THAY LỜI CHÀO MỪNG!

THAY LỜI CHÀO MỪNG!

LỜI CHÀO MỪNG

CẢM ƠN QUÝ THÂN HỮU ĐÃ MỞ CỬA VÀO NGÔI NHÀ ĐƠN SƠ "QUA DẤU BỤI THỜI GIAN" CỦA
TRẦN KIÊU BẠC.




Sunday, October 12, 2014

BUON TRONG MUA LU, THO TRAN KIEU BA, HONG VAN DIEN NGAM

Saturday, October 11, 2014

Biên Hòa Memories #494 / Áo dài Việt Nam.

NHÌN LẠI KỶ NIỆM TRƯƠNG NGÔ QUYỀN - BIÊN HOÀ!

GIỌT NƯỚC MẮT CỦA THẦY PHẠM ĐỨC BẢO
Thầy Phạm Đức Bảo đã một lần khóc trong nỗi buồn “khóc lá xanh rơi”. Tuổi thầy đã cao với bao lần nhập viện, trí nhớ đã dần xa, đôi mắt không còn tinh anh, và đôi vai gồng gánh nỗi đau cái còn cái mất. Tên ngôi trường cũ Ngô Quyền vẫn còn đó, đồng nghiệp và môn sinh vẫn còn đây, dù đã mai một với thời gian. Về trường xưa hãy ghi nhớ điều này "Ngô Quyền ơi! Có nhớ chăng thầy Bảo đã khóc."
Hình ảnh của thầy Phạm Đức Bảo ngày nào vẫn còn in trong trí của bao lớp cựu học sinh Ngô Quyền  “dáng oai nghiêm nhưng thương học trò quá đỗi”.
thayBao1
Năm tôi học lục 4 hay ngũ 4 Thầy Bảo có dạy hình như môn công dân giáo dục thì phải, ngoài lớp thầy nghiêm khắc nhưng vào lớp thầy Bảo lại rất hiền. Tôi có được 7 năm  theo học trường trung học Ngô Quyền Biên Hòa với thời gian thầy Phạm Đức Bảo làm hiệu trường,  thầy đã phục vụ cho trường Ngô Quyền từ năm 1961 đến 1973.  Với thầy Phạm Đức Bảo thời gian 12 năm cũng đủ đong đầy. Những năm trước tôi có những đàn anh và sau tôi có lớp đàn em, chắc họ cũng giống như tôi, sẽ không quên công ơn của Thầy Phạm Đức Bảo. Một người thầy Hiệu trưởng  đã có một đời sống  lý tưởng dày công  xây dựng cho trường trung học Ngô Quyền Biên Hòa.
Còn hơn thế nữa với cả tấm lòng qua tâm tình cuối đời của thầy Bảo dành cho đồng nghiệp và học trò ngày xưa:
''...tôi không bao giờ quên được ông Phan Thanh Hoài, một người đồng nghiệp đã giúp đỡ rất nhiều khi tôi làm Hiệu Trưởng Ngô Quyền từ 1961-1964, và cũng không quên được những người bạn cũ, ông Lê Hồng Sanh hiện ở Fair Fax, Virginia, ông Nguyễn Văn Sơ ở Biên Hòa v.v… cùng các cố nhân của tôi ở BH. Cám ơn các em học sinh Ngô Quyền hải ngoại và ở quê nhà với tấm lòng nhớ tới những người đã đi trước dìu dắt các em thành nhân và thành thân.."
Khi còn ngoài Bắc, thầy Phạm Đức Bảo đã chọn ngành dạy học, cùng dạy chung với thầy Phạm Khắc Thành tại trường Đức Trí Hải Phòng. Năm 1954 cùng di cư vào Nam. Những năm đầu thầy Bảo và thầy Thành tiếp tục dạy tại trường Phan Bội Châu Đà Nẵng. Tình bạn tình đồng nghiệp, thầy Bảo và thầy Thành vẫn giữ trọn. Khi thầy Phạm Đức Bảo về nhận hiệu trưởng trường trung học Ngô Quyền đã mời thầy Phạm Khắc Thành về làm Giám Học trong khi thầy Phạm Khắc Thành đang dạy trường trung học Hồ Ngọc Cẩn tại Sài Gòn. Và năm 1973 thầy Phạm Khắc Thành đã là Hiệu trường trường Ngô Quyền khi thầy Phạm Đức Bảo nhận nhiệm sở mới.

Những tưởng rằng sẽ tiếp tục dìu dắt học sinh Ngô Quyền Biên Hòa thành những nhân tài phục vụ cho tỉnh nhà và quốc gia, nhưng cuộc diện 1975 đã thay đổi và làm vỡ tan bao ước vọng. Thầy Phạm Đức Bảo cũng đã sống trọn với tư chất con người của mình, dù có đắng cay lẫn ngọt bùi. Đắng cay của những ngày “Giậu đổ bìm leo”ngay ngày đầu  trình diện và ngọt bùi ấm lòng với ly cà phê từ tay của đứa học trò thầy ghét nhất trường là anh Lê văn Thành. Thầy và trò cùng gặp nhau trong  trại giam Tân Hiệp.
Sau bao năm tù tội trở về đã có lần  thăm lại trường xưa, thầy Phạm Đức Bảo một mình đứng thẩn thờ ngay cột điện trước cổng trường. Những hình ảnh cũ chợt sống lại, sự hồn nhiên của tuổi học trò và sự nghiệp dở dang. Quanh đây không ít  những người học trò  cũ của Ngô Quyền, nay  đã là Phó Sở, Trưởng phòng, Trưởng khoa, Giám Đốc, Luật sư thành phố,  bí thư thành đoàn v.v... Nhưng sao đôi mắt của thầy Phạm Đức Bảo lại đẫm lệ với hai hàng nước mắt.

CONGTRUONG
Không còn một ai nhận ra thầy.Từ bên kia đường một người đang bước vội qua, trong bộ đồ lam lủ nghèo nàn nhưng tôn kính:
-Kính chào Thầy. Thầy cố nén sự cảm xúc hỏi lại:
- Em học Ngô Quyền à?
- Dạ, em là Trương Thành Cát, ra trường đi lính ở miền Tây, vừa ở tù ra phải đi làm phụ hồ đây thầy ơi.
Cổng trường  Ngô Quyền cơ hồ vắng lặng, chỉ còn tiếng nấc nghẹn ngào. Thầy và trò cùng khóc…
NGUYỄN HỮU HẠNH

Thursday, October 9, 2014

BÀI THƠ THỜI CHINH CHIẾN!



Lê Thị Ý: Tác giả 'Ngày mai đi nhận xác chồng'
Cuối thập niên 70, trong bối cảnh chiến tranh lên cao điểm, ca khúc “Tưởng Như Còn Người Yêu” do Phạm Duy phổ nhạc từ thơ của Lê Thị Ý gây xúc động lớn lao cho người nghe.
Nhà thơ Lê thị Ý xuất thân trong một gia đình văn nghệ. Người anh lớn là nhà thơ Vương Ðức Lệ, người chị lớn là nhà văn Phượng Kiều và cô em gái là nhà văn Lê Thị Nhị.
Ảnh: Tiếc Thương - Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh
Lê Thị Ý làm thơ rất sớm, từ lúc còn học trung học và viết đều hơn khi theo gia đình vào Nam năm 1954.
Nhân dịp từ Virginia đến California ra mắt tác phẩm mới tại phòng sinh hoạt Lê Ðình Ðiểu của nhật báo Người Việt, bà đã dành cho biên tập viên Ðinh Quang Anh Thái cuộc nói chuyện thân mật sau đây.
-ÐQAThái: Tình khúc “Tưởng Như Còn Người Yêu”, thơ của bà, Phạm Duy phổ nhạc; tựa đề khởi thủy của bài thơ là gì ạ?
-Nhà thơ Lê Thị Ý: Lúc bấy giờ vào năm 1970, tôi viết 10 bài thơ trong tập thơ “Mười Bài Thương Ca”; bài mà Phạm Duy phổ thành ca khúc là “Thương Ca 1”.
-ÐQAThái: Phải chăng chính bà là người góa phụ đi nhận xác chồng trong bài thơ?
-Nhà thơ Lê Thị Ý: (cười thoải mái) Không. Cho tới bây giờ tôi vẫn độc thân.
-ÐQAThái: Vậy, bà lấy cảm xúc từ đâu để viết nên bài thơ bất hủ này?
-Nhà thơ Lê Thị Ý: Lúc đó là năm 1970, tôi sống tại Pleiku. Thành phố nhỏ bé này vào giai đoạn chiến tranh khốc liệt, chỉ thấy lính, vợ lính, xe tăng, xe Jeep; hầu như không thấy gì khác nữa. Nhà tôi ở gần nhà xác của quân đội. Tôi chứng kiến cảnh biết bao các bà đi nhận xác chồng. Tôi thấy đàn bà, con nít đến lật cái poncho quấn xác để nhìn mặt người thân, cảnh đó khiến tôi đau đớn không chịu nổi. Rõ ràng nỗi đau của những người có chồng chết trận là nỗi đau của chính mình. Thành thật, tôi vô cùng xúc động và chính tôi sống bằng hình ảnh những người vợ lính, vợ sĩ quan khóc bên xác chồng. Nỗi buồn đau đó là nỗi buồn đau của mình.
-ÐQAThái: Bài “Thương Ca 1”, Phạm Duy phổ nhạc, ngay khi được phổ biến, đã chiếm tâm hồn người nghe. Nhưng cũng có người lên án bài này “phản chiến”; bà nghĩ sao ạ?
-Nhà thơ Lê Thị Ý: Khi tôi làm thơ, tôi xúc cảm thế nào thì tôi viết ra như thế. Thế thôi. Tôi không nghĩ gì khác cả. Bài thơ được phổ biến cũng là một sự ngẫu nhiên.
Một người bạn của anh Vương Ðức Lệ tôi đến nhà chơi, thấy bài thơ bèn đưa cho cụ Nguyễn Ðức Quỳnh - người trụ trì sinh hoạt “Ðàm Trường Viễn Kiến” ở nhà cụ tại Sài Gòn quy tụ rất nhiều văn nghệ sĩ, trí thức, nhà văn, nhà báo - Cụ Quỳnh đọc, thấy hay bèn đưa cho ông Phạm Duy phổ nhạc. Cho nên, bài thơ của tôi được mọi người thương hoặc cho là phản chiến thì cũng là việc tình cờ thôi, may mắn thôi, chứ tôi không chủ ý trước việc phổ biến bài thơ.
-ÐQAThái: Khi phổ thành ca khúc, hình như Phạm Duy có sửa vài lời trong bài thơ?
-Nhà thơ Lê Thị Ý: Ðúng vậy. Có lẽ ông Phạm Duy sửa vài chữ cho nó hòa hợp với âm điệu bài nhạc hơn. Có câu ông Phạm Duy cắt bớt. Thí dụ câu tôi viết, “Chiếc quan tài phủ cờ màu, hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng” thì Phạm Duy sửa thành “Bây giờ anh phủ mầu cờ” và cắt đi câu thơ kế tiếp.
-ÐQAThái: “Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng”, tại sao lại phũ phàng ạ?
-Nhà thơ Lê Thị Ý: Khi đau đớn thì cái gì cũng phũ phàng cả. Phũ phàng là hình ảnh đau đớn, quằn quại.
-ÐQAThái: Khi nhạc sĩ Phạm Duy đổi chữ và cắt bớt câu thơ như vậy, là tác giả, bà có thấy mất đi nguyên ý khi cảm xúc sáng tác không?
-Nhà thơ Lê Thị Ý: Tôi không nghĩ gì và cũng không thắc mắc, không để ý chuyện đó, vì khi tôi làm thơ, tôi theo vần điệu của thơ, còn ông Phạm Duy làm nhạc thì ông cảm hứng theo nốt nhạc.
-ÐQAThái: Hỏi câu này bà thứ lỗi cho, bà có người yêu là lính không?
-Nhà thơ Lê Thị Ý: (ngập ngừng..., cười) Chắc cũng phải có chứ ạ!
-ÐQAThái: Bài thơ “Thương Ca 1” do bà sáng tác và Phạm Duy phổ nhạc, đã từ lâu trở thành của quần chúng. Nghĩa là, người ta hát say sưa mà không còn nhớ tới tên tác giả. Nếu tình cờ, ở một nơi chốn nào đó, bỗng nhiên nghe có người hát, có người nói tới bài thơ này, tâm trạng của bà sẽ ra sao?
-Nhà thơ Lê Thị Ý: Tôi vui chứ ạ. Vì tôi thấy tôi may mắn có người biết đến thơ của mình; mà thực sự khi làm thơ, tôi làm vì tôi thấy cần làm thôi, chứ không mang ước vọng có con mắt nào đó để ý đến thơ mình (cười).
-ÐQAThái: Bà có thể đọc cho nghe nguyên văn bài “Thương Ca 1”.
-Nhà thơ Lê Thị Ý:
“Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình
Say đi cho rõ người tình
Cuồng si độ ấy hiển linh bây giờ
Cao nguyên hoang lạnh ơ hờ
Như môi thiếu phụ nhạt mờ dấu son
Tình ta không thể vuông tròn
Say đi mà tưởng như còn người yêu
Phi cơ đáp xuống một chiều
Khung mây bàng bạc mang nhiều xót xa
Dài hơi hát khúc thương ca
Thân côi khép kín trong tà áo đen
Chao ơi thèm nụ hôn quen
Ðêm đêm hẹn sẽ chong đèn chờ nhau
Chiếc quan tài phủ cờ màu
Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng

Em không thấy được xác chàng
Ai thêm lon giữa hai hàng nến trong?
Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai.”
-ÐQAThái: Nếu dùng thơ để kết thúc cuộc phỏng vấn này, bà sẽ chọn những câu thơ nào?
-Nhà thơ Lê Thị Ý: Tôi muốn dùng hai câu thơ cuối của bài “Thương Ca 1” là “Mùi hương cứ tưởng hơi chồng, nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai”, để nói lên tâm trạng người góa phụ trong chiến tranh, trong nỗi đau tận cùng, cảm xúc như mình vẫn còn người mình yêu.
-ÐQAThái: Cám ơn bà đã nhắc nhớ lại một bài thơ bất hủ nói lên nỗi đau của con người và đất nước Việt Nam thời còn chinh chiến.
Tác Giả: Đinh Quang Anh Thái   

TỪ BẠN BÈ GỞI

CỘT ĐÈN Ở MỸ
.

Mỹ đang chuẩn bị trang bị hệ thống đèn đường mới với nhiều chức năng hấp dẫn nhưng cũng là tai mắt của cảnh sát.



Hệ thống này có khả năng sử dụng năng lượng , thời gian làm việc lâu dài và có những bảng  quảng cáo điện tử đẹp mắt. Tuy nhiên,  bên trong đó là một hệ thong  theo dõi  hoạt động của mọi người sau đó truyền tín hiệu về trung tâm. 
Với giá 3.000 USD/chiếc, loại đèn này hiện đã được sử dụng tại các thành phố Detroit, Chicago và Pittsburgh và hứa hẹn sẽ  được dùng trên toàn đất nước. 
Một số bộ phận của hệ thống đèn đường này được chế tạo bởi công ty thiết bị ánh sáng Illuminating Concepts. 
Theo tiết lộ của đại diện công ty này, mỗi chiếc có một bộ phận riêng, được so sánh với điện thoại iPhone, có khả năng truyền thông tin không dây. Các cột đèn có thể chụp lại các hình ảnh và đếm số người xuất hiện trên camera của nó cho cảnh sát .
 Đèn đường mới sắp được lắp đặt rộng rãi ở Mỹ.

Ngoài ra nó còn có khả năng ghi lại các cuộc hội thoại của người qua đường cũng như phát ra các mệnh lệnh từ người điều khiển thông qua hệ thống loa gắn bên trong thân. 
Ron Harwood, Chủ tịch và sáng lập ra công ty Illuminating Concepts cho biết ông và các đồng sự của mình đã nghiên cứu, thử nghiệm và sản xuất ra loại cột đèn này sau cuộc tấn công khủng bố ngày 11/9. 
Chi tiết 1 cột đèn: Các thiết bị  không dây, loa, camera, bảng điều khiển thông minh, nút bấm  người đi đường với trung tâm...

Giờ đây, cột đèn không chỉ có nhiệm vụ đơn thuần là chiếu sáng mà nó còn trở thành tai mắt cho Cơ quan an ninh nội địa Mỹ. 
 
Ron Harwood cho biết sản phẩm này của ông sẽ giúp mọi người an toàn và hiểu nhau hơn. 
Hiện tại, trên một số diễn đàn công nghệ và vũ khí đã có rất nhiều bình luận về loại đèn này. Đa số đều phản đối và cho rằng nó đe dọa lớn đến sự riêng tư của mỗi người dân. 

Tùng Đinh

Wednesday, October 8, 2014

.Hai Mặt


            
 
                                          Hai Mặt
 
                                   SỰ THẬT có 6 chữ
                                   GIẢ DỐI cũng 6 luôn
                                   Mặt trái và mặt phải
                                   Trắng đen ôi khó lường!
 
                                   TÌNH YÊU có 7 chữ
                                   PHẢN BỘI cũng thế thôi
                                   Chúng là hình với bóng
                                   Rất dễ dàng đổi ngôi.
 
                                   Chữ YÊU là 3 chữ
                                   HẬN là ba, giống nhau.
                                   Người say men Hạnh phúc
                                   Kẻ thành Lý Mạc Sầu.
 
                                   BẠN BÈ có 5 chữ
                                   KẺ THÙ đếm cũng năm
                                   Hôm nao lời ngọt mật
                                   Hôm nay chìa.. dao găm.
 
                                   Từ VUI có 3 chữ
                                   Tiếng SẦU cũng đồng như.
                                   Quá vui thường mất trí,
                                   Mất trí đời đổ hư.
 
                                   Chữ KHÓC có 4 chữ
                                   CƯỜI cũng vậy, giống in
                                   Ai '' giòn cười, tươi khóc ''
                                   Ấy cảm thọ nhận chìm.
 
                                   Cuộc sống là hai mặt
                                   Giới tuyến một đường tơ .
                                   Chấp nhận mà không vướng
                                   Nhẹ bước qua hai bờ .
   
                                   Thích Tánh Tuệ
  
                                   
  

Con người và cuộc sống lúc nào cũng có 2 mặt : Mặt thật và mặt giả,mặt thiện và mặt ác,mặt trắng và mặt đen....thật khó lường,tùy theo tâm trạng,cảm xúc và tầm nhìn của mỗi người,tùy theo hoàn cảnh và từng lúc .....mà biến đổi theo thời gian,theo luật luân hồi của tạo hóa.Trên thực tế mặt giả thường nhiều hơn và hay lấn áp mặt thực,cho nên muốn duy trì sự cân bằng này,con người cần phải quan tâm cố gắng chăm lo,tu chỉnh con người cho phải đạo ,đạo làm người đó ! Chia sẻ cùng các bạn.

Tuesday, October 7, 2014

TỪ BẠN BÈ GỞI



Hé lộ bức thư cuối đời của nhà thơ Hàn Mặc Tử

Hàn Mặc Tử bị bệnh phong khoảng năm 1933. Lúc bấy giờ, y học chưa tìm ra DDS, một loại thuốc đặc trị bệnh này. Vì thế gia đình ông đã mời các lang y đến chữa bệnh. Hầu hết các loại thuốc mà Hàn Mặc Tử uống là độc dược chế từ nọc rắn mai gầm hay rắn hổ mang. Sau một thời gian chữa bệnh, bệnh trạng ngày một nặng thêm; tuy chưa bị tàn phế nhưng toàn thân gầy yếu, da bầm đen, dấu hiệu của ngộ độc thuốc trường diễn.
Hàn Mặc Tử vào bệnh viện phong Quy Hòa ngày 21 tháng 9 năm 1940. Theo ông Nguyễn Văn Xê (hiện còn sống), cùng chữa bệnh, thì tình trạng của Hàn Mặc Tử lúc bấy giờ thật là thê thảm. “Hai mắt nằm lọt vào hai lỗ hũm sâu hoắm đến không còn mở ra được. Thân hình chỉ còn da bọc xương, chân tay co rút lại mà đầu tóc bù xù rồi trết lại, trong đó nhô nhúc những chấy là chấy. (Thư của ông Nguyễn Văn Xê đề tại Qui Hòa 25 – 3 – 1941).
Với thực trạng như vậy, việc sáng tác của Hàn Mặc Tử rất khó khăn. Ông có viết thư cho gia đình và bè bạn. Qua nét chữ xiêu vẹo, người ta thấy được thảm cảnh của ông lúc ấy.
Bài văn “Sự trong sạch của tâm hồn” được ông viết vào đêm 24 tháng 10 năm 1940 nhằm ca ngợi công ơn các mẹ, các chị dòng Franciscain đã hết lòng chăm sóc ông và những người bạn ở Quy Hòa. Sau khi ông mất (11 – 11 – 1940) người ta tìm được trong túi áo ông khi khâm liệm và trao lại cho các nữ tu sĩ. Bài văn được viết bằng tiếng Pháp, bản dịch của ông Trần Thanh Mại.
“Hỡi các vị thiên thần của trời, thiên thần của Chúa, thiên thần của hòa bình và hoan lạc, xin hãy mang lại cho tôi một vòng hoa.
Tôi muốn tắm trong bể ánh sáng và lòng yêu kính thiêng liêng.
Bởi vì dưới cõi trần gian, đã thành tựu nhiều phép lạ, nó làm cho người ta phải nghẹn ngào vì khâm phục khi ngưỡng vọng cái sự nghiệp thần bí của đấng Tối Cao.
Hỡi các vị thiên thần của Trời, thiên thần của Chúa, thiên thần hòa bình và hoan lạc, các người có thấy cái ánh sáng trong mờ ngày càng rõ rệt, cái màu sắc trắng tuyết kia, cái hình hài không vết bợn kia, cái linh hồn hiện lên nơi cõi thế kia, ngay khi mới thấy, tôi đã chắc đó là cái hồn phách của các vị thánh, các thi tứ, cái tinh hoa của sự cầu nguyện đáng lẽ thì bốc lên hương thơm và tinh khí, nhưng đây chỉ khiêm tốn quyết định hóa ra Người.
Hỡi các vị thiên thần của Trời, thiên thần của Chúa, thiên thần hòa bình và hoan lạc, xin hãy vỗ tay lên: bởi vì đó là các Mẹ và các Chị dòng Saint Francoi d’ Assise, xuống cõi trần gian để an ủi những đau khổ, lo âu của loài người yếu đuối, của các bệnh nhân tàn tật, của những kẻ phong hủi là chúng tôi đây.
Tôi muốn ca lên những bài ca khen ngợi, hứng uống cho thật đã những lời êm dịu của các bà, khi các bà đồng hát bài thánh ca : Hosanna ! Hosanna ? (xin cứu với, xin cứu với !)
Tôi muốn bao giờ cũng tán thưởng cái hình thể trắng tinh không vết ấy, sức tươi mát, nguồn ánh sáng, bầu thơ ấy, vì tất cả đó là biểu tượng của
TẤM LINH HỒN THANH KHIẾT
Hỡi các vị thiên thần của Trời, thiên thần của Chúa, thiên thần hòa bình và hoan lạc, xin hãy ném cho nhau những đóa hoa hồng, hoa súng, những điệu hát réo rắt và những hơi nhạc thơm tho, và hãy xin rưới trúc cho tràn trề nào là đức hạnh, can đảm và hạnh phúc cho những vị nữ tỳ của Đức Chúa”
Đêm thứ tư 24 tháng mười 1940
Francois Trí
Cảm tạ Thượng đế"
(Theo Báo Văn Nghệ)

NHẶT HOA TRÊN NET

Quà hồi môn của mẹ

(Dân trí) - 20 tuổi mẹ về nhà chồng, của hồi môn chỉ vỏn vẹn cái rương gỗ, đựng cuốn album ảnh mẹ thời con gái, chục bộ áo quần và vài món nữ trang ông bà ngoại chắt chiu mua tặng.


Quà hồi môn của mẹ

Mẹ cưới bố được một năm, cảnh nhà sa sút, đôi nhẫn cưới, sợi dây chuyền, cái lắc tay, lắc chân đã rủ nhau đi mãi để bù vào khoản nợ của bố. Bố vào miền Nam tìm cơ hội làm ăn, mẹ ở lại quê chăm sóc ông bà nội. Lúc đó con còn nằm trong bụng mẹ. Cái rương gỗ trống không. Năm tháng dài rộng. Cái rương gỗ đầy ắp dần những cánh thư từ phương Nam.
Con đi học cấp một thì bố về hẳn với con. Bố tặng mẹ lọ nước hoa thơm phức, áo dài lụa Hà Đông và cả đôi nhẫn cưới. Mẹ cất kỹ ở trong rương, thỉnh thoảng mới đem ra dùng. Những lúc mẹ mở rương lấy tấm áo lụa mặc dịp trọng đại hoặc lau chùi lại đôi nhẫn kỷ niệm, con lẽo đẽo theo mẹ xin đọc ké thư ngày xưa bố gửi. Bảo là đọc nhưng con ngắm là chủ yếu, những  bức ảnh đen trắng, mẹ đứng cười bẽn lẽn, những chiếc lá, cành hoa bố ép vội trên trang giấy màu ngà. Con ngày đó coi cái rương gỗ như kho báu đựng đầy thứ đồ cổ thơm phức mùi vải ướp nước hoa, mùi giấy âm ẩm, mùi mực khô nồng nàn.
Lớn lên con mới hiểu chiếc rương của mẹ còn quý hơn cả kho báu. Đó là những buổi tối thảnh thơi, cả nhà đem thư của bố ra đọc lại, mẹ có lúc đỏ mặt “ông này ngày xưa ăn gì mà sến thế!”, có lúc chực òa khóc khi đọc đến đoạn bố kể bị lừa tiền, bị người ta ức hiếp. Đó là khi mẹ lặng người bên rương gỗ, tay cầm đôi nhẫn cưới toan tách đôi ném lại cho bố một chiếc rồi đường ai nấy đi. Nhưng xấp thư cũ, tấm ảnh cưới bạc màu chụp bố mẹ cầm tay cười rạng rỡ đã níu tim mẹ ở lại.
Con lên đại học đi học xa nhà, bố muốn mua cho con những đồ dùng tiện nghi nhất, mẹ vẫn khăng khăng bảo con mang theo cái rương. Những kỷ vật mẹ đem cất chỗ khác, mẹ tặng con rương gỗ để đựng đống váy áo con thích nhất, hộp sô-cô-la con mê tít, cuốn lưu bút cấp 3 ướt nhòe vết mực và nước mắt, cuốn album con nhét đầy ảnh gia đình, bạn bè. Ngày xách hành lý lên đường đi ở trọ, con nhăn nhó vì cái rương nặng trịch, nước sơn đã bong tróc, mẹ chỉ mỉm cười bảo con chịu khó.
Con càng lớn càng cô độc, nhiều khi con muốn thu mình lại nằm co ro trong chiếc rương gỗ cũ mèm. Váy áo, đồ ăn con chẳng còn coi là bảo vật nên bỏ hết ra ngoài. Con mua sách về chất đầy rương, lúc thấy rảnh, thấy chán hoặc thấy yêu đời tột độ con đều đem sách ra đọc. Cứ như thế con bước qua tuổi trẻ cùng những trang sách. Con hay vu vơ nhớ nhà, thường ngồi vừa nghêu ngao hát vừa nắn nót viết những dòng thư cho bố mẹ. Nhưng chưa bao giờ con gửi. Con đem giấu trong rương. Cứ như thế của hồi môn của mẹ trở thành nơi trú ẩn của tim con, nơi con có thể đắm chìm trong những trang sách, phong thư, bỏ quên lo lắng, tị hiềm, bỏ quên mọi áp lực từ đời sống chật chội.
Sẽ có một ngày con theo một người lạ về ở suốt đời với người ta. Của hồi môn bố mẹ tặng cũng sẽ xếp trong chiếc rương nhiều tuổi hơn cả con. Những cuốn sách, cuốn nhật ký, cuốn album sẽ nằm lại trên giá sách nhà mình sớm khuya kể về thanh xuân của con. Những cánh thư có lẽ con vẫn giữ cho riêng mình bởi con gái hay xấu hổ, chưa bao giờ nói trọn vẹn tiếng thương với bố mẹ. Con muôn đời vẫn vô tâm.
 May

Monday, October 6, 2014

VUI VUI

Cách vượt cửa ải bố vợ

Ba chàng trai cùng đến hỏi cưới một cô gái.
  • .
06-10-3-1515-1412564916.jpg
Ông bố hỏi người thứ nhất: "Anh có gì để đem lại hạnh phúc cho con gái tôi?"
- Cháu yêu cô ấy thật lòng và cháu tin tình yêu đó sẽ đem lại hạnh phúc.
- Cháu có thể về.
Tiếp đến là người thứ hai:
- Cháu có một suất đất gần hồ Tây, bố mẹ làm ngân hàng, nhà con một!
- Cháu vào bàn ngồi uống nước đi.
Cuối cùng là người thứ ba, anh ta ngần ngại gãi đầu gãi tai:
- Cháu không có gì.
- Vậy còn đứng đây làm gì?
- Nhưng cháu có cái thai ba tháng trong bụng con gái bác.
- Anh trong nhà đứng dậy và đi về ngay!
Trùm Sò (st)

ĐI GIỮA ĐƯỜNG THU


KY NIEM!

Xe lam
 

Xe lam bắt nguồn từ tên gọi của dòng sản phẩm Lambretta của Italia, là một phương tiện giao thông công cộng phổ biến ở Việt Nam từ rất lâu, dành cho người lao động bình dân.

Đây là một loại xe khách hay xe chở hàng có cấu trúc tương tự như xe tuktuk , hiện vẫn là phương tiện giao thông phổ biến tại một số nước trên thế giới như Sudan, Bangladesh, Ấn Độ, Thái Lan...
Xe lam là loại xe thùng nhỏ có 3 bánh xe, gồm một cabin cho tài xế ngồi lái phía trước và một thùng xe để chở khách hay chở hàng phía sau. Tên gọi này có nguồn gốc từ các dòng xe 3 bánh Lambretta FD (dung tích xy lanh 123 và 150 cc), FLI (175 cc) và sau đó là Lambro 200, 550 (đều 198 cc) của hãng InnocentiItaly. Các dòng xe này lần lượt được nhập vào miền Nam Việt Nam từ đầu thập niên 1960 để thay thế xe ngựa thồ vẫn còn được lưu hành vào khoảng thời gian đó.
Các xe này được nhập ở dạng không đóng thùng, và tuỳ công năng chở người hay chở hàng sẽ được đóng thùng sau khi nhập. Bên cạnh đó, một số xe có kiểu dáng tương tự nhưng của các hãng khác (như Vespa...), ít gặp hơn, cũng được gọi là xe lam. Trong số gần 35.000 chiếc Lambro 550 xuất xưởng thì có 17.000 chiếc được xuất sang thị trường Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam.
Giá một chiếc xe lam vào thập niên 60 khoảng 30 cây vàng nhưng đem lại nhiều lợi nhuận cho người chủ xe (theo lời 1 chủ xe: "Chạy một ngày, ăn cả tháng chưa hết"). Đặc biệt, sau năm 1975, các phương tiện cơ giới khác bị thiếu xăng hoặc thiếu phụ tùng thay thế không sử dụng được, thì xe lam được dùng làm phương tiện phổ biến rẻ tiền và bước vào thời vàng son.

Lúc đó, chỉ riêng thị xã Biên Hòa, có 6 hợp tác xã xe lam với khoảng 1.000 đầu xe đăng ký chở khách chính thức, với hàng triệu lượt khách mỗi năm, vì vậy mà có thời Biên Hòa được ví như là "thủ phủ xe lam". Sau này, xe được đem ra và phổ biến cả ở miền Bắc ViệtNam, cho đến thế kỷ 21.
Tại Việt Nam, từ năm 2004, sau khi Nghị định 23/2004/NĐ-CP ban hành (Nghị định quy định về niên hạn sử dụng đối với các loại ô tô tải và ô tô chở người tham gia giao thông trên hệ thống đường bộ), xe lam bị hạn chế và từ từ bị cấm hẳn. Xe lam cũng được nói đến trong âm nhạc, như bài Chuyến xe lam chiều của Vinh Sử, có câu:

... Trên chuyến xe lam đông người chiều nay
Nghe từng cô đơn nỗi niềm chua cay
Còn đâu một chuyến xe lam
Ngày nao mộng ước vô vàn
Nay kỷ niệm em một mình mang
Theo VOVGT/Autone