Lá Thư Úc ChâuDalai Lama: Share your knowledge. It is a way to achieve immortalityNelson Mandela: "Không ai sinh ra mà đã ghét người khác vì màu da, nền giáo dục, và tôn giáo của người đó. Mọi người phải học cách để ghét. Và nếu người ta có thể bị học cách để ghét, họ cũng có thể được dạy cách yêu thương, vì tình yêu thương đến với con người tự nhiên hơn là lòng căm ghét."
Xuân Giáp Ngọ
Trang Thơ Nhạc cuối Năm: 25 tháng Chạp
Y Vân & Xuân Tiên: Mừng Xuân Mến Thương
Tiếng hát: Thái Thanh
Tình thân,
Kính.
NNS
..........................................................................................
Chuyện đầu Xuân(1) Ts Đặng Huy Văn
Giáp Ngọ xưa - Giáp Ngọ nayGiáp Ngọ xưa, năm 1954, dưới sức ép của Trung Quốc, đất nước ta đã bị chia cắt làm hai Miền. Cuối 1953, cụ Hồ đã ra sắc lệnh “phát động quần chúng Giảm Tô và Cải Cách Ruộng Đất” trên toàn Miền Bắc, dưới sự chỉ đạo sát sao của Đoàn cố vấn Trung Quốc do Mao Trạch Đông cử sang từ 1954 đến 1956. Kết quả, đã giết chết oan uổng được hơn hai vạn người vô tội bằng xử bắn, tự tử và bỏ đói. Từ đó trở đi, nhân dân ta đã bị coi thường tính mạng, và hơn 4 triệu người cả Bắc và Nam đã bị chết oan uổng trên chiến trường trong cuộc nội chiến hai mươi năm nồi da xáo thịt từ 1955 đến 1975 để giành quyền lực.
Hậu quả to lớn của cuộc nội chiến kinh hoàng và kéo dài đó đã rẽ chia dân tộc Việt Nam cho đến tận bây giờ và ngày càng bị lệ thuộc vào cộng sản Trung Hoa xâm lược. Ngày 19/1/1974 (Tết Giáp Dần), chúng đã xâm lược quần đảo Hoàng Sa từ tay VNCH mà đảng ta không hề lên tiếng phản đối. Ngày 17/2/1979, Trung Quốc đã xâm lược 6 tỉnh biên giới phía Bắc hơn một tháng. Ngày 14/3/1988, Trung Quốc đã xâm lược đảo Gạc Ma trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Năm nay Giáp Ngọ lại tới. Nhưng đất nước ta đã ngày càng bị lệ thuộc về chính trị và kinh tế vào giặc Tàu cộng sản! Chúng đang ra sức lấn đất rừng, lấn biển đảo bằng cách mua chuộc các nhà lãnh đạo nước ta bằng tiền bạc và hứa giữ ngai vàng quyền lực cho họ. Và mới đây nhất, chúng đã tuyên bố ngư dân Việt Nam không được đánh cá trên Biển Đông từ ngày 1/1/2014, nếu không có sự đồng ý của chính quyền đảo Hải Nam. Tiếc thay, chính quyền Hà Nội đã không lên tiếng phản đối, mà hôm qua,19/1/2014, còn cản trở không cho nhân dân ba miền trên cả nước tổ chức kỷ niệm 40 năm ngày Hải Chiến Hoàng Sa. Tôi hy vọng, qua tết Giáp Ngọ này, mọi thứ sẽ được thay đổi do sự đòi hỏi chính đáng của nhân dân cả nước.
Giáp Ngọ xưa - Giáp Ngọ nay
(Chúc mừng Năm Mới Giáp Ngọ)
Giáp Ngọ xưa, Điện Biên Phủ lẫy lừng (1)
Bị Trung cộng xúi chia cắt đất nước
Khiến cả triệu giáo dân khóc tấm tức
Rời quê hương đi tìm bến tự do!
Giáp Ngọ xưa, “bác” phát động Giảm Tô (2)
Được Mao khuyên giết càng nhiều càng tốt
Khiến lương dân cả Miền Bắc sửng sốt
Bởi tai ương ập xuống quá bất ngờ!
Từ Giáp Ngọ, “yêu người” thành lẽ sống
Nên Cải Cách, “yêu nhầm” mấy vạn dân
Hai mươi năm, 4 triệu người ngã xuống
Bao dân lành vùi xác Tết Mậu Thân!
Giáp Ngọ nay, nhà nhà buồn đón Tết
Bởi xuân sang chưa biết sống thế nào?
Cả triệu người đã đầu quân thân nghiệp
Năm mới về không biết sẽ đi đâu?
Giáp Ngọ nay, giàu nghèo càng cách biệt
Có chức quyền kiếm ngàn tỷ như không
Còn nông dân vài triệu đồng cũng khó
Dù nai lưng cả sớm tối trên đồng!
Giáp Ngọ nay, liệu có gì thay đổi
Để cho dân đỡ nghẹt thở đón xuân?
Hay nói thật cũng bị toà kết tội
“Bao cao su, trốn thuế, phản nhân dân”?
Trộm hai vịt bị mười ba năm án (3)
Ngàn tỷ đồng chỉ tù có mấy năm
Giáp Ngọ nay, thượng tướng ăn hối lộ
Chẳng biết là có xử nổi hay chăng?
Giáp Ngọ nay, Luật Đất đai sửa đổi (4)
“Nguyễn y vân”, Quốc Hội đã thông qua
Không biết những dân oan về đâu hỏi
Hay được mời ra quần đảo Hoàng Sa?
Để Trung Cộng giúp đảng ta “giải đáp”
Theo “kiểu Tàu” nhằm giảm bớt dân oan
Cho đất nước “ổn định về chính trị”
Làm tăng nhanh lợi ích nhóm, tập đoàn!
Để giặc Tàu kéo sang lừa đủ kiểu
Từ hứa mua các loại quả trên đồng
Đến nuôi chuột, cắt rễ tiêu, mua đỉa
Mà chính quyền cứ im tiếng như không!
Để giặc Tàu vung tiền mua lãnh đạo
Nhằm trúng thầu, khai bô xít, thuê rừng
Biển Hoàng Sa Tết Giáp Dần cưỡng chiếm
Nay nghênh ngang đòi lấn trọn Biển Đông!
Để giặc Tàu cấm ngư dân đánh cá
Ngay chính trên Biển Đông của nước nhà
Mà chính quyền vẫn như không hề biết
Giống ngày xưa khi giặc cướp Hoàng Sa!
Giáp Ngọ nay, chúc nhân dân tỉnh giấc
Sau bao năm lạc lối giữa trời mê
Như các nước Đông Âu nhiều năm trước
Cùng Liên Xô theo đường lớn quay về!
Giáp Ngọ nay, chúc các nhà lãnh đạo
Hãy mau về với Tổ Quốc đồng bào
Đừng tiếp tục theo giặc Tàu cộng sản
Mà hổ danh với con cháu mai sau!
Giáp Ngọ xưa, buồn đau và thất vọng
Giáp Ngọ nay, mong sẽ đổi thay nhiều!
Xin kính chúc quý đồng bào sức khoẻ!
Để giữ gìn non sông Việt mến yêu…
(ĐangHuyVan - Hà Nội, 20/1/2014)Chú thích & Tài liệu tham khảo:
(1). Giáp Ngọ Xưa, năm 1954 - Giáp Ngọ nay, năm 2014 / (2). Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam / (3). Bùi Văn Bồng1: Trở lại "Vụ án 2 con vịt"
(4). Luật Đất đai sửa đổi được Quốc hội thông qua: Sáng 29/11/2013, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật Đất dai sửa đổi mà về cơ bản vẫn y nguyên (nguyễn y vân) Luật Đất đai khi chưa sửa đổi. (Source: ChinhLuan)
(2) Bs Hồ Hải
Cần hiểu đúng một cách Khoa học về Chủ nghĩa Marx LeninNhiều thế hệ - đặc biệt ở các quốc gia cộng sản cầm quyền - lâu nay học chủ thuyết Marx và Lenin nhưng chưa hiểu nó là gì? Nghe người ta bảo nó là triết học thì cũng ừ, gật đầu, nó là triết học. Đó là sai lầm của nhiều thế hệ ở các nước cộng sản.
Thực chất, trong 3 bộ phận của chủ nghĩa Marx Engels gồm có: Duy vật biện chứng, kinh tế chính trị học và duy vật lịch sử, thì chỉ duy nhất có bộ phận duy vật biện chứng của Engels đúc kết - mà không có gì mới - từ các trào lưu triết học trước đó, rồi đem tặng cho Marx là triết học thực sự.
Duy vật biện chứng nó là một vốn quý của nhân loại, không ai có thể chối cãi được. Vì nó giúp cho nhân loại rất lớn trong phương pháp luận khoa học. Nhưng nó lại không phải là của Marx, mà nó là của Engels đúc kết lại, và tặng Marx để Marx làm nền tảng cho việc nghiên cứu, và đưa ra 2 bộ phận còn lại theo tình hình thực tế châu Âu giữa, cuối thế kỷ XIX.
Hai bộ phận còn lại như đã nói, là kinh tế chính trị học và lịch sử phát triển của các hình thái chính trị xã hội mà Marx đã "tưởng tượng" và đặt tên cho chúng. Nhưng sự tưởng tượng của Marx lại sai ngay trong cái đặt vấn đề và giải quyết vấn đề để đi đến kết luận của ông ta.
Marx đã dùng Duy vật biện chứng và sa đà vào đặt nền tảng cho chủ thuyết của mình là Vật chất quyết định Ý thức ngay từ đầu. Nhưng khi Marx đi vào Duy vật lịch sử, ông lại "tưởng tượng" một cách cảm tính mà không khoa học thực chứng. Với sự cảm tính đó Karl Marx đã đẻ ra một hình thái chính trị xã hội loài người sau tư bản là, chủ nghĩa cộng sản khoa học và chủ nghĩa xã hội là lúc loài người sống với nhau bằng Ý thức quyết định vật chất! Nên có thể gọi bộ phận thứ 3 của Marx Engels là Duy Tình Lịch Sử thì đúng hơn là Duy Vật Lịch Sử!
Và cũng vì sa đà quá nhiều vào duy vật biện chứng mà, chủ thuyết do marx đẻ ra đã quá sắc máu, thiếu nhân bản. Hệ lụy của chủ thuyết này đã đẻ ra hình thái chính trị độc đoán và tàn ác. Nó đã tạo ra những lãnh tụ cộng sản trên thế giới đã giết chết hàng trăm triệu nhân mạng từ chủ thuyết này. Ngày nay, nó đã trở thành di tích của lịch sử, mà không ai còn muốn nhắc đến, chỉ còn các chính khách vì tham vọng cá nhân dùng nó để phục vụ dục vọng xấu xa nhất của loài động vật bậc thấp.
Sai lầm này của Marx không phải là nhân loại không biết và chưa nghĩ đến, mà ngay từ nửa cuối của thế kỷ XVIII, tại Tân lục địa - Hoa Kỳ - các quốc phụ của nước Mỹ đã bắt đầu bằng cuộc cách mạng dân chủ tư sản 1776 lập ra nước Mỹ, trong cuộc cách mạng Trà. Từ đó, hình thành một hình thái chính trị xã hội hoàn hảo nhất, đúng với duy vật biện chứng nhất với hình thái chính tri đa nguyên và tản quyền. Và Hoa Kỳ đã đi trước cả Marx và Engels 72 năm. Mặc dù Marx và Engels đi sau, nhưng lại đi sai quy luật xã hội học. Vì mãi đến 1848 Marx và Engels mới cho xuất bản tư tưởng của mình, trong khi đó, 1776 các Quốc phụ Hoa Kỳ đã làm việc này.
Đến đầu thế kỷ XX, Lenin - một chính khách lỗi lạc đúng nghĩa - đã vớ phải lý thuyết của Marx và Engels lúc này đã quá lạc hậu với nền kinh tế công nghiệp ra đời từ giữa cuối thế kỷ XIX và hoàn thiện dần. Nhưng chủ nghĩa Marx và Engels lại có thể dụ dỗ được dân cùng khổ nhưng vô học. Lenin đã hoàn thiện nó thành bộ Lenin toàn tập và áp dụng ở Nga, rồi biến cả Đông Âu thành Liên Xô và các chư hầu. Lenin đã có "công lớn" khi ông kéo một nửa nhân loại quay về lại chủ nghĩa phong kiến tập quyền, với hình thái chính trị xã hội đơn nguyên tập quyền mà ông đã vẽ ra, nhưng với cái tên rất mỹ miều - chủ nghĩa xã hội. Nếu nước Pháp có Nã Phá Luân kéo người Pháp quay lại Phong kiến sau Cách Mạng Dân Chủ Tư sản Pháp 1789, để hơn một thế kỷ sau Pháp mới thoát ra khỏi phong kiến, thì tội của Lenin với nước Nga là đã kéo lùi Đế Quốc Nga quay về phong kiến 70 năm!
Song như đã nói ở trên, do Marx đã có tầm nhìn ngắn và do ông thiếu khả năng nghiên cứu khoa học, nên ông đã đặt nền tảng chủ thuyết là A quyết định B, và kết luận là B quyết định A, và cuối cùng những gì Lenin xây dựng đã bắt đầu sụp đổ tại ngay tại nơi ông sinh nó ra. Và cho đến ngày nay, chủ nghĩa Marx Lenin chỉ là con bài cho các chính khách dùng để bảo vệ ngai vàng kiếm ăn trên tổ quốc và dân tộc mình. Đó là bi kịch của Marx, Engels và Lenin để lại cho nhân loại thiếu hiểu biết trên toàn cầu. Dù lạc hậu, và sai lệch với nguyên lý khoa học, nhưng chủ nghĩa Marx Lenin cũng có công lớn là làm đối trọng để thế giới tư bản phát triển vượt bậc trong cuộc chạy đua giành quyền thống trị toàn cầu. Ngày nay, tư bản thắng và cộng sản thua thì ai cũng rõ. Nhưng tại sao cộng sản vẫn còn sống và tồn tại? Vì nó phục vụ cho lợi ích của giai cấp phong kiến kiểu mới cầm quyền. Nhưng nó sẽ sụp đổ và đi vào bóng tối là điều chắc chắn sẽ có trong tương lai gần. Vì nó phi khoa học và không thực tế.
Hy vọng với một chút sơ lược lại lịch sử hình thành về cả lý thuyết và thực tiễn xã hội học thế giới này sẽ giúp người nào chưa hiểu, nắm được cái chính của vấn đề sẽ nhận rõ chân giá trị của chủ nghĩa Marx Lenin. (Source: BsHoHai Blog - 23/01/2014)
(3) Tin đọc nhanh:
(i) BBC: Tìm cách kéo đổ tượng Lenin ở Hanoi
Một nhóm học viên Pháp Luân Công tại Việt Nam cho hay đã tìm cách kéo đổ tượng Lenin ở vườn hoa mang tên ông trên đường Điện Biên Phủ, Hà Nội, nhưng không thành. Trả lời BBC ngày 24/1, ông Nguyễn Doãn Kiên, một người nói là đã trực tiếp tham gia, cho biết sự việc diễn ra lúc 3h30 sáng ngày 23/1 và nhóm ông gồm có 4 người. Sau sự việc, ông Kiên đã đăng tải danh tính của cả bốn người trong nhóm của mình lên mạng và công khai thừa nhận rằng chính nhóm của ông đứng đằng sau vụ việc.
"Khi chúng tôi trèo lên tận nơi để thực hiện thao tác quàng dây cáp qua cổ bức tượng thì phát hiện ra là nó được lắp ốc vít bên dưới," ông nói. "Dây cáp của bọn tôi không đủ lực để kéo đổ bức tượng nên trong lúc kéo thì xảy ra sự cố khiến dây bị đứt nên bức tượng vẫn chưa đổ." Khi được hỏi về động cơ khiến nhóm của ông quyết định đi đến hành động nói trên, ông Kiên nói: "Thực ra việc kéo đổ tượng Lenin đã được thực hiện khắp nơi trên thế giới rồi." Những năm gần đây, viêc dỡ bỏ tượng Lenin đã xảy ra ở nhiều quốc gia muốn xóa bỏ dấu tích của quá khứ cộng sản. Mới đây nhất, hồi 8/12 năm ngoái, những người biểu tình đã kéo đổ tượng Lenin ở trung tâm thủ đô Kiev, Ukraine, để phản đối ảnh hưởng của Nga tại nước này. Cuối năm 2012, Mông Cổ cũng cho dỡ bỏ bức tượng Lenin cuối cùng khỏi thủ đô Ulan-Bator. Thị trưởng Ulan-Bator, ông Bat-Uul Erdene, lúc đó đã gọi Lenin và những người cộng sản là "lũ sát nhân".
"Việc vạch trần bản chất của cộng sản thì thế giới họ đã làm từ lâu rồi, nhưng ở Việt Nam không ai dám nói ra." "Cộng sản Việt Nam chỉ là một cái vòi bạch tuộc của Cộng sản Trung Quốc, mà Trung Cộng đã bức hại Pháp Luân Công bao năm nay rồi." "Bản chất cộng sản không thể cải biến được, mà chỉ có thể đào thải thôi."
Pháp Luân Công chưa được hoạt động hợp pháp tại Việt Nam và nhiều buổi tụ tập của các học viên Pháp Luân Công tại đây những năm qua đều bị giải tán. Hồi tháng 9 năm ngoái, sáu học viên Pháp Luân Công từ Việt Nam sang Trung Quốc cũng bị câu lưu nhiều ngày trước khi được trả về nước.
(ii) BVN: Luật gia Lê Hiếu Đằng qua đời
Sinh năm 1944, trút hơi thở cuối cùng vào 10g tối ngày 22 tháng 1 năm 2014, tại bệnh viện 115 (Sài Gòn). Lễ nhập quan sẽ được tiến hành vào lúc 9 giờ sáng ngày 23 tháng 1 năm 2014 tại Trung tâm Pháp y TP HCM, 336 Trần Phú, quận 5. Linh cữu được quàn tại chùa Xá Lợi, 89b Bà Huyện Thanh Quan, quận 3. Lễ di quan sẽ bắt đầu lúc 6 giờ sáng ngày 25 tháng 1 năm 2014 và sẽ hỏa táng tại Bình Hưng Hòa. Tro cốt của ông sẽ được gia đình và bằng hữu rải trên sông Sài Gòn.
Ông là một trong 72 người đầu tiên ký vào Kiến nghị 72 trong đợt sửa đổi Hiến pháp 2013.
và cũng là một trong những người đi đầu trong phong trào biểu tình tại Việt Nam chống Trung Quốc xâm lược Biển Đông. Ông nói:“Việt Nam vi phạm nhân quyền khi trấn dẹp biểu tình chống Trung Quốc”.
Về phiên tòa xét xử hai nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình ngày 30/10/2012, ông nói: “Trấn áp không dập tắt được những tiếng nói yêu nước phản kháng”.
Ông khẳng định: “Việc đổi tên nước là thời cơ rất lớn để thay đổi một số điều trong hiến pháp, làm đòn bẩy cho sự phát triển của đất nước. Nếu vẫn như cũ thì rất tiếc, thời cơ qua đi.”
Vào tháng 8/2013, trong bài viết “Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh”, ông Lê Hiếu Đằng đã công khai nói lên những suy nghĩ của mìnhvề việc Đảng Cộng sản đã phản bội lý tưởng cách mạng, phản bội nhân dân, phản bội những người góp phần xây dựng nên chế độ, trong đó có ông, cũng như việc cần thiết phải dân chủ hóa, xây dựng thể chế đa đảng để cứu đất nước thoát khỏi tình thế nguy cấp hiện tại, kêu gọi thành lập chính đảng mang tên Đảng Dân chủ Xã hội tại Việt Nam.
Vào ngày 4 tháng 12 năm 2013, ông viết tuyên bố từ bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam vì theo ông, “Đảng Cộng sản Việt Nam bây giờ không còn như trước (đấu tranh giải phóng dân tộc) mà đang suy thoái biến chất, thực chất chỉ là đảng của những tập đoàn lợi ích, trở thành lực cản cho sự phát triển đất nước, dân tộc, đi ngược lại lợi ích dân tộc, nhân dân.”
Lời phân ưu:
- Bauxite Việt Nam: Anh Lê Hiếu Đằng thân yêu!
Thế là anh đã thực sự chia tay gia đình, người thân, bạn bè đồng chí, tất cả bạn đọc của anh, tất cả những người yêu mến kính trọng anh trong cộng đồng người Việt cả trong lẫn ngoài nước.
Anh đã ra đi với lương tâm thanh sạch sau khi kịp tuyên bố ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam, chính đảng mà anh gắn bó, cống hiến gần hết đời mình cho sự nghiệp của nó suốt 45 năm trời, nhưng cuối cùng phải đau đớn chia tay khi thấy nó phản bội lại lý tưởng của chính nó, phản bội niềm tin của những đảng viên trung thực như anh, phản bội công ơn nuôi dưỡng của nhân dân Việt Nam trong gần một thế kỷ.
Anh ra đi sau khi đã sòng phẳng công khai tính sổ đời mình, từ một sinh viên yêu nước đối mặt án tử hình của chế độ Sài Gòn vì tin ở chính nghĩa của cuộc chiến đấu được coi là chống Mỹ giành độc lập thống nhất cho đất nước, cho đến khi bừng tỉnh và đau đớn thấy thành quả cuộc chiến đấu ấy rơi vào tay một tập đoàn độc tài tham nhũng đang đưa đất nước vào tình trạng còn tồi tệ hơn cái chế độ mà anh đã góp phần đánh đổ, cho đến khi nhận rõ sự phá sản của chủ thuyết Mác-Lênin mà mình đã từng tin theo và thuyết giảng, nhận rõ sự không tưởng của cái gọi là chủ nghĩa xã hội rút cuộc chỉ là bánh vẽ để lừa bịp nhân dân, trở thành xiềng xích trói bước dân tộc đi tìm con đường ấm no hạnh phúc.
Anh ra đi sau những năm tháng kiên quyết, dũng cảm đứng về phía những người yêu nước của thời kỳ mới, yêu nước đồng nghĩa với yêu tự do dân chủ, yêu nước là chống độc tài tham nhũng, chống các nhómđặc quyềntàn phá kinh tế quốc gia vì lợi riêng, yêu nước là chống lại sự bành trướng xâm lược của nhà cầm quyền Trung Quốc, vạch trần thực chất đen tối của “16 chữ vàng”, “quan hệ 4 tốt”.
Anh Lê Hiếu Đằng thân yêu!
Những bài viết, những lời phát biểu thẳng thắn, trung thực, có tình có lý, đầy nhiệt huyết của anh, một con người cảđời chiến đấu không mệt mỏi, không nản lòng cho độc lập của đất nước, cho tự do của người dân, cho dân chủ của xã hội, đã có tác động mạnh mẽ đến công luận, thức tỉnh không ít khối óc con tim của thanh niên, viên chức, cả những đảng viên Cộng sản.
Những ngày tháng trên giường bệnh của anh cũng là những ngày tháng anh chiến đấu quyết liệt, dứt khoát nhất chống chế độ độc tài toàn trị, những ngày tháng anh cống hiến trọn vẹn nhất cho tương lai nền dân chủ pháp quyền của đất nước. Đó cũng là những ngày tháng anh được chứng kiến tấm chân tình, lòng cảm mến của bao nhiêu bạn bè, đồng chí, của những người cùng tâm nguyện thuộc đủ tầng lớp trong, ngoài nước.
Anh Lê Hiếu Đằng mến yêu!
Bauxite Việt Nam ghi nhớ lời tâm sự sau cùng của anh với trí thức: “Trí thức luôn luôn phải đi đầu, phải giương cao ngọn cờ đấu tranh, phải dũng cảm, phá tan không khí sợ hãi bao trùm xã hội trong bao nhiêu năm”. Xin hương hồn anh yên nghỉ trong niềm tin các bạn bè, đồng chí của anh, các trí thức Việt Nam sẽ không phụ lòng tin yêu chứa trong lời nhắn gửi của anh.
- Hạ Đình Nguyên: Anh đã từ biệt !
Anh thực sự đã yên nghĩ, đã khép lại một chu kỳ hoàn hảo : “Trăm năm trong cõi người ta”.
Lúc nầy, chúng ta lại nhớ lời nói đầy ý nghĩa của con người nổi tiếng Mandela, đúng với trường hợp của Anh:
"Cái chết là điều không thể tránh khỏi. Khi một người đã hoàn thành điều người đó coi là trách nhiệm với dân tộc mình, với đất nước mình, người ấy có thể yên nghỉ.”...
Anh đã để lại một tấm lòng, với sự chia sẻ của tất cả những ai yêu cuộc sống nầy, và yêu tận đáy lòng sự công bằng của một xã hội dân chủ. Anh đã đi bước đi tiền phong của một giai đoạn chuyển hóa, vượt lên trên và không để ý tới mọi hình thức o ép của chủ thể vô minh.
Những tiếng hô của sân hận và hẹp hòi từ đâu đó, giờ đây tiếp tục vô nghĩa.!
Tất cả chúng ta đều nghe thấy tiếng sóng gào thét ở Biển Đông, tiếng gió độc rít lên từ phương Bắc. Vì nghĩa cả mà con người phải dấn thân. Lẽ nào, vì sự nhỏ nhen mà thân phận con người hóa thành cỏ rác ? Người Nhật Bản nắm chắc tay nhau sau cơn đại họa, mà chẳng tham của rơi. Lẽ nào trước nguy biến, lại tranh nhau bổng lộc không hơn kẻ dân đen “hôi bia” ngoài lộ ?
Anh để lại sau một điều ray rứt :- một dân tộc, một đất nước, chẳng thể sống cùng nhau trong một góc trời mà lại không có cùng nhau một “khế ước” ? Thực dân, đế quốc còn trả lại cho dân tộc bị trị một Hiến Pháp sau khi cuộc đâm chém chấm dứt. Lẽ nào một đảng chính trị cầm đầu cuộc kháng chiến gian khổ đã thành công, lại lạm dụng thời cơ, áp đặt cho cả dân tộc phải sống đời đời dưới sự cai trị bởi một nhóm người nhân danh đảng ấy, dười hình luật do nhóm người ấy lập ra, sống cho tới già chết, bịnh chết và giao lại cho kẻ được chọn làm truyền nhân kế thừa ? Ở Việt Nam ngày nay lại mọc lên khá nhiều những ngọn núi Paektu để có những gióng máu thần thánh truyền ngôi ở các tỉnh thành.
Thật là buồn cười và đáng xấu hổ trong thời đại hôm nay !....
Anh Đằng,
Anh đã mong muốn và tích cực đấu tranh cho một xã hội dân sự được chuyển hóa theo cách hòa bình, như kiến nghị 72 mà anh ký tên trong đó. Anh mong muốn một xã hội dân sự vì đó là nền tảng vững chắc cho độc lập dân tộc, đó cũng là nền tảng để một quốc gia phát triển. Anh đã gởi lại tâm tình của mình trong những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời ngắn ngủi nầy, với tinh thần đấu tranh không ngừng, như rất nhiều người con dân yêu nước khác. Anh ra đi như họ đã ra đi, vì hai chữ độc lập – dân chủ. Thái độ chọn lựa cuối cùng của anh về một sự chia ly đã củng cố và làm sáng rõ lý tưởng mà anh đã trọn đời theo đuổi.
Anh đã sống trọn vẹn với suy nghĩ của mình.
Anh không cô đơn. Anh nằm xuống có bạn bè chung quanh, có nhiều bạn trẻ tiếc thương anh và những giọt nước mắt.
Trong khi anh nằm xuống, dân tộc vẫn bước tiếp cuộc hành trình về hướng dân chù! Tất cả vẫy chào anh trong niềm thân thiết. Anh có quyền an nghỉ...
- Ts Hà Sĩ Phu:
Nằm bịnh vẫn suy tư, việc đảng vào ra, thương mẹ Việt Nam, son sắt không phai lòng HIẾU tử!
Biểu tình cùng kháng nghị, lòng dân sau trước, ghét quân Đại Hán, oai hùng cho xứng trận ĐẰNG giang!
Hà Sĩ Phu, cùng các thân hữu Đà Lạt: Đoàn Nhật Hồng – Diệp Đình Huyên – Bùi Minh Quốc - Trần Minh Thảo - Tiêu Dao Bảo Cự – Mai Thái Lĩnh - Huỳnh Nhật Hải – Huỳnh Nhật Tấn – Nguyễn Quang Nhàn … đồng kính viếng.
- Ts Đoàn Xuân Lộc ( Viện Global Policy, London) : Nhận ra "Đảng biến chất"
Dù biết rằng đâu đó có những người không thích ông Đằng vì ông là một người Cộng sản và từng tham gia phong trào đấu tranh chống chính quyền Sài Gòn trước năm 1975, nhưng chắc ít ai có thể phủ nhận rằng ông làm vậy chỉ vì ông tin rằng sự dấn thân của mình có thể giúp giải phóng Dân tộc và đưa Đất nước tới tự do, dân chủ.Có thể nói, ông thuộc thế hệ mà có ai đó gọi là ‘thế hệ Vàng của cuộc Cách mạng Giải phóng Dân tộc, trong sáng, lãng mạn, tràn đầy lí tưởng’.Và nếu nhìn lại cuộc đời của ông Lê Hiếu Đằng, công việc của ông, những băn khoăn, trăn trở của ông – đặc biệt trong những năm tháng cuối đời, được thể hiện qua ‘Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh’ được ông viết vào tháng 8/2013 – có thể thấy rõ điều đó.Quả thực, ông là một người rất nặng lòng với Nước, với Dân và là một người ‘Cộng sản’ thực sự. Khác hẳn với những quan chức ‘cộng sản’ nhưng nhiều ‘tư bản’ – như biệt thự, xe hơi – ở Việt Nam, dù nhiều năm công tác trong Đảng với một chức vị khá cao ông chẳng có tài sản gì đáng giá. Trong một bài viết kể về chuyện đi thăm ông Đằng khi ông nằm viện được đăng trên trang Bauxite Việt Nam vào tháng 12/2013, một người bạn của ông Đằng là ông Hạ Đình Nguyên, nguyên Chủ tịch Uỷ ban Hành động thuộc Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, đã viết rằng cái nhà ông Đằng ‘chỉ có 3 thước bề ngang đã cho thuê, chỉ sống ở phần bếp đằng sau, không thể để lọt cái quan tài’.Chính vì một lý tưởng trong sáng và một lối sống minh bạch như vậy, ông không thể chấp nhận khi thấy Đảng Cộng sản ‘trở thành lực cản cho sự phát triển đất nước, dân tộc, đi ngược lại lợi ích dân tộc, nhân dân’ như ông nhận định trong tuyên bố bỏ Đảng của mình. Cũng vì nhận ra rằng ‘đảng’ của ngày hôm nay là một ‘đảng của những tập đoàn lợi ích’, không còn là Đảng mà ông từng biết trước đây, trong những năm tháng cuối đời, ông liên tục lên tiếng chỉ trích đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản. Cùng lúc ông kêu gọi đa nguyên, đa đảng, đòi dân chủ, tự do và hạnh phúc cho người dân và độc lập cho đất nước.Chẳng hạn, dù đang lâm trọng bệnh, ông vẫn chấp nhận trả lời phỏng vấn của BBC sau khi Quốc hội Việt Nam thông qua Hiến pháp sửa đổi. Trong cuộc phỏng vấn ấy ông nhận định rằng việc thông qua một bản Hiến pháp như vậy chứng tỏ ‘Quốc hội chỉ là bù nhìn chứ không có thực quyền, phản lại lợi ích quần chúng’.Chuyện Quốc hội Việt Nam thông qua ‘một Hiến pháp đi ngược lại lòng dân, không có dân chủ, nhất là trong vấn đề ruộng đất’ cũng là ‘là giọt nước làm tràn ly’, khiến ông đi đến quyết định bỏ Đảng. Khi mạnh dạn, công khai lên tiếng đòi dân chủ, tự do, hạnh phúc cho dân, ông cũng đã trở thành một biểu tượng cho phong trào dân chủ trong nước. Việc nhiều giới – trong đó các nhân sỹ, trí thức và những ai muốn Việt Nam thay đổi – dành cho ông sự ủng hộ hay bày tỏ sự vui mừng, thán phục mỗi khi ông thẳng thắn đề cập đến các vấn nạn của Đất nước hay mạnh dạn kêu gọi giới lãnh đạo Việt Nam thay đổi và đặc biệt khi ông quyết định bỏ Đảng Cộng sản và kêu gọi thiết lập một chính đảng mới chứng minh điều đó.Nhiều người đã bày tỏ lòng quý mến cũng như lo lắng khi biết ông lâm bệnh. Và chắc chắn trong những ngày tới sẽ có nhiều nhân sỹ, trí thức và những người đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam cũng như hải ngoại sẽ bày tỏ sự thương tiếc, cảm phục và biết ơn ông khi hay tin ông qua đời. Với họ, trong những năm vừa qua ông đã đóng một vai trò quan trọng trong việc cổ vũ dân chủ, tự do, nhân quyền ở Việt Nam. Là một quan chức với 40 năm là đảng viên, có nhiều đóng góp cho chế độ lại nắm rõ nội tình của Đảng, việc ông lên tiếng về các vấn đề đó và đặc biệt quyết định bỏ Đảng của ông chắc chắn đã và đang có nhiều tác động lớn đến phong trào dân chủ. Đây cũng là điều làm cho giới lãnh đạo Việt Nam cảm thấy khó chịu vì nó còn có tác động rất lớn lên xã hội Việt Nam nói chung và ảnh hưởng đến vị thế, vai trò của Đảng nói riêng.Quan trọng hơn Đảng Cộng sản sợ những tiếng nói và quyết định của ông Lê Hiếu Đằng vì những hành động như thế có thể làm các đảng viên khác phản tỉnh và ‘tự diễn biến’. Đây là một điều mà Đảng luôn lo sợ, thường cảnh báo, chỉ trích và tìm cách ngăn ngừa. Với những kinh nghiệm từ Đảng Cộng sản Liên Xô trước đây, có thể Đảng Cộng sản Việt Nam nhận ra rằng ‘đối tượng’ phá hoại Đảng lớn nhất, làm Đảng sụp đổ không phải đến từ bên ngoài mà ngay từ trong Đảng. Vì vậy, Đảng luôn sợ và tìm cách ngăn ngừa mọi ‘diễn biến hòa bình’.Và nếu trong tương lai giới lãnh đạo Việt Nam "tự diễn biến" và có những thay đổi quan trọng, tích cực như ở Miến Điện hay khi Đất nước thực sự có dân chủ, tự do các thế hệ sau sẽ không quên ông và những đóng góp của ông.Có thể ông ra đi chưa thực sự an lòng vì bao điều dang dở, vì sau bao năm tháng dấn thân cho lý tưởng, theo và phục vụ Đảng cuối đời thất vọng nhận ra rằng lý tưởng trong sáng, tốt đẹp ban đầu ấy không mang đến kết quả như mình mong muốn, theo đuổi. Nhưng chắc chắn nhiều người sẽ không quên ông – một người ‘Cộng sản’ đích thực và là một con người rất nặng lòng với Nhân Dân, với Dân tộc và với Đất nước.
- Bùi Chí Vinh: Khóc Lê Hiếu Đằng
Thắp nén nhang cho Lê Hiếu Đằng và nhìn di hài anh ở chùa Xá Lợi đêm Ông Táo về trời 23 tháng chạp, tôi có cảm giác môi anh mím lại như không cam chịu một cái chết được báo trước. Quá đau xót nên viết bài thơ này:
Chết là hết hay chưa là hết
Có người chết đi để được phong thần
Có người chết đi để làm ma quỷ
Nhưng anh chết đi để thành nhân dân
Được phong thần chưa chắc đã không gian
Thành ma quỷ vì sinh thời ở ác
Anh bỏ triều đình về với nhân dân
Nên khi chết vẫn quang minh lỗi lạc
Giữa thời kỳ mạng người như rơm rác
Cái chết chẳng qua một chuyến luân hồi
Đã dám sống một đời bất khuất
Thì chết cũng là bất tử anh ơi!
(iii) ICIJ (Liên hiệp Nhà báo Điều tra Quốc tế): People's Republic of (China) Offshore
Một cuộc điều tra lớn trên phạm vi quốc tế thu thập được nhiều tư liệu tài chính rò rỉ cho thấy ở Trung Quốc:
(i) Theo một số ước tính, lượng tài sản trị giá khoảng từ 1 nghìn tỷ tới 4 nghìn tỷ đôla đã bị tuồn ra khỏi Trung Quốc từ năm 2000. Hiện nay, 100 người trong danh sách giàu nhất Trung Quốc có tổng tài sản lên tới trên 300 tỷ đôla, trong khi khoảng 300 triệu người còn ở mức thu nhập dưới 2 đôla/ngày.
(ii) Nhiều nhân vật quyền thế trong hệ thống chính trị Trung Quốc đã lập ra các công ty và tài khoản đặt tại Cook Islands hoặc British Virgin Islands là những nơi bị coi là "Thiên đường thuế" vì có điều kiện trốn thuế dễ dàng. Có ít nhất 15 người thuộc danh sách giàu có nhất Trung Quốc, đại biểu Quốc hội cũng như lãnh đạo các công ty nhà nước bị vướng cáo buộc tham nhũng. Cáo buộc rửa tiền của các “Thái tử Đảng” Trung Quốc, đặc biệt là ở British Virgin Islands đã đặt ra câu hỏi: "Có hay không những quốc gia có thể chế chính trị giống Bắc Kinh theo gót chân họ, như Việt Nam, Triều tiên....".
Điểm đáng chú ý là trong danh sách "đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI)" mà Bộ Kế Hoạch và Đầu tư Việt Nam công bố, British Virgin Islands, nơi bị cho là điểm rửa tiền chính của Thái tử Đảng TQ, cũng chính là nơi đã đầu tư vào Việt Nam 15 tỷ USD, tính đến cuối năm 2012. Nếu tính thêm nơi thứ hai là Cayman Island thì tổng số tiền đầu tư vào Việt Nam từ nhiều nguồn khác nhau lên tới 23 tỷ và nếu tính tất cả các hòn đảo nhỏ, lên tới 30 tỷ USD, tương đương 14% tổng FDI vào Việt Nam tính tới cuối 2012.
Tiến sĩ Vũ Quang Việt, cựu chuyên gia thống kê của Liên Hợp Quốc nhận định: “Từ Việt Nam, ngoài cách xách tiền bằng vali, cách chuyển được làm phổ biến là đầu tư vào bất động sản, rồi đem bán và chuyển chính thức sang nước ngoài, khi đã định cư được một người trong gia đình ở nước ngoài. Đi du học rồi cưới người bản xứ là cách định cư người ra nước ngoài. “Cách làm này là cách làm cò con”, ông Việt nhận định.
Tiến sĩ Việt mô tả "Cách làm lớn của các đại gia" là mở công ty ở British Virgin Island hay Caymans Islands. “Các đại gia sẽ không cần chuyển tiền lậu ra nước ngoài, vì có thể bị bắt, mà mở công ty. Khi công ty đã được mở ở British Virgin Island hay Caymans Island, công ty của họ chỉ cần gửi hóa đơn tính dịch vụ phí một công ty ở Việt Nam (Hóa đơn dịch vụ). “Đồng tiền đen (tham nhũng) ở Việt Nam theo đó sẽ được chuyển ra ngoài một cách hợp pháp. “Các công ty này khi có đủ tiền thì lại đầu tư lại vào Việt Nam, tức là đưa tài sản ngược lại Việt Nam, hợp pháp hóa toàn bộ số tiền tham nhũng. “Với tài sản có sẵn, họ lại thu mua các công ty nhà nước được cổ phần hóa (với giá rẻ mạt), điều đã từng xảy ra ở Nga và Trung Quốc”...
(v) Cuộc điều tra cũng phát hiện rằng các tập đoàn PricewaterhouseCoopers, UBS, Credit Suisse và một số ngân hàng phương Tây khác đã đóng vai trò môi giới tí́ch cực cho các khách hàng Trung Quốc thiết lập tài khoản ở ngoại quốc. Ba tập đoàn dầu khí hàng đầu của Trung Quốc: CNPC, Sinopec và CNOOC - đều có quan hệ với hàng chục công ty đặt tại British Virgin Islands và các nơi khác...
(iv) Hùng Cường (VOV): Trung Quốc có thể bị Mỹ đánh bại trong vòng 1 giờ, theo Tạp chí Expert
Theo nhận định của tạp chí Expert (Nga) có trụ sở đặt tại Moscow, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) có thể bị đánh bại chỉ trong 1 giờ nếu xảy ra 1 cuộc chiến tranh hạt nhân toàn diện giữa Trung Quốc và Mỹ.
Các chuyên gia quân sự trên thế giới đã không ít lần cảnh báo Mỹ không nên đánh giá thấp năng lực hạt nhân của Quân đoàn pháo binh số 2 – lực lượng tên lửa chiến lược của Trung Quốc. Tuy nhiên, bài viết được đăng tải trên tạp chí Expert cho rằng, nhiều công nghệ mà quân đội Trung Quốc hiện đang sử dụng có từ thời Liên Xô cũ. Theo tạp chí Expert, công nghệ tiên tiến nhất mà các lực lượng hạt nhân của Trung Quốc đang áp dụng là những công nghệ có từ năm 1991.
Trên thực tế Trung Quốc vẫn chưa thực sự xây dựng được năng lực hạt nhân “3 mũi nhọn” có khả năng thách thức Mỹ, bao gồm: (i) các loại máy bay ném bom chiến lược, (ii) tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) và (iii) tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm. Quân đoàn pháo binh số 2 cũng không thể cạnh tranh với Mỹ về số lượng đầu đạn hạt nhân hiện có. Do đó, theo Expert, Trung Quốc có khả năng sẽ bị đánh bại trong một cuộc chiến tranh hạt nhân toàn diện với Mỹ chỉ trong vòng chưa đầy 1 giờ.
Chuyên gia Vasily Kashin của Trung tâm Phân tích chiến lược và công nghệ có trụ sở ở Moscow nhận định rằng, tên lửa liên lục địa Đông Phong-5 (DP-5) hiện được trang bị cho Quân đoàn pháo binh số 2 có khả năng bắn tới Mỹ. Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ phải mất ít nhất 2 giờ chuẩn bị để có thể tiến hành phóng DF-5, như vậy cũng đồng nghĩa với việc DF-5 có thể dễ dàng bị tiêu diệt ngay khi còn ở trên bệ phóng. Trong khi đó, tên lửa DF-4 chỉ có tầm bắn 5.500 km, như vậy sẽ không thể bắn tới lãnh thổ Mỹ.
Cũng theo tạp chí Expert, Trung Quốc đang phát triển loại tên lửa DF-31A, với tầm bắn lên đến 11.000 km. Loại tên lửa này có thể đe dọa các mục tiêu thuộc vùng biển phía tây nước Mỹ, bao gồm cả thành phố Los Angeles, bang California.
Tuy nhiên, Mỹ lại có ít nhất 2.000 tên lửa đạn đạo tiên tiến có khả năng tương tự như DF-31A. Bên cạnh đó, cả DF- 31 và DF-31A bị giới hạn chỉ có thể mang theo 1 đầu đạn hạt nhân.
Tạp chí Expert cho rằng, Trung Quốc hiện đang đầu tư nguồn lực để phát triển thế hệ tên lửa DF-41 có tầm bắn 14.000 km. Một quả tên lửa DF-41 có khả năng mang theo nhiều đầu đạn hạt nhân, mặc dù vậy, theo các chuyên gia, quân đội Trung Quốc không thể được trang bị loại tên lửa mới này trong tương lai gần. Theo nhận định của các chuyên gia, phải mất ít nhất từ 20 đến 30 năm để Trung Quốc có thể triển khai tên lửa đạn đạo thế hệ mới này cho tiền tuyến sau khi khởi động các cuộc thử nghiệm đầu tiên.
Đề cập đến thế hệ tầu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo Type 094 lớp Jin của Trung Quốc, bài báo cho biết, Type 094 được trang bị tên lửa JL-2 có tầm bắn 8.000km. Tuy nhiên, theo các chuyên gia phân tích của Lầu Năm Góc, tàu ngầm Type 094 chỉ có thể sánh ngang với các tàu ngầm của Liên Xô trong những năm 1970. Ngoài ra, sẽ phải mất ít nhất 5 năm nữa, chiếc tàu ngầm hạt nhân lớp Jin đầu tiên mới có thể bắt đầu phục vụ trong biên chế hải quân Trung Quốc.
Trong khi đó, Trung Quốc cũng có 1 trung đoàn máy bay ném bom chiến lược H-6K được thiết kế dựa trên nguyên mẫu là chiếc máy bay ném bom Tupolev Tu- 16 của Liên Xô – loại máy bay lần đầu tiên được sản xuất vào những năm 1950. Theo tạp chí Expert, dù H-6K đã được nâng cấp với động cơ D- 30KP và tên lửa hành trình CJ- 10 nhưng Trung Quốc vẫn chưa thể phát triển loại đầu đạn hạt nhân cỡ nhỏ để trang bị cho loại máy bay ném bom chiến lược này.
(v) Hiroyuki Noguchi (Chuyên gia Nhật): Cam Ranh là khắc tinh của “đường lưỡi bò”
Lê Trí: Theo Hiroyuki Noguchi với địa thế hiểm yếu và độc đáo đặc biệt trên “bàn cờ” toàn khu vực Đông Nam Á, vịnh Cam Ranh của Việt Nam có thể là “thanh kiếm sắc” chặn đứng mưu đồ “thò” ra Biển Đông của “đường lưỡi bò” do Trung Quốc tự vẽ.Trong bài viết mới đây trên nhật báo “Sankei Express” của Nhật Bản, chuyên gia bình luận chính trị Hiroyuki Noguchi đã thẳng thắn vạch ra âm mưu đen tối của Bắc Kinh khi đơn phương vẽ ra cái gọi là “đường chín đoạn” (đường lưỡi bò) bao trùm tới 80% diện tích Biển Đông, bao gồm cả 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, để tuyên bố chủ quyền lãnh hải của họ.
Hiroyuki Noguchi viết, “Đáng chú ý là nếu dùng một cái que xiên lưỡi bò này từ Đông sang Tây, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra Trung Quốc đang có ý đồ nhòm ngó hai quân cảng quan trọng là Cam Ranh của Việt Nam và Subic của Philippines”.
Năm 2012, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã nhấn mạnh đến mối quan hệ tốt đẹp Việt-Mỹ trước các tướng lĩnh trên tàu hậu cần của Hải quân Mỹ khi đó đang neo đậu tại vịnh Cam Ranh. Năm 2012, Việt Nam cũng cho biết sẽ chấp nhận để tàu chiến Nga neo đậu ở Cam Ranh.Trong bối cảnh đó, Việt Nam tuyên bố chính thức mở cửa cảng Cam Ranh cho các tàu quân sự như tàu sân bay và tàu ngầm nước ngoài neo đậu. Một khi cả Nga và Mỹ đều sửa chữa và tiếp vận ở vịnh Cam Ranh thì hiệu quả kiềm chế Trung Quốc là rất lớn.
Theo “gợi ý” của ông Hiroyuki Noguchi, nếu kết hợp với vịnh Subic của Philippines, Cam Ranh sẽ tạo thành 2 cánh kéo sắc có thể khống chế sự bành trướng của đường lưỡi bò. Năm 2010, Việt Nam và Philippines đã ký bản ghi nhớ hợp tác quốc phòng.“Khi cả Hà Nội và Manila cùng tăng cường thế trận “chung chiến hào” để phản đối đường lưỡi bò của Trung Quốc, các cường quốc ở Thái Bình Dương như Mỹ, Nhật Bản và Australia sẽ phải tính chuyện sử dụng sao cho hiệu quả nhất cả hai quân cảng Cam Ranh và Subic trong thế trận này”, ông Hiroyuki Noguchi kết luận.
(4) Ngô Minh
Nhân giỗ lần thứ 19 nhà thơ Phùng Quán (1995-2014)
LỜI MẸ DẶN: Tuyên Ngôn Của Người Cầm Bút
Bài thơ “ Chống tham ô lãng phí “ trong Giai phẩm mùa Thu số I (9-1956) của Phùng Quán được những nguời cực đoan thời đó đánh giá là một bài thơ “nói xấu chế độ”, “chống đảng”, là “phản động”. Sau nhiều lần học tập, viết bản tự kiểm điểm, bị “đấu tố” gay gắt , Phùng Quán có nguy cơ bị khai trừ ra khỏi Hội Nhà văn, bị đưa ra khỏi biên chế Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nơi anh đã dấn thân theo Vệ Quốc đoàn từ tuổi thiếu niên, rồi phải đi “lao động cải tạo” nhiều năm. Thực tế gần một năm sau, tức đến năm 1958 những hình thức kỷ luật này mới được thi hành, nhưng lúc đó ai cũng đã biết trước bản án dành cho “bọn nhân văn”. Đối với người miền Nam xa quê hương , thân cô thế cô giữa phố phường Hà Nội như Phùng Quán, nguy cơ bị kỷ luật như thế là rất đáng sợ. Bị coi là “phản động”, ai cũng tìm cách xa lánh, lại bị tách khỏi môi trường lính quen thuộc, xa đồng chí, bạn bè dễ làm người thanh niên trẻ tuổi dễ trở nên hoang mang tuyệt vọng , dễ dẫn đến bệnh tâm thần hoặc tìm đến cái chết. Nhưng Phùng Quán thì không. Anh vẫn sống và sáng tác hay hơn, quyết liệt hơn. Sau khi báo Nhân Văn-Giai phẩm bị đình bản, năm 1957, Nhà nước cho phép Hội Văn nghệ xuất bản tuần báo Văn do nhà văn Nguyễn Công Hoan làm chủ bút với mục đích chấn chỉnh lại tình hình văn nghệ lúc ấy. Phùng Quán đã xuất hiện trên báo Văn số 21, ra ngày 27-9-1957 với bài thơ Lời mẹ dặn gây xôn xao dư luận. Lập tức bài thơ được nhiều người chép, thuộc như là một tuyên ngôn sống, tuyên ngôn cầm bút của văn nghệ sĩ . Nhưng bài thơ một lần nữa lại làm cho Phùng Quán lâm vào tai tương nặng hơn.
Lời mẹ dặn là bài thơ tự sự rất dễ hiểu, dễ thuộc, không có gì mới lạ về cấu trúc, ngôn ngữ thơ, không có gì là “biểu tượng hai mặt” cả. (“Biểu tượng hai mặt” là cụm từ mà thời đó hay dùng để những tác phẩm văn học “có vấn đề”, thực ra văn chương càng đa nghĩa mới hay). Nhưng Lời mẹ dặn lại chứa đựng một tư tưởng nhân văn cực kỳ lớn lao, thể hiện bản lĩnh cao cường của tác giả trước cuộc đời. Vì thế nó đã trở thành một “kiệt tác” thơ Việt thế kỷ XX. Mở đầu bài thơ, nhà thơ kể chuyện tỉ tê rất văn xuôi như không có gì đáng chú ý : “Tôi mồ côi cha năm hai tuổi/ Mẹ tôi thương tôi không lấy chồng…/ Ngày ấy tôi mới lên năm/ Có lần tôi nói dối mẹ/ Hôm sau tưởng phải ăn đòn /
Nhưng không mẹ tôi chỉ buồn / Ôm tôi hôn lên mái tóc…
Con ơi...trước khi nhắm mắt / Cha con dặn con suốt đời / Phải làm một người chân thật
Đến đây thì tư tưởng bài thơ bắt đầu xuất hiện. “Mẹ ơi chân thật là gì ?”- Đúng là câu hỏi rất ngây thơ của một đứa trẻ lên năm, nhưng lại là một câu hỏi lớn, rất khó trả lời đối với không ít người lớn giữa trường đời đen bạc. “Chân thật”, bản tính hồn nhiên của con người đang bị méo mó, mai một, biến dạng dần đi do mọi người phải tìm cách bon chen, nịnh hót, nói dối, lừa lọc để tồn tại hoặc để được vinh thân phì gia. Thậm chí có người đã không chân thật rồi, lại còn ghét những người chân thật. Tục ngữ ta có câu “Nói thật mất lòng”. Đó là thực tế vô cùng trớ trêu của con người. Nhớ lời mẹ dặn, từ nhỏ, người lớn hỏi Phùng Quán:” Bé ơi, bé yêu ai nhất ? – Bé yêu những người chân thật. Từ chỗ phải làm người chân thật đến thái độ “yêu những người chân thật” là đi từ mình đến xã hội rộng lớn.
Mẹ tôi hôn lên đôi mắt / Con ơi một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười / Thấy buồn muốn khóc là khóc
Câu giải thích bước đầu của người mẹ cho con vô cũng dễ hiểu. Thấy vui muốn cười là cười- thấy buồn muốn khóc là khóc. Nhưng đó là một chân lý sâu xa, một phương ngôn sống. Vì con người từ khi lọt lòng mẹ là thế, đó là bản tính tự nhiên không thể khác được. Nhưng chân lý giản đơn ấy làm nhiều người ngạc nhiên tán thưởng, bởi vì đã từ lâu trong xã hội ta con người luôn sống ngược lại với ý nghĩ của mình, không dám nói thật ý nghĩ của mình. Có khi vui mà dối lòng không cười được. Khi buồn lại nén lòng mà cười để mong làm vui lòng người khác. Sống dối lòng như thế con người dần dà bị biến thành một kẻ dối trá! Một người dối trá. Trăm người dối trá. Triệu người dối trá. Một xã hội người dối trá!
Sau cười khóc hồn nhiên là đến chuyện yêu ghét, một cấp độ cao hơn của thái độ và nhận thức, ứng xử của con người trong cộng đồng:
Yêu ai cứ bảo là yêu / Ghét ai cứ bảo là ghét.
Nhắc đến nhà thơ Phùng Quán là người ta nhớ ngay đến “Yêu ai cứ bảo là yêu- Ghét ai cứ bảo là ghét”. Hai câu đó đã thành biểu tượng tinh thần, ý chí của anh. Yêu ghét rạch ròi là thái độ sống của người quân tử, của kẻ sĩ ở đời. Thái độ dứt khoát thể hiện ở động từ “ cứ bảo”. Cứ bảo là nói ngay, nói không cần đắn đo, suy tính. Nhưng sự đời không phải bao giờ cũng “ Yêu ai cứ bảo là yêu- Ghét ai cứ bảo là ghét” được, mà có rất nhiều sức ép buộc con người phải nói khác ý mình đi, dối trá, biến mình thành tôi tớ, “nói theo nói leo” làm lợi cho những người có thế lực có tiền bạc. Vấn đề là anh có đủ dũng khí để yêu là nói yêu, ghét là nói ghét hay không. Đoạn thơ sau đây là một cung bậc cao hơn, có thể gọi là thái độ bất khuất, không chịu luồn cúi của tác giả trước những thế lực cường quyền:
Yêu ai cứ bảo là yêu / Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều / Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao doạ giết / Cũng không nói ghét thành yêu
Đây là đoạn thơ hay nhất trong bài thơ, đã thành chân lý vĩnh hằng trong lòng người yêu thơ Việt Nam từ 50 năm qua, đọc lên nghe như kinh nguyện. Nói yêu thành ghét- nói ghét thành yêu chính là bản chất của những kẻ cơ hội, tâm địa xấu xa, hèn yếu. Chỉ cần kẻ xấu “ngon ngọt nuông chiều”, hứa hẹn tiền tài địa vị hoặc “cầm dao doạ giết” là ngoan ngoan nói và làm theo chúng. Lịch sử Việt Nam đã có nhiều danh nhân vĩ đại nêu tấm gương trung nghĩa, không khuất phục trước cường quyền như Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Quốc Toản, Cao Bá Quát, Lê Lợi, Trương Định, Vua Hàm Nghi.v.v..cùng hàng ngàn chiến sĩ kiên trung trong các nhà tù hay trên các pháp trường của thực dân đế quốc trong hai cuộc kháng chiến…Chỉ mấy câu thơ của Lý Thường Kiệt trước quân nhà Tống phương Bắc cách đây gần 1000 năm thôi, cũng đủ nói lên ý chí chí đó của người quân tử nước Nam : Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư / Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm / Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư . Ngược lại, nhiều việc nói theo người cầm quyền, làm theo ý đồ ngoại bang đã gây ra nhiều thảm hoạ đau thương cho nhân dân, đất nước. Từ chỗ sợ sệt, người ta trở nên hèn nhát. Một thời xứ ta sinh ra không ít “trí thức hèn”, “nhà văn hèn”. Những “Đại nhân hèn” ấy chỉ cần chìa ra trước mặt một ít bổng lộc, một tí chức tước quèn thôi đã không dám mở miệng nói chính kiến của mình, dù biết cấp trên nói sai, làm sai, vẫn ngoan ngoãn vâng lời. Cứ như thế ở xứ ta đã đào tạo ra nhiều thế hệ “người hèn” ”gọi : dạ, bảo: vâng”, không còn tính độc lập suy nghĩ của người quân tử.
Từ chuyện “chân thật”, “khóc cười”,“yêu ghét”, nhà thơ đã đưa người đọc đến bản lĩnh người cầm bút. Đây là mục tiêu cuối cùng mà bài thơ muốn đạt tới:
Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi / Đứa bé mồ côi thành nhà văn
Nhưng lời mẹ dăn thuở lên năm / Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ
Người làm xiếc đi trên dây rất khó / Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn / Đi trọn đời trên con đường chân thật
Đoạn thơ này chứng tỏ Phùng Quán nhận thức rất rõ một điều : Vì làm nhà văn chân thật là rất khó, nên đã có không ít nhà văn không đi trọn đời trên con đường chân thật. Trước sức ép của cường quyền, nhiều nhà văn đã cam tâm “bẻ cong ngòi bút”, phục vụ cho những mục đích xấu xa. Ca ngợi cái xấu, đả kích cái tốt. Nhà thơ Xuân Sách đã vẽ rất chính xác chân dung méo mó, khốn khổ của hàng trăm nhà văn Việt Nam một thời qua tập thơ Chân dung nhà văn, vì lý do này lý do khác, đã không đi trọn đời trên con đường chân thật! Còn Phùng Quán thì tuyên chiến với thói nịnh bợ, giả dối:
Tôi muốn làm nhà thơ chân thật / Chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt lưỡi tôi / Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi / Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.
Bài thơ lớp lang, đầy triết lý “sống thật, yêu thật, nói thật, viết thật”, thật đến tận cùng. Đoạn kết bài thơ là một tuyên ngôn sống, tuyên ngôn thơ. Mới 25 tuổi đời mà viết như thế là bản lĩnh, tiết tháo lắm lắm. Điều đáng khâm phục hơn là Phùng Quán suốt cuộc đời mình cho đến khi “nằm dài dưới đáy huyệt” đã sống như thế, viết như thế. Năm 1984, gần 30 năm, khi về thăm quê nội Huế, trong tiểu thuyết tình 13 chương bằng thơ “Trăng Hoàng Cung” , Phùng Quán một lần nữa nhắc lại tuyên ngôn này trong bài thơ “Tôi thích viết trên giấy có kẻ dòng”: Là nhà văn / Tôi yêu tha thiết / Sự ngay thẳng tột cùng / Ngày thẳng thuỷ chung / Của mỗi dòng chữ viết.
50 năm qua, bài thơ “Lời mẹ dặn” đã trở thành tài sản tâm hồn của bao thế hệ thanh niên Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc. Hồi tôi sưu tầm tài liệu để biên soạn cuốn “ Nhớ Phùng Quán”( NXB Trẻ, 2002), nhạc sỹ Phạm Duy ở nước ngoài đã gửi bản nhạc phổ bài thơ Lời mẹ dặn của Phùng Quán in trong tập“Tập nhạc Phạm Duy”(NXB Hồng Lĩnh USA, 1994) về cho nhà văn Nguyễn Đắc Xuân, nhờ chuyển cho chị Vũ Thị Bội Trâm với lời đề tặng “Kính tặng gia đình Phùng Quán”. Tôi đã coppy một bản để in vào sách, Nhưng bài hát này không nằm trong quy định các bài hát của Phạm Duy được hát của Bộ Văn hoá thông tin lúc đó, nên thôi. Mới đây, Trung tâm Văn hoá doanh nhân và Nhà xuất bản giáo dục đã tổ chức bình chọn 100 bài thơ Việt hay nhất thế kỷ XX. Tuy việc bình chọn thiếu chuẩn mực, có nhiều ý kiến không đồng tình với cách chọn và nhiều tác giả thơ, nhiều bài thơ được chọn không xứng đáng là thơ hay, chứ chưa nói “ hay nhất thế kỷ”. Nhà thơ Bằng Việt cho rằng chỉ 50% bài thơ là hay, còn nhà thơ Trần Mạnh Hảo thì nói” đó là tập thơ” 30 bài thơ hay và 70 bài thơ dở của thế kỷ XX”. Nhưng việc chọn bài thơ Lời mẹ dặn của Phùng Quán là một trong những “bài thơ Việt hay nhất thế kỷ XX”, theo tôi là hoàn toàn chính xác. Thế nhưng, khi bài thơ ra đời, đã có nhiều nhà phê bình cho là bài thơ “mang biểu tượng hai mặt”, với ý đồ xấu. Ô hay, văn chương càng đa nghĩa càng hay, sao chỉ mới “hai mặt” đã kêu. Trong bài “Vạch thêm những hoạt động đen tối của một số kẻ cầm đầu trong nhóm Nhân văn-Giai phẩm” của Từ Bích Hoàng in trên Văn nghệ Quân đội số 5 (5/1958) có đoạn:” Phùng Quán làm bài thơ Lời mẹ dặn , Trần Dần, Văn Cao kéo Quán đi khao chả cá. Văn Cao khen :” Phùng Quán viết khá, không đánh vào hiện tượng mà đả thẳng vào bản chất. Những sáng tác kiểu hai mặt như thế nhan nhản ra đời…”. Có tờ báo lớn còn in hẳn bài thơ “ Lời mẹ dăn- Thật hay không ?” ký tên Trúc Chi dài 112 câu, chửi bới , nhiếc móc thậm tệ tác giả Lời mẹ dặn . Xin trích mấy đoạn ngắn: …Nó ghét chỗ thầy hiền bạn tốt / Nó yêu nơi gái điếm cao bồi / Ghét những người đáng yêu của thiên hạ / Yêu những người đáng ghét của muôn người, / Quen học thói gà đồng mèo mả / Hoá ra thân chó mái chim mồi / ........ / Theo lẽ thường: thì sét đánh không ngã / Chắc trên đầu có cột thu lôi / Nếm đường mật lưỡi không biết ngọt / Chắc ăn tham vị giác hỏng rồi / Nghề bút giấy đã làm không trọn / Dùng dao khắc đá cũng xoàng thôi !......
Tác giả bài thơ “ Lời mẹ dặn- Thật hay không ?” dùng lời lẽ côn đồ, hàng tôm hàng cá, nhưng lại không hiểu những ý nghĩa, triết lý nhân văn cao sâu của những ý thơ Phùng Quán. Phùng Quán viết rằng yêu ai, ghét ai phải nói cho thật lòng, sống cho thật lòng. Nhưng Trúc Chi lại thuyết phải nên yêu ai, nên ghét ai. Hay những câu thơ Đường mật công danh không làm ngọt lưỡi tôi / Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã / Bút giấy tôi ai cướp giật đi / Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá là hình ảnh biểu tượng, nghĩa bóng, Trúc Chi lại hiểu theo nghĩa tục, nên lên giọng mỉa mai. Vì thế bài thơ Lời mẹ dặn, cùng với bài Chống tham ô lãng phí là hai bài thơ làm cho tác giả của nó trở thành một tên trong bộ “bộ tứ” nhân văn giai phẩm, bị “đánh” tơi bời, phải “30 năm cá chịu, văn chui, rượu nợ”
Sinh thời, nhà văn Phùng Quán kể với tôi rằng, khi đọc bài thơ Lời mẹ dặn - Thật hay không? trên đăng trên một báo lớn, anh vừa buồn cười và tức giận. Anh quyết tâm tìm cho ra Trúc Chi là ai để “đối thoại trực tiếp” cho ra lẽ. Vì không thể hiểu nội dung bài thơ Lời mẹ dặn một cách thô thiển như thế được. Ở Hải Phòng có nhà văn Trúc Chi quê Phú Yên, nhỏ hơn Phùng Quán ba tuổi, là nhà văn miền Nam tập kết.Trúc Chi rất thân với Phùng Quán. Nhiều anh em bạn bè cho rằng, có thể Trúc Chi đã “phản bạn” để “xưng công”(!?). Phùng Quán buồn lắm. Anh quyết định cầm tờ báo Nhân Dân có in bài thơ “Lời mẹ dăn- Thật hay không?” nhảy tàu hoả xuống Hải Phòng tìm đến nhà Trúc Chi. Gặp nhau, nhà văn Trúc Chi rất mừng rỡ, nhưng khi Phùng Quán cho xem tờ báo thì Trúc Chi ngớ ra :” Lời mẹ dặn là bài thơ rất hay, mình thuộc lòng. Mình là người đàng hoàng, làm sao lại có thể viết bài thơ chửi bới tệ hại đối với cậu như thế được !”. Mãi đến năm 1989, có người gửi cho Phùng Quán tập thơ “Một đôi vần” của ông quan lớn Hoàng Văn Hoan, do Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc Việt Bắc ấn hành, trong đó có bài thơ “ Lời mẹ dặn- Thật hay không?”. Nhà văn Xuân Đài, bạn chí thân của anh Phùng Quán trong suốt 30 năm bị biếm của đời anh, hiện đang sống và viết ở Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận việc này là chính xác. Nhưng khi đó thì Hoàng Văn Hoan đã “tị nạn chính trị” tại Trung Quốc (rồi sau này chết chôn ở bên đó).
Mỗi bài thơ đều có số phận của nó. Lời mẹ dặn, là một tuyệt tác thơ của dân tộc, dù bị chửi bới, vùi dập, nó vẫn sống mãi với thời gian, sống mãi trong lòng người yêu thơ. Yêu ai cứ bảo là yêu. Ghét ai cứ bảo là ghét. Dù ai cầm dao doạ giết...Cũng không nói ghét thành yêu…Giấy bút tôi ai cướp giật đi / Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá. Năm 2010, xây dựng lăng mộ anh chị Phùng Quán- Bội Trâm, chúng tôi đã khắc trích đoạn bài thơ Lời mẹ dặn lên đá granit nặng tám người khênh, đặt trước mộ như lời nguyền của nhà thơ!
(5) Thơ Xuân từ Bạn bè gởi
(i) Văn Thùy
Tạng thơ
Bút danh hỏa táng dọc đường
Giọng không cháy có vấn vương màu người.
Trớ trêu cái nắng đa tình
Đổ xô cái bóng chúng mình đè nhau.
Vết chấn đi mãi thành đường
Vết môi một quệt yêu đương thành người
Làm thơ cầu lợi cầu danh
Tuổi tên sớm muộn cũng thành khói mây
Người xuân đắc ý khuôn xuân
Ta đành đem tuổi bát tuần chặt đôi
Người đi mắc chứng thông manh
Chân sai cứ đổ vạ thành đường sai.
Ngày xuân đội chữ lên chùa
Véo câu lục bát bỏ bùa vú chuông.
(ii) Nguyễn Khôi
Giáp Tết về quê viếng mộ mẹ chaCả năm bươn trải nơi đất khách
Tết về Làng viếng mộ mẹ cha
Được đi chân đất trên bờ cỏ
Cho thấm hồn quê tới thịt da,
Thật hạnh phúc cha nằm bên mẹ
Đám cỏ Gà đan võng níu hai thân
- Chà, Vua chúa trong Lăng ngạo nghễ
Chắc gì hơn nấm đất đồng Làng ?
Kính cẩn thầm khấn hồn cha mẹ :
"Thầy Đẻ ơi, Khôi đã về đây
thằng Cò nhỏ - mẹ thương, cha dậy
là con trai cho cha mẹ tự hào.
Hương khói xóm giềng, thổ công, tiên tổ
Chút quả thơm, hoa hái vườn nhà :
-Các Cụ linh thiêng hãy về phù hộ
Cho lũ cháu con mải kiếm ăn xa...
30 tết, sắp đà 30 tết
Con ở xa sung sướng trở về
Cứ như thuở nhà tre lợp rạ
Có mẹ cha mái ấm chở che. (Quê Kinh Bắc 20-1-2014).23 Tháng CHẠP Cùng Vợ Lên Thăm Mộ Bố Vợ Bố - trai Hải Phòng
Người chiến sĩ Điện Biên theo cụ Hồ
đánh Pháp, đánh Mỹ, đánh Tàu...
Cứu Nước- Được "Độc lập - Tự Do"
trọn một đời gian khổ
- Mất đất
mất nhà
mất vợ
- Còn: một mụn Con Gái vất vơ
-Chết: lấy mồ làm nơi Thờ Tự.
Thăm lễ Bố, 2 vợ chồng chúng con có:
một thẻ hương thơm
vài bông hoa nhỏ
Mong Người thanh thỏa linh hồn
thương con phù hộ...
3 chén rượu quê
rót xuống
nấm mồ cô đơn (ở nơi xa lạ)
Rối ai thờ tự?
Kính Bố! (Nghĩa trang Thanh Tước 23-1-2014).
(iii) Kha Tiệm LyRượu với Tống GiangĐệ với ta chênh nhau mấy trăm năm,
Mà gang tấc một đời chánh khí.
Ai dám bảo bút, gươm không tri kỉ?
Ta gươm rừng người, đệ bút rừng văn.
Ta uống rượu không cần mỹ nữ,
Một bên gươm, bên khí phách ngang tàng.
Bên bè bạn, bên một bồ thi phú,
Cũng say mèm, cũng rượu rót chan chan.
Uống nữa đi, rượu nung bầu chí khí,
Múa gươm đi, gượm rực máu giang hồ.
Một nhát gươm khiếp hồn loài quỷ mị,
Một vần thơ sang sảng ánh sao Ngâu.
Thân treo đầu kiếm ta không ngại,
Thì có ra gì một miếng đỉnh chung.
Ta rừng kiếm, khoa gươm trừ vô lại,
Đệ rừng văn, múa bút luận anh hùng.
Kha kha! Thơ ngâm, gươm múa tàng tàng.
Lương sơn hề, tụ nghĩa.
Triều đình hề, củi mục làm quan!
Chí khí hề, gươm tôi đúng lửa,
Trượng phu hề, không thẹn với giang san!.
Loang loáng thước gươm, chọc trời khuấy nước,
Sang sảng lời thơ, xuyên thủng mấy tầng xanh.
Dựng cờ nghĩa, nhắn cùng người sau biết,
Đất nước nầy không thiếu đấng hùng anh!
Khi tham quan vẫn còn ngoài ánh sáng,
Thì lê dân còn khổ dưới màn đêm.
Lửa uất hận trào sôi lên lưỡi thép,
Cùng một lời, ngàn dặm cũng anh em.
Núi Lương Sơn cao ngời khí thế,
Đá Lương Sơn kiên định một lời nguyền.
Còn Lương Sơn, vẫn còn người hảo hán,
Còn Lương sơn. không còn chỗ bạo quyền.
Còn Lương Sơn, không còn quân hại nước,
Còn Lương Sơn, còn tấc đất biên cương!
Ta đeo kiếm báu, trọn đời trung liệt,
Đệ phóng lời thơ, đều rõ nhục vinh.
Gươm và bút, chép thành trang sử biếc,
Chẳng thẹn người xưa, chẳng thẹn với mình.