng chú ý : “Tôi mồ côi cha  năm hai tuổi/ Mẹ tôi thương tôi không lấy chồng…/ Ngày ấy tôi mới lên năm/ Có lần tôi nói dối mẹ/ Hôm sau tưởng phải ăn đòn /
              Nhưng không mẹ tôi chỉ buồn / Ôm tôi hôn lên mái tóc…
                Con ơi...trước khi nhắm mắt / Cha con dặn con suốt đời / Phải làm một người chân thật

Đến đây thì  tư tưởng bài thơ bắt đầu xuất hiện. “Mẹ ơi chân thật là gì ?”- Đúng là câu hỏi rất ngây thơ của một đứa trẻ lên năm, nhưng lại là một câu hỏi lớn, rất khó trả lời đối với không ít người lớn giữa trường đời đen bạc. “Chân thật”, bản tính hồn nhiên của con người đang bị méo mó, mai một, biến dạng dần đi do mọi người phải tìm cách bon chen, nịnh hót, nói dối, lừa lọc để tồn tại hoặc để được vinh thân phì gia. Thậm chí có người đã không chân thật rồi, lại còn ghét những người chân thật. Tục ngữ ta có câu “Nói thật mất lòng”. Đó là thực tế vô cùng trớ trêu của con người. Nhớ lời mẹ dặn, từ nhỏ, người lớn hỏi Phùng Quán:” Bé ơi, bé yêu ai nhất ? – Bé yêu những người chân thật. Từ chỗ phải làm người chân thật đến  thái độ “yêu những người chân thật” là đi từ mình đến xã hội rộng lớn.
                      Mẹ tôi hôn lên đôi mắt / Con ơi một người chân thật
                           Thấy vui muốn cười cứ cười / Thấy buồn muốn khóc là khóc

Câu giải thích bước đầu  của người mẹ cho con vô cũng dễ hiểu. Thấy vui muốn cười là cười- thấy buồn muốn khóc là khóc. Nhưng đó là một chân lý sâu xa, một phương ngôn sống. Vì con người từ khi lọt lòng mẹ là thế, đó là bản tính tự nhiên không thể khác được. Nhưng chân lý giản đơn ấy làm nhiều người  ngạc nhiên tán thưởng, bởi vì đã từ lâu trong xã hội ta con người luôn sống ngược lại với ý  nghĩ của mình, không dám nói thật ý nghĩ của mình. Có khi vui mà dối lòng không cười được. Khi buồn lại nén lòng mà cười để mong làm vui lòng người khác. Sống dối lòng như thế con người dần dà bị biến thành một kẻ dối trá! Một người dối trá. Trăm người dối trá. Triệu người dối trá. Một xã hội người dối trá!
Sau cười khóc hồn nhiên là đến chuyện yêu ghét, một cấp độ cao hơn của thái độ và nhận thức, ứng xử của con người trong cộng đồng:
                     Yêu ai cứ bảo là yêu / Ghét ai cứ bảo là ghét.
 Nhắc đến nhà thơ Phùng Quán là người ta nhớ ngay đến “Yêu ai cứ bảo là yêu- Ghét ai cứ bảo là ghét”. Hai câu đó đã thành biểu tượng tinh thần, ý chí của anh. Yêu ghét rạch ròi là thái độ sống của người quân tử, của kẻ sĩ ở đời. Thái độ dứt khoát thể hiện ở động từ “ cứ bảo”. Cứ bảo là nói ngay, nói không cần đắn đo, suy tính. Nhưng sự đời không phải bao giờ cũng “ Yêu ai cứ bảo là yêu- Ghét ai cứ bảo là ghét” được, mà có rất nhiều sức ép buộc con người phải nói khác ý mình đi, dối trá, biến mình thành tôi tớ, “nói theo nói leo” làm lợi cho những người có thế lực có tiền bạc. Vấn đề là anh có đủ dũng khí để yêu là nói yêu, ghét là nói ghét hay không. Đoạn thơ sau đây là một cung bậc cao hơn, có thể gọi là thái độ bất khuất, không chịu luồn cúi của tác giả trước những thế lực cường quyền:
                       Yêu ai cứ bảo là yêu / Ghét ai cứ bảo là ghét
                             Dù ai ngon ngọt nuông chiều / Cũng không nói yêu thành ghét
                             Dù ai cầm dao doạ giết / Cũng không nói ghét thành yêu

Đây là đoạn thơ hay nhất trong bài thơ, đã thành chân lý vĩnh  hằng trong lòng người yêu thơ Việt Nam từ 50 năm qua, đọc lên nghe như kinh nguyện. Nói yêu thành ghét- nói ghét thành yêu chính là bản chất của những kẻ cơ hội, tâm địa xấu xa, hèn yếu. Chỉ cần kẻ xấu “ngon ngọt nuông chiều”, hứa hẹn tiền tài địa vị hoặc “cầm dao doạ giết” là ngoan ngoan nói và làm theo chúng. Lịch sử Việt Nam đã có nhiều danh nhân vĩ đại nêu tấm gương trung nghĩa, không khuất phục trước cường quyền như Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Quốc Toản, Cao Bá Quát, Lê Lợi, Trương Định, Vua Hàm Nghi.v.v..cùng hàng ngàn chiến sĩ kiên trung trong các nhà tù hay trên  các pháp trường của thực dân đế quốc trong hai cuộc kháng chiến…Chỉ mấy câu thơ của Lý Thường Kiệt  trước quân nhà Tống phương Bắc cách đây gần 1000 năm thôi, cũng đủ nói lên ý chí chí đó của người quân tử nước Nam : Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư / Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm / Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư . Ngược lại, nhiều việc nói theo người cầm quyền, làm theo ý đồ ngoại bang đã gây ra nhiều thảm hoạ đau thương cho nhân dân, đất nước. Từ chỗ sợ sệt, người ta trở nên hèn nhát. Một thời xứ ta sinh ra không ít “trí thức hèn”, “nhà văn hèn”. Những “Đại nhân hèn” ấy chỉ cần chìa ra trước mặt một ít bổng lộc, một tí chức tước quèn thôi đã không dám mở miệng nói chính kiến của mình, dù biết cấp trên nói sai, làm sai, vẫn ngoan ngoãn vâng lời. Cứ như thế ở xứ ta  đã đào tạo ra nhiều thế hệ “người hèn” ”gọi : dạ, bảo: vâng”, không còn tính độc lập suy nghĩ của người quân tử.
Từ chuyện “chân thật”, “khóc cười”,“yêu ghét”, nhà thơ đã đưa người đọc đến bản lĩnh người cầm bút. Đây là mục tiêu cuối cùng mà bài thơ muốn đạt tới:
             Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi / Đứa bé mồ côi thành nhà văn
               Nhưng lời mẹ dăn thuở lên năm / Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ
               Người làm xiếc đi trên dây rất khó / Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn / Đi trọn đời trên con đường chân thật

Đoạn thơ này chứng tỏ Phùng Quán nhận thức rất rõ một điều : Vì làm nhà văn chân thật là rất khó, nên đã có không ít nhà văn không đi trọn đời trên con đường chân thật. Trước sức ép của cường quyền, nhiều nhà văn đã  cam tâm “bẻ cong ngòi bút”, phục vụ cho những mục đích xấu xa. Ca ngợi cái xấu, đả kích cái tốt. Nhà thơ Xuân Sách đã vẽ rất chính xác chân dung méo mó, khốn khổ của hàng trăm nhà văn Việt Nam một thời qua tập thơ Chân dung nhà văn, vì lý do này lý do khác, đã không đi trọn đời trên con đường chân thật! Còn Phùng Quán thì tuyên chiến với thói nịnh bợ, giả dối:
                   Tôi muốn làm nhà thơ chân thật / Chân thật trọn đời
                        Đường mật công danh không làm ngọt lưỡi tôi / Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
                        Bút giấy tôi ai cướp giật đi / Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

 Bài thơ lớp lang, đầy triết lý “sống thật, yêu thật, nói thật, viết thật”, thật đến tận cùng. Đoạn kết bài thơ là một tuyên ngôn sống, tuyên ngôn thơ. Mới 25 tuổi đời mà viết như thế là bản lĩnh, tiết tháo lắm lắm. Điều đáng khâm phục hơn là Phùng Quán suốt cuộc đời mình cho đến khi “nằm dài dưới đáy huyệt” đã sống như thế, viết như thế. Năm 1984, gần 30 năm, khi về thăm quê nội Huế, trong tiểu thuyết tình 13 chương bằng thơ “Trăng Hoàng Cung” , Phùng Quán một lần nữa nhắc lại tuyên ngôn này trong bài thơ “Tôi thích viết trên giấy có kẻ dòng”: Là nhà văn / Tôi yêu tha thiết / Sự ngay thẳng tột cùng / Ngày thẳng thuỷ chung / Của mỗi dòng chữ viết.
50 năm qua, bài thơ “Lời mẹ dặn” đã trở thành tài sản tâm hồn của bao thế hệ thanh niên Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc. Hồi tôi  sưu tầm tài liệu để biên soạn cuốn “ Nhớ Phùng Quán”( NXB Trẻ, 2002), nhạc sỹ Phạm Duy ở nước ngoài đã gửi bản nhạc phổ bài thơ Lời mẹ dặn của Phùng Quán in trong tập“Tập nhạc Phạm Duy”(NXB Hồng Lĩnh USA, 1994) về cho nhà văn Nguyễn Đắc Xuân, nhờ chuyển cho chị Vũ Thị Bội Trâm với lời đề tặng “Kính tặng gia đình Phùng Quán”. Tôi đã coppy một bản để in vào sách,  Nhưng bài hát này không nằm trong quy định các bài hát của Phạm Duy được hát của Bộ Văn hoá thông tin lúc đó, nên thôi. Mới đây, Trung tâm Văn hoá doanh nhân và  Nhà xuất bản giáo dục đã tổ chức bình chọn 100 bài thơ Việt hay nhất thế kỷ XX. Tuy việc bình chọn thiếu chuẩn mực, có nhiều ý kiến không đồng tình với cách chọn và nhiều  tác giả thơ,  nhiều bài thơ được chọn không xứng đáng là thơ hay, chứ chưa nói “ hay nhất thế kỷ”. Nhà thơ Bằng Việt cho rằng chỉ 50% bài thơ là hay, còn  nhà thơ Trần Mạnh Hảo thì nói” đó là tập thơ” 30 bài thơ hay và 70 bài thơ dở của thế kỷ XX”. Nhưng việc chọn bài thơ Lời mẹ dặn của Phùng Quán là một trong những “bài thơ Việt hay nhất thế kỷ XX”, theo tôi là hoàn toàn chính xác. Thế nhưng, khi bài thơ ra đời, đã có nhiều nhà phê bình cho là bài thơ “mang biểu tượng hai mặt”, với ý đồ xấu. Ô hay, văn chương càng đa nghĩa càng hay, sao chỉ mới “hai mặt” đã  kêu.  Trong bài “Vạch thêm những hoạt động đen tối của một số kẻ cầm đầu trong nhóm Nhân văn-Giai phẩm” của Từ Bích Hoàng in trên Văn nghệ Quân đội số 5 (5/1958) có đoạn:” Phùng Quán làm bài thơ Lời mẹ dặn , Trần Dần, Văn Cao kéo Quán đi khao chả cá. Văn Cao khen :” Phùng Quán viết khá, không đánh vào hiện tượng mà đả thẳng vào bản chất. Những sáng tác kiểu hai mặt như thế nhan nhản ra đời…”. Có tờ báo lớn còn in hẳn bài thơ “ Lời mẹ dăn- Thật hay không ?” ký tên Trúc Chi  dài 112 câu, chửi bới , nhiếc móc thậm tệ tác giả Lời mẹ dặn . Xin trích mấy đoạn  ngắn: …Nó ghét chỗ thầy hiền bạn tốt / Nó yêu nơi gái điếm cao bồi / Ghét những người đáng yêu của thiên hạ / Yêu những người đáng ghét của muôn người, / Quen học thói gà đồng mèo mả / Hoá ra thân chó mái chim mồi / ........ / Theo lẽ thường: thì sét đánh không ngã / Chắc trên đầu có cột thu lôi / Nếm đường mật lưỡi không biết ngọt / Chắc ăn tham vị giác hỏng rồi / Nghề bút giấy đã làm không trọn / Dùng dao khắc đá cũng  xoàng thôi !......
Tác giả  bài thơ “ Lời mẹ dặn- Thật hay không ?” dùng lời lẽ côn đồ, hàng tôm hàng cá,  nhưng lại không hiểu những ý nghĩa, triết lý nhân văn cao sâu của những ý thơ Phùng Quán. Phùng Quán viết rằng yêu ai, ghét ai phải nói cho thật lòng, sống cho thật lòng. Nhưng Trúc Chi lại thuyết phải nên yêu ai, nên ghét ai. Hay những câu thơ Đường mật công danh không làm ngọt lưỡi tôi / Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã / Bút giấy tôi ai cướp giật đi / Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá là hình ảnh biểu tượng, nghĩa bóng, Trúc Chi lại hiểu theo nghĩa tục, nên lên giọng mỉa mai. Vì thế bài thơ Lời mẹ dặn, cùng với bài Chống tham ô lãng phí là hai bài thơ làm cho tác giả của nó trở thành một tên trong bộ “bộ tứ” nhân văn giai phẩm, bị “đánh” tơi bời, phải “30 năm cá chịu, văn chui, rượu nợ”
 Sinh thời, nhà văn Phùng Quán kể với tôi rằng, khi đọc bài thơ Lời mẹ dặn - Thật hay không? trên đăng trên một báo lớn, anh  vừa buồn cười và tức giận. Anh quyết tâm tìm cho ra Trúc Chi là ai để “đối thoại trực tiếp” cho ra lẽ. Vì không thể hiểu nội dung bài thơ Lời mẹ dặn một cách thô thiển như thế được. Ở Hải Phòng có nhà văn Trúc Chi quê Phú Yên, nhỏ hơn Phùng Quán ba tuổi, là nhà văn miền Nam tập kết.Trúc Chi rất thân với Phùng Quán. Nhiều anh em bạn bè cho rằng, có thể Trúc Chi đã “phản bạn” để “xưng công”(!?). Phùng Quán buồn lắm. Anh quyết định cầm tờ báo Nhân Dân có in bài thơ “Lời mẹ dăn- Thật hay không?” nhảy tàu hoả xuống Hải Phòng tìm đến nhà Trúc Chi. Gặp nhau, nhà văn Trúc Chi rất mừng rỡ, nhưng khi Phùng Quán cho xem tờ báo thì Trúc Chi ngớ ra :” Lời mẹ dặn là bài thơ rất hay, mình thuộc lòng. Mình là người đàng hoàng, làm sao lại có thể viết bài thơ chửi bới tệ hại đối với cậu như thế được !”. Mãi đến năm 1989, có người gửi cho Phùng Quán tập thơ “Một đôi vần” của ông quan lớn Hoàng Văn Hoan, do Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc Việt Bắc ấn hành, trong đó có bài thơ “ Lời mẹ dặn- Thật hay không?”. Nhà văn Xuân Đài, bạn chí thân của anh Phùng Quán trong suốt 30 năm bị biếm của đời anh, hiện đang sống và viết ở Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận việc này là chính xác. Nhưng khi đó thì Hoàng Văn Hoan đã “tị nạn chính trị” tại Trung Quốc (rồi sau này chết chôn ở bên đó).
Mỗi bài thơ đều có số phận của nó. Lời mẹ dặn, là  một tuyệt tác thơ của dân tộc, dù bị chửi bới, vùi dập, nó vẫn sống mãi với thời gian, sống mãi trong lòng người yêu thơ. Yêu ai cứ bảo là yêu. Ghét ai cứ bảo là ghét. Dù ai cầm dao doạ giết...Cũng không nói ghét thành yêu…Giấy bút tôi ai cướp giật đi / Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá. Năm 2010, xây dựng lăng mộ anh chị Phùng Quán- Bội Trâm, chúng tôi đã khắc trích đoạn bài thơ Lời mẹ dặn lên đá granit nặng  tám người khênh, đặt trước mộ như lời nguyền của nhà thơ!
(5) Thơ Xuân từ Bạn bè gởi
(i) Văn Thùy
Tạng thơ
Bút danh hỏa táng dọc đường
Giọng không cháy có vấn vương màu người.
          Trớ trêu cái nắng đa tình
          Đổ xô cái bóng chúng mình đè nhau.
Vết chấn đi mãi thành đường
Vết môi một quệt yêu đương thành người
           Làm thơ cầu lợi cầu danh
          Tuổi tên sớm muộn cũng thành khói mây
Người xuân đắc ý khuôn xuân
Ta đành đem tuổi bát tuần chặt đôi
          Người đi mắc chứng thông manh
          Chân sai cứ đổ vạ thành đường sai.
Ngày xuân đội chữ lên chùa
Véo câu lục bát bỏ bùa vú chuông.
(ii) Nguyễn Khôi
Giáp Tết về quê viếng mộ mẹ cha
Cả năm bươn trải nơi đất khách
Tết về Làng viếng mộ mẹ cha
Được đi chân đất trên bờ cỏ
Cho thấm hồn quê tới thịt da,
          Thật hạnh phúc cha nằm bên mẹ
          Đám cỏ Gà đan võng níu hai thân
          - Chà, Vua chúa trong Lăng ngạo nghễ
          Chắc gì hơn nấm đất đồng Làng ?
Kính cẩn thầm khấn hồn cha mẹ :
"Thầy Đẻ ơi, Khôi đã về đây
thằng Cò nhỏ - mẹ thương, cha dậy
là con trai cho cha mẹ tự hào.
          Hương khói xóm giềng, thổ công, tiên tổ
          Chút quả thơm, hoa hái vườn nhà :
          -Các Cụ linh thiêng hãy về phù hộ
          Cho lũ cháu con mải kiếm ăn xa...
30 tết, sắp đà 30 tết
Con ở xa sung sướng trở về
Cứ như thuở nhà tre lợp rạ
Có mẹ cha mái ấm chở che. (Quê Kinh Bắc 20-1-2014).

23 Tháng CHẠP Cùng Vợ Lên Thăm Mộ Bố Vợ          
Bố - trai Hải Phòng
Người chiến sĩ Điện Biên theo cụ Hồ
đánh Pháp, đánh Mỹ, đánh Tàu...
Cứu Nước- Được "Độc lập - Tự Do"
trọn một đời gian khổ
- Mất đất
mất nhà
mất vợ
- Còn:  một mụn Con Gái vất vơ
-Chết: lấy mồ làm nơi Thờ Tự.
Thăm lễ Bố, 2 vợ chồng chúng con có:
một thẻ hương thơm
vài bông hoa nhỏ
Mong Người thanh thỏa linh hồn
thương con phù hộ...
3 chén rượu quê
rót xuống
nấm mồ cô đơn (ở nơi xa lạ)
Rối ai thờ tự?
Kính Bố! (Nghĩa trang Thanh Tước 23-1-2014).
(iii) Kha Tiệm Ly
Rượu với Tống Giang
Đệ với ta chênh nhau mấy trăm năm,
Mà gang tấc một đời chánh khí.
Ai dám bảo bút, gươm không tri kỉ?
Ta gươm rừng người, đệ bút rừng văn.
          Ta uống rượu không cần mỹ nữ,
          Một bên gươm, bên khí phách ngang tàng.
          Bên bè bạn, bên một bồ thi phú,
          Cũng say mèm, cũng rượu rót chan chan.
Uống nữa đi, rượu nung bầu chí khí,
Múa gươm đi, gượm rực máu giang hồ.
Một nhát gươm khiếp hồn loài quỷ mị,
Một vần thơ sang sảng ánh sao Ngâu.
          Thân treo đầu kiếm ta không ngại,
          Thì có ra gì một miếng đỉnh chung.
          Ta rừng kiếm, khoa gươm trừ vô lại,
          Đệ rừng văn, múa bút luận anh hùng.
Kha kha! Thơ ngâm, gươm múa tàng tàng.
Lương sơn hề, tụ nghĩa.
Triều đình hề, củi mục làm quan!
Chí khí hề, gươm tôi đúng lửa,
Trượng phu hề, không thẹn với giang san!.
          Loang loáng thước gươm, chọc trời khuấy nước,
          Sang sảng lời thơ, xuyên thủng mấy tầng xanh.
          Dựng cờ nghĩa, nhắn cùng người sau biết,
          Đất nước nầy không thiếu đấng hùng anh!
Khi tham quan vẫn còn ngoài ánh sáng,
Thì lê dân còn khổ dưới màn đêm.
Lửa uất hận trào sôi lên lưỡi thép,
Cùng một lời, ngàn dặm cũng anh em.
          Núi Lương Sơn cao ngời khí thế,
          Đá Lương Sơn kiên định một lời nguyền.
          Còn Lương Sơn, vẫn còn người hảo hán,
          Còn Lương sơn. không còn chỗ bạo quyền.
          Còn Lương Sơn, không còn quân hại nước,
          Còn Lương Sơn, còn tấc đất biên cương!
Ta đeo kiếm báu, trọn đời trung liệt,
Đệ phóng lời thơ, đều rõ nhục vinh.
Gươm và bút, chép thành trang sử biếc,
Chẳng thẹn người xưa, chẳng thẹn với mình.
(iv) Trần Kiêu Bạc
Lạnh lùng Xuân xứ lạ
Như sóng vỗ xa bờ, mãi lang thang
Biển có gọi, sóng chưa về bến cũ
Có buồn nào hơn nỗi buồn xa xứ
Đất ấm tình người phai dấu chân quen!
          Mẹ mất rồi, ai đợi cửa đêm đêm
          Còn ai nhóm bếp lửa con trong tối?
          Cho than hồng đun mùi thơm gạo mới
          Bát canh rau xanh mướt tuổi thơ buồn!
Bụi tuyết bay đầy phố xá dửng dưng
Cúc rụng hoa vàng trêu cành mai giả
Hồn bánh chưng không về ngang xứ lạ
Vắng tiếng leng keng tiền mừng tuổi đầu năm
          Nhang bạc màu cùng tóc muối hoa râm
          Chờ ngày mai tim già nua hóa đá
          Bài ca Xuân lạc trăm quê ngàn ngả
          Bỗng trở về theo mắt đỏ rưng rưng!
Lòng nhủ lòng:quê xa khuất ngàn trùng
Nhớ Mẹ đi không hẹn ngày quay lại
Khói bếp mái tranh quyện trong hồn mãi mãi
Xuân bên nầy nhớ Tết muộn bên kia!
 (24-1-14)