THAY LỜI CHÀO MỪNG!

THAY LỜI CHÀO MỪNG!

LỜI CHÀO MỪNG

CẢM ƠN QUÝ THÂN HỮU ĐÃ MỞ CỬA VÀO NGÔI NHÀ ĐƠN SƠ "QUA DẤU BỤI THỜI GIAN" CỦA
TRẦN KIÊU BẠC.




Monday, June 24, 2024

THƠ TRẦN KIÊU BẠC

VỀ LẠI TRƯỜNG XƯA



Nhận cú phone người bạn phương xa

Hỏi bạn về không, lần nầy tháng Bảy

Mình trả lời ngay, lòng không áy náy

Sẵn sàng rồi, mỗi năm một lần thôi!


Về để thăm lại tuổi mới lên mười

Gặp lại một thời dế than dế lửa

Hai đứa lắm lần cây kem chia nửa

Hay gặm cùng nhau đá nhận Si rô


Nhớ lại một thời tiếc ngẩn tiếc ngơ

Còn đâu đó ly đậu xanh bánh lọt

Trưa trốn học đội nắng tìm chim hót

Chiều dạo chơi quanh khúc Tập Tầm Vông


Đêm quây quầng ánh trăng sáng đầu thôn

Cùng vui Ông Đi Qua Bà Đi Lại

Hay giữa trưa dầm mình trong nắng cháy

Thằng trung phong, thằng hậu vệ reo cười


Nhớ làm sao thời sắp chạm hai mươi

Tuổi mộng mơ vừa lưng chừng mười tám

Ngủ không yên chiêm bao tà áo trắng

Vòng eo thon, đếm tiếng guốc sân trường


Nhớ lại môt thời quá đỗi yêu thương

Sách cũ trao nhau mắt không tìm mắt

Một bên nhìn lên một bên cúi mặt

Tay lẻ loi không dám nắm bàn tay


Về để nghe tim xúc động từng giây

Về để thấy đã lâu mình không khóc

Nước mắt đã khô nên lăn khó nhọc

Lâu thật lâu mới chảy thành dòng


Thấy lại bến đò một khúc bao dung

Thầy Cô tóc sương tay chèo đã mõi

Mắt nhìn học trò qua màu sương khói

Cả tên Người cũng lúc nhớ lúc quên


Đừng nêu Ai là gì lúc được gọi tên

Ai nghèo nàn, ai uy quyền sang cả

Phù hiệu Ngô Quyên đã lâu không lạ

Xin ngồi ngang nhau, không chuyện sang hèn


Xin nhắc một lần xin chớ lãng quên

Mẫu số chung Ngô Quyền mình đang giữ

Xin nắm tay nhau vượt qua giông bão

Một Ngô Quyền sẽ sống mãi trong tim!



TRẦN KIÊU BẠC

(tháng 7 năm 2024)

Sunday, June 23, 2024

NHẶT HOA TRÊN NET/TÂN NHẠC VN



TÂN NHẠC VIỆT NAM SAU DI CƯ VÀ TRƯỚC DI TẢN

QuynhGiao-TuongNiem

 

NHƯ MỘT LỜI CHIA TAY – BÀI VIẾT SAU CÙNG CỦA CA SĨ QUỲNH GIAO

 .
” Quỳnh Giao cố gõ lại trí nhớ mà gửi độc giả bài này, với một kết luận là sự tri ân của một người đã nghe và hát: “Nền tân nhạc Việt Nam có nhiều tác phẩm nghệ thuật nhất, và đáng nhớ nhất vì còn được hát ngày nay, là ở miền Nam, trong giai đoạn 1954-1975. Trước đấy thì chưa có và sau đó thì không còn…

QuynhGiao

(1946-2014)

 

Người Việt lãng mạn của chúng ta thường bị giằng xé với hai giấc mơ tương phản.
Sống tại vùng chật hẹp với giang hồ sông nước là sự cách trở, chúng ta mơ chân trời xa lạ “như lũ chim quyết tung trời mây”… Và dù có gặp “biển hồ mênh mông không nơi ngừng cánh tránh gió táp,” chúng ta vẫn “thề quyết ra đi từ đây.” Nhạc sĩ Lâm Tuyền ghi lại cho tiềm thức chung cái giấc mơ đó.
Thế rồi, khi đã toại lòng với “bao năm qua ta sống giang hồ xa quê nhà, nơi xa xôi muôn ý phiêu lưu dâng cho đời,” thì cũng chính tâm hồn lãng mạn ấy hát khúc ngày về. Giấc mơ hồi hương là phần tương phản của cái chí tung hoành đi tìm đất lạ.


Nếu đọc lại nhiều bài viết của Vũ Hoàng Chương thì có thể mường tượng ra giấc mơ giang hồ đó. Nó trải rộng trong hồn thơ chứ vẫn thu hẹp vào khoảnh đất nhỏ xíu. Từ Nam Ðịnh đến Hà Nội đã là một phiêu lưu. Lên tới núi rừng Việt Bắc thì đấy là cõi bạt ngàn!…
Quỳnh Giao nhắc lại Lâm Tuyền hay Vũ Hoàng Chương vì nhớ tuổi ấu thơ thao thức của mình khi sắp được đi Vũng Tầu! Lên tới Ðà Lạt thì đã tựa như vào Thiên Thai trong cổ tích….


Thế rồi một biến cố đã giập giấc mơ vào thực tại. Với nhiều người thì đấy là cơn ác mộng. Hiệp định Genève năm 1954 chia đất nước ra hai vùng giới tuyến làm nhiều người phải giang hồ thật! Phong trào di cư từ Bắc vào Nam là biến cố lớn lao nhất thế kỷ, cho đến ngày có cuộc di tản năm 1975 và sau đó.


Nền tân nhạc cải cách Việt Nam xuất phát đầu tiên từ trong Nam vào quãng 1938-1940. Rồi bùng phát và trưởng thành là ở ngoài Bắc trong thời kỳ 1945-1954. Ðấy là giai đoạn hào hùng mà lãng mạn với rất nhiều ca khúc trữ tình. Rồi cuộc di cư 54 là một giao động lớn trong thế giới tân nhạc ấy…..
Chúng ta có những nhà soạn nhạc đã thành danh ở miền Bắc. Phần lớn trong số này cũng là nhạc công, là nhạc sĩ trình diễn chuyên nghiệp với một hay nhiều nhạc cụ. Những người vào Nam từ trước chỉ là một thiểu số hiếm hoi. Sớm nhất thì có Lê Thương từ năm 1941, trễ hơn chục năm thì có Phạm Duy và Phạm Ðình Chương trong “gia đình Thăng Long.”


Phong trào di cư từ 1954 mới xô đẩy đa số còn lại vào Nam và làm thay đổi không khí tân nhạc. Các nhạc sĩ tên tuổi từ miền Bắc có Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Ngọc Bích, Hoàng Trọng và Vũ Thành. Những nhạc sĩ kế tiếp nổi danh như cồn ở trong Nam thì có Ðan Thọ, Nguyễn Hiền hay Nhật Bằng, Cung Tiến. Phải gõ chữ vân vân vì nhiều lắm. Những người còn ở lại miền Bắc, như Văn Cao, Hoàng Giác, Hoàng Phú, Tô Vũ hay Ðoàn Chuẩn, Nguyễn Văn Tý thì hết viết… như cũ.


Nhớ lại chuyện 60 năm trước, chúng ta tự hỏi là lớp nhạc sĩ di cư đã sáng tác những gì sau đó? Trong mọi cơn chấn động bàng hoàng, con người chúng ta chỉ là lũ trẻ thơ. Hãy nhìn bầy trẻ khi chúng hãi sợ, hoặc gặp điều phật ý mà khó hiểu. Có những đứa thì hờn lẫy giẫy giụa, nhưng cũng có đứa lặng người không thể gào khóc. Còn gào thét là còn tin rằng ai đó sẽ phải lo cho mình, chứ nếu lặng người nín thinh thì đấy là lúc đứa trẻ bần thần tuyệt vọng nhất. Sau cơn chấn động như 1954 hay 1975, chúng ta đều lặng người trong tê tái.


Nhưng các nhạc sĩ của chúng ta lại khác bầy trẻ. Họ không nín lặng mà khóc bằng nhạc. Cảm hứng viết nhạc hoài hương có sẵn trong tâm khảm đã từ biến cố 54 đưa tới nhiều ca khúc về cố hương. Không kể những bài đã có từ trước như “Ôi Quê Xưa” của Dương Thiệu Tước, “Tình Hoài Hương” của Phạm Duy hay “Hướng Về Hà Nội” của Hoàng Dương, chúng ta nhớ lại “Khóc Biệt Kinh Kỳ” và “Bên Bờ Ðại Dương” của Hoàng Trọng, “Xa Quê Hương” của Ðan Thọ, “Bóng Quê Xưa” của Nhật Bằng và “Tìm Về Bến Xưa” hay “Thanh Bình Ca” của Nguyễn Hiền, v.v….Ðan Thọ và Nguyễn Hiền là hai nhạc sĩ có nhiều tác phẩm về nỗi hoài niệm quê hương đã mất kể từ thời 54. Ngày nay, Ðan Thọ vẫn còn và có lẽ không quên sự thổn thức của 60 năm trước.
Ngồi nhớ và nghe lại thì sau biến cố Genève 54, các nhạc sĩ của chúng ta còn bị giằng xé theo một cách khác. Nhiều người vẫn tin vào một ngày trở về.
“Giấc mơ hồi hương” của Vũ Thành là tác phẩm đẹp nhất của đề tài này. Ngoài lời một được gợi lên từ một bài thơ, lời hai của chính tác giả trong điệp khúc có âm điệu khải hoàn ca: “ngoài chân mây xa bừng lên muôn ánh hào quang” vì đấy là lúc giấc mơ đã thành, là “cùng dìu nhau sát vai sống trong tình thương.”…


Người khác thì khám phá và hát mừng sự bao la choáng ngợp của miền đất mới. Vào Nam từ trước, Phạm Ðình Chương sớm ngợi ca miền Nam đôn hậu từ hình ảnh Cửu Long của trường ca Hội Trùng Dương. Rồi qua năm 1955, ông chấm nơi này là “Ðất Lành” và hát về mối tình Nam-Bắc một nhà: “Em gái Bắc Ninh, anh trai Biên Hòa. Em đất Thanh Nghệ, anh nhà Cà Mâu. Ðồi nương thương sức cần lao, se duyên Nam Bắc ngọt ngào tình yêu”…
Cũng trong dòng nhạc đó, trường ca “Con Ðường Cái Quan” do Phạm Duy thai nghén từ năm 54 tại Paris và hoàn thành về sau ở trong Nam đã có những giai điệu “tốt tươi” nhất – chữ “tốt tươi” là của ông – là từ đoạn 16 trở về sau, khi chàng lữ khách mơ giấc hải hồ vào tới trong Nam!
Trong số nhạc sĩ di cư, Hoàng Trọng nổi danh từ đất Nam Ðịnh với nhiều ca khúc luyến nhớ. Sau khi vào Nam, từ “Mộng Ngày Hồi Hương” năm 1956, ông hòa vào niềm vui mới qua bài “Ðẹp Mùa Yên Vui” sáng tác năm 1958 với lời từ của Hồ Ðình Phương: “Miền Nam mưa nắng giao hòa, Câu hát câu hò say trời quê đẹp như gấm hoa…”


Sự giằng xé dễ hiểu mà đáng thương của người viết nhạc diễn tả tâm tình day dứt của chúng ta giữa cái cũ đã mất và cái mới đã thành đời sống thật.
Ngồi hát lại trong tâm tưởng, “Con Ðường Cái Quan” đã từ đoạn Cửu Long Giang mà hò “Về Miền Nam” và dẫn tới đoạn kết là “Ðường Ði Ðã Tới.” “Về Miền Nam” cũng là tên ca khúc của Trọng Khương. Chúng ta không đi nữa mà về. Thâm tâm hát mừng như vậy thật, chứ không vì sự tuyên truyền của loại nhạc cổ động, mà dẫu gì thì hai miền vẫn chung một đất nước.


Rồi thời gian và sự tự do của miền Nam hàn gắn tất cả và dẫn tân nhạc qua một thế giới khác lạ.Sau khi đất nước chia đôi, trong số đông đảo các nhạc sĩ và ca sĩ di cư vào Nam có nhiều nhạc công cự phách. Nhạc khúc mới và cách trình diễn tân kỳ thổi gió mới vào nhạc qua đài phát thanh, phần phụ diễn văn nghệ của phim chiếu bóng rồi đại nhạc hội và phòng trà hay khiêu vũ trường…


Khác bộ môn văn chương là nơi mà lối viết của dân miền Nam làm phong thái chân phương của nhà văn miền Bắc trở thành sống động hơn, với những đối thoại rất gần với thực tế ngoài đời, bộ môn tân nhạc ở miền Nam lại tiếp nhận tính chất trang nhã nhiều khi cầu kỳ của ca nhạc sĩ di cư từ miền Bắc. Nghệ sĩ di cư như Dương Thiệu Tước, Vũ Thành, Hoàng Trọng, Anh Ngọc cùng các ban nhạc và lối hòa âm đã thật sự làm tân nhạc miền Nam đổi khác. Từ đó, các nhạc sĩ trong Nam không còn viết như trước nữa, nhiều ca sĩ cũng trình bày theo giọng Bắc.
Sau đấy còn có sự đóng góp của đông đảo thi sĩ di cư từ miền Bắc, và cả các nhà thơ tòng quân nhập ngũ, khiến nghệ thuật phổ thơ vào nhạc còn đem lại một phong thái khác hẳn cái thời mà chúng ta gọi là “tiền chiến.”


Cũng từ đấy, người nghe khó phân biệt được sáng tác Y Vân, Nguyễn Văn Ðông, Lê Dinh, Minh Kỳ hay Lam Phương với ca khúc của nhạc sĩ di cư đất Bắc. Nếu có khác thì đấy là giữa thể loại ca khúc của thành phố thanh bình, có men rượu, khói thuốc và cả một chút Paris, với nhạc chân quê hay nhạc của người lính thời chiến.


Cho đến khi Nam Bắc thật sự là một nhà, và khi nền tân nhạc hết phân biệt hậu phương hay tiền tuyến thì chúng ta gặp cuộc đổi đời thứ hai, biến cố 1975. Lần này cũng vẫn phong ba giông tố, nhưng không là một nơi chốn mới của quê hương mà là một sự giã biệt bi thảm hơn. Sang năm, chúng ta sẽ viết lại chuyện này…. Từ nhiều tháng nay, người viết ngồi dưỡng bệnh bằng nhạc, cho đến khi tòa soạn Người Việt yêu cầu một bài đặc biệt về tân nhạc trong và sau biến cố 54.


Không vì “yêu sách” của tờ báo mà vì yêu nhạc, Quỳnh Giao cố gõ lại trí nhớ mà gửi độc giả bài này, với một kết luận là sự tri ân của một người đã nghe và hát: “Nền tân nhạc Việt Nam có nhiều tác phẩm nghệ thuật nhất, và đáng nhớ nhất vì còn được hát ngày nay, là ở miền Nam, trong giai đoạn 1954-1975. Trước đấy thì chưa có và sau đó thì không còn…”


Quỳnh Giao

Friday, June 21, 2024

BOLERO, MỘT THỜI YÊU DẤU!

Boléro, Một Thời Yêu Dấu

Advertisement
Advertisement
Advertisement

Thursday, June 13, 2024

KHOAI LANG

Khoai Lang: Nguồn Dinh Dưỡng Dồi Dào Cho Sức Khỏe (Y Học)


5146 1 KhoaiLangBMai


       Tiêu thụ thực phẩm toàn phần như khoai lang đã trở thành hướng dẫn ăn kiêng cho những người muốn có sức khỏe tốt hơn và quản lý cân nặng.


       Khoai lang và lá khoai lang cung cấp lượng chất xơ dồi dào trợ giúp tiêu hóa, thải độc, và tạo cảm giác no, có ích cho việc kiểm soát cân nặng. Ngoài ra, khoai lang còn giúp ngăn ngừa các bệnh về mắt do thiết bị điện tử gây ra và phòng chống các bệnh mạn tính như tiểu đường và mỡ máu cao.


       Trong một cuộc phỏng vấn trên chương trình Health 1+1, chuyên gia dinh dưỡng Hoàng Dĩ Lăng từ trung tâm tư vấn dinh dưỡng Khả Dĩ ở Đài Loan đã thảo luận về giá trị dinh dưỡng và cách tốt nhất để chế biến khoai lang và lá khoai lang – cũng như một số cảnh báo về cách ăn uống.


Đặc Điểm Dinh Dưỡng Của Ba Giống Khoai Lang


5146 2 KhoaiLangBMai


       Khoai lang chứa rất nhiều tinh bột, chất xơ, calcium, vitamin A, beta-carotene và các hợp chất polyphenolic như flavonoid.


Hàm lượng dinh dưỡng có thể khác biệt nhẹ giữa các giống khác nhau.


Khoai lang ruột vàng có hàm lượng calcium, flavonoid, hàm lượng chất xơ không hòa tan cao hơn và tương đối nhiều tinh bột hơn.


Khoai lang ruột cam là nguồn beta-carotene và vitamin A dồi dào.


Khoai lang ruột tím chứa nhiều anthocyanin, hàm lượng flavonoid cao, và chất xơ không hòa tan.


5146 3 KhoaiLangBMai


5146 4 KhoaiLangBMai


Khoai Lang Giúp Kiểm Soát Lượng Đường Huyết


       Bà Hoàng giải thích, khoai lang có thể giúp ổn định lượng đường huyết, chủ yếu nhờ vào các yếu tố sau:


1- Bảo Vệ Tế Bào Tuyến Tụy


      Khoai lang chứa các hợp chất polyphenolic như flavonoid, hoạt động như chất chống oxy hóa, làm giảm căng thẳng oxy hóa và bảo vệ tế bào tuyến tụy.


2- Điều Hòa Lượng Đường Huyết


      Các hợp chất polyphenolic trong khoai lang có chức năng tương tự như incretin. Thuốc dựa trên incretin thường được sử dụng trong quản lý bệnh tiểu đường và giúp kiểm soát đường huyết tốt hơn bằng cách giảm sản xuất glucose trong gan.


       Một nghiên cứu được công bố vào tháng Bảy trên Tập san Thực phẩm (Foods) đã xác nhận rằng khoai lang điều trị hiệu quả bệnh tiểu đường loại 2. Các phenolic acid, flavonol, flavon và anthocyanin trong khoai lang là những hoạt chất chống lại bệnh tiểu đường. Vì vậy, những bệnh nhân tiểu đường nên thay thế các thực phẩm nhiều tinh bột như cơm bằng khoai lang.


      Tuy nhiên, bà Hoàng cảnh báo khoai lang rất nhiều tinh bột, ăn quá nhiều có thể ảnh hưởng đến đường huyết, vì vậy cần ăn điều độ.


Giá Trị Dinh Dưỡng Của Lá Khoai Lang


5146 5 KhoaiLangBMai


       Món ăn thải độc phổ biến ở Đài Loan có thành phần chính là lá khoai lang. Bà Hoàng nhấn mạnh một số thành phần dinh dưỡng quan trọng và có ích cho sức khỏe của lá khoai lang:


1- Chất xơ không hòa tan


      Chất xơ không hòa tan hoạt động như một “máy quét ruột,” làm tăng thể tích phân, kích thích nhu động ruột, gia tăng nhu động ruột, và đẩy thức ăn qua hệ tiêu hóa nhanh chóng. Chất xơ không hòa tan cũng có thể làm loãng các chất độc vô tình ăn phải (như kim loại nặng và thuốc trừ sâu) làm giảm nguy cơ chất độc tiếp xúc với thành ruột. Củ khoai lang cũng kích thích nhu động ruột, co bóp của cơ ruột để đẩy thức ăn qua ruột và giúp thải độc ra khỏi cơ thể càng nhanh càng tốt.


2- Chất Diệp Lục


Lá khoai lang có màu xanh đậm, rất nhiều chất diệp lục – một chất chống oxy hóa tuyệt vời.


3- Lutein, Zeaxanthin và Beta-Carotene


       Trong thế giới hiện đại, mọi người thường xuyên tiếp xúc với màn hình điện tử. Lutein và zeaxanthin trong lá khoai lang giúp giảm tác hại của ánh sáng xanh tới mắt. Beta-carotene trong lá khoai lang, chuyển hóa thành vitamin A trong cơ thể, góp phần trợ giúp chức năng của các tế bào võng mạc nhạy cảm với ánh sáng. Ăn không đủ vitamin A và beta-carotene có thể làm giảm khả năng nhìn khi thiếu ánh sáng và thậm chí là chứng quáng gà.


4- Calcium, Potassium, Magnesium


      Calcium, potassium, magnesium trong khoai lang là những chất dinh dưỡng quan trọng để duy trì sức khỏe của xương, răng, chức năng thần kinh và cơ bắp, trao đổi chất, và áp suất thẩm thấu thích hợp của cơ thể. Magnesium cũng hữu ích cho giấc ngủ và ổn định hệ thần kinh.


Ngăn Ngừa Bệnh Mãn Tính Bằng Củ Và Lá Khoai Lang


5146 6 KhoaiLangBMai


Theo bà Hoàng, củ khoai lang và lá khoai lang là những lựa chọn thực phẩm tuyệt vời để ngăn ngừa các bệnh mạn tính.


1- Ức Chế Ttình Trạng Viêm Mạn Tính


       Nhiều bệnh mạn tính bắt đầu bằng tình trạng viêm mạn tính trong cơ thể. Củ khoai lang và lá khoai lang chứa nhiều chất chống oxy hóa giúp bảo vệ DNA trong tế bào khỏi bị hư hại do các gốc tự do hoặc các chất ô nhiễm khác gây ra, từ đó ức chế tình trạng viêm mạn tính.


2- Thải Độc


       Khi thành ruột tiếp xúc lâu dài với chất độc, có thể dẫn đến hiệu quả gây bệnh cho tế bào. Hàm lượng chất xơ không hòa tan cao trong lá khoai lang giúp đào thải dễ dàng và nhanh chóng các chất độc ra khỏi cơ thể.


3- Ngăn Ngừa Các bệnh Về Tim Mạch và Mạch Máu Não


       Hàm lượng chất xơ và chất dinh dưỡng chống oxy hóa dồi dào trong củ khoai lang và lá khoai lang giúp điều hòa đường huyết, huyết áp và lipid máu, giảm nguy cơ bị các bệnh về tim và mạch máu não.


       Một nghiên cứu tổng quan được công bố vào năm 2021 trên Tập san International Journal of Molecular Sciences (Khoa học Phân tử Quốc tế) đã chứng minh khoai lang có hiệu quả trong việc điều trị lượng đường huyết cao và điều chỉnh lượng lipid bất thường trong máu.


4- Bảo Vệ Mắt


Bà Hoàng cho biết nhiều người bị suy giảm thị lực do hấp thụ không đủ chất dinh dưỡng.


       Mắt tiếp xúc lâu dài với ánh sáng xanh hoặc cường độ cao dễ dẫn đến thoái hóa điểm vàng và gây tổn hại cho các tế bào nhạy cảm với ánh sáng trong mắt. Ăn nhiều lá khoai lang chứa hàm lượng cao chất beta-carotene, lutein và zeaxanthin, rất tốt cho việc duy trì sức khỏe của mắt.


       Khoai lang tím chứa lượng anthocyanin dồi dào, có tác dụng điều hòa cơ mi quanh mắt, giảm mỏi mắt.


       Hơn nữa, kiểm soát đường huyết kém làm tăng nguy cơ đục thủy tinh thể. Củ khoai lang và lá khoai lang có thể giúp ổn định đường huyết.


       Hàm lượng flavonoid phong phú trong khoai lang có thể làm tăng độ đàn hồi của các mạch máu nhỏ, cải thiện sức khỏe tổng thể của hệ vi mạch của mắt. Điều này đặc biệt hữu ích cho việc ngăn ngừa suy giảm thị lực và bảo vệ mắt khỏi bị tổn hại.


Ai Nên Tránh Ăn Khoai Lang?


5146 7 KhoaiLangBMai


       Bà Hoàng nhấn mạnh rằng những người bị bệnh thận mạn tính nên thận trọng khi ăn củ khoai lang và lá khoai lang do hàm lượng potassium cao. Những người bị bệnh thận gặp khó khăn trong việc chuyển hóa lượng potassium dư thừa, có thể dẫn đến tăng potassium máu. Bà gợi ý rằng những bệnh nhân này có thể cắt khoai lang thành từng miếng nhỏ và đun sôi trong nước trước khi ăn, vì ion potassium sẽ ở lại trong nước. Có thể thực hiện tương tự với lá khoai lang.


Cách Tốt Nhất Để Nấu Khoai Lang


5146 8 NauKhoaiLangBMai


       Bà Hoàng cho biết, nấu khoai lang sẽ phóng thích các dưỡng chất polyphenol như flavonoid. Không nên ăn khoai lang sống vì ít cung cấp dưỡng chất và có thể gây khó tiêu hóa.


       Các giống khoai lang khác nhau phù hợp với các cách chế biến khác nhau để đạt được hiệu quả dinh dưỡng tốt nhất. Ví dụ, khoai lang ruột cam, chứa nhiều beta-carotene, thích hợp để xào hơn vì phương pháp này cung cấp nhiều beta-carotene hơn. Vì khoai lang ruột tím có hàm lượng anthocyanin cao nên không thể chịu được nhiệt độ cao và không thích hợp để chiên  dầu.


       Cách tốt nhất để nấu khoai lang là hấp chín, sau đó nướng. Bà Hoàng giải thích rằng hấp là cách tốt nhất để giữ được các chất chống oxy hóa tan trong nước như polyphenol.


       Bà Hoàng lưu ý, vỏ khoai lang cũng có giá trị dinh dưỡng cao, chứa nhiều chất xơ và flavonoid. Vì vậy, rửa khoai lang thật sạch và ăn còn nguyên vỏ (không nấu quá chín) sẽ cung cấp nhiều hợp chất flavonoid, giúp cải thiện sức khỏe tốt hơn.




Amber Yang & JoJo Novaes  _  Thiên Vân

Sunday, May 19, 2024

NHẶT HOA TRÊN NET/ TIẾNG VIỆT


TIẾNG VIỆT THỜI NAY

GS NGUYỄN TUẤN




Tiếng Việt thời nay

Hôm nay, tôi nhận được một email của một người Sài Gòn mở đầu bằng chữ “Kính gởi …” (thay vì ‘kính gửi’). Mát dạ ghê nơi! Và, làm tôi có cảm hứng thổ lộ vài tâm tình về tiếng Việt ngày nay. 
 
Tôi là người lớn lên với Tiếng Việt thời trước 1975, tức là Tiếng Việt trong Tự Lực Văn Đoàn của những Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam, v.v. Đó cũng là tiếng Việt của các tiền bối như Hoàng Xuân Hãn, Phạm Quỳnh, và sau này là Mai Thảo và nhóm tạp chí Bách Khoa lừng danh một thời. Đó cũng chính là Tiếng Việt thời 1945 và sau này được gìn giữ ở trong Nam. 

Thời đó, chúng tôi nói và viết Tiếng Việt theo thứ tự tự nhiên. Chẳng hạn như chúng tôi được dạy là 'hôi thúi' (hay 'hôi thối') vì một vật thể khi bị chết đi, nó đi từ 'hôi' mới đến 'thúi.' Chúng tôi nói 'khai triển' (khai trương rồi mới phát triển). Các thầy dạy cho biết đó là cách nói của người Việt được coi là thuận với thiên nhiên. 
 
Do đó, ngày xưa, Tiếng Việt chúng ta được cấu trúc theo công thức tự nhiên đó. Có thể tìm thấy những chữ thường ngày như: bảo đảm, đơn giản, thành hình, khai triển, ít nhiều, v.v. 
 
Thế nhưng sau 1975, những chữ đó đột nhiên bị đảo lộn thành: đảm bảo, giản đơn, hình thành, triển khai, nhiều ít, v.v. Những chữ này có cùng nghĩa như những chữ trên, nhưng nó chỉ đảo ngược cách nói/viết.  

 Inline image

Tại sao có sự đảo ngược này? 
 
Câu trả lời đơn giản là do Tàu hoá. Thật vậy, rất nhiều chữ sau này được dùng theo cách dùng của người Tàu. Chẳng hạn như người Tàu hay nói ngược với chúng ta. Thay vì nói 'bảo đảm', họ nói 'đảm bảo'. Chúng ta nói 'khai triển', họ thì 'triển khai'. Vân vân. 
 
Thật ra, những chữ như 'bảo đảm', 'khai triển', 'đơn giản', v.v. đều xuất phát từ chữ Hán. Nhưng các vị tiền bối chúng ta nói ngược với họ, có lẽ một phần là theo lẽ tự nhiên, và quan trọng hơn là không bị Tàu hoá.  

Tiếng Việt ngày nay rất ư là hỗn tạp và phức tạp. Hỗn tạp là thứ lai căng (như ‘tuổi teen’), và phức tạp là làm cho tối nghĩa (ví dụ như ‘một cá thể trâu’). Mới đây còn có 'topping' nữa chứ! Loại tiếng Việt này làm đau đầu những người thuộc thế hệ tôi, và làm nhói tim những ai còn quan tâm đến sự trong sáng của tiếng Việt.

Hôm qua, cô tiếp viên sau khi tính toán tiền ăn xong rồi nói:

"Dạ, phần của mình là 56 ngàn ạ"

Tôi muốn ghẹo cô ấy, nên giả bộ hỏi "'mình' là ai vậy con?" Cô ta bẽn lẽn nói "Dạ, con quen miệng ạ". Tôi lại chọc: người miền Nam không nói "ạ". 

Rồi còn những cách dùng sai nghĩa nữa, mà tiêu biểu là 'liên hệ' và 'liên lạc'. Chẳng hiểu từ đâu mà ngày nay ở trong nước ai cũng dùng chữ 'liên hệ' theo ý nghĩa contact của tiếng Anh. "Anh cần thêm bất cứ điều gì, cứ liên hệ qua số điện thoại ...". Đáng lý ra phải là 'liên lạc'.
 
'Liên hệ' theo tôi hiểu là quan hệ huyết thống, máu mủ ruột thịt trong gia đình, tiếng Anh là 'relate'. Còn 'Liên lạc' có nghĩa là tiếp xúc giữa các cá nhân, tiếng Anh là 'contact'. Rõ ràng như vậy, mà chẳng hiểu sao đi đâu cũng thấy 'liên hệ'. Tôi nghi là cũng do Tàu hoá mà ra. 

Lại nói đến chữ 'khả năng' cũng bị đổi nghĩa. 'Khả năng' có nghĩa là năng lực để làm một việc gì (tiếng anh là capacity). Vậy mà ngày nay người ta dùng chữ 'khả năng' theo cái nghĩa 'có thể' (probable): 'Chiều nay trời có khả năng mưa'. Trời ơi! Sao không nói "Chiều nay trời có thể mưa"? Lại một cách Tàu hoá?

Khó ưa nhứt là chữ ‘Việt Kiều’. Tôi nghĩ giới báo chí không chịu tìm hiểu nghĩa nên dùng chữ không đúng. ‘Kiều’ có nghĩa là người ngoài đến sanh sống nơi mình cư trú. Do đó, chúng ta mới có Hoa Kiều, Pháp Kiều. Tôi là người Việt về thăm quê thì mắc mớ gì mà gọi tôi là ‘Việt Kiều’?! Đáng lý ra nên gọi là ‘Kiều Bào’. 

Chói tai nhứt là nghe cách đánh vần ngày nay. Lúc nào cũng Bờ Cờ Sờ ... nghe thiệt khó vô. Đó là cách phát âm đánh vần thời Bình dân Học vụ (thời 1930-1940) để giúp cho người mù chữ làm quen với chữ cái trong tiếng Việt, chớ đâu phải cách đánh vần chánh thức. Đâu có ai dùng nó để chỉ A Bê Xê (ABC) đâu. Các nhà ngôn ngữ học cũng đã nói cách đánh vần Bờ Cờ Sờ là sai. Vậy mà ngày nay trên đài truyền hình, đài phát thanh oang oang Bờ Cờ Sờ! 
 
Có lần tôi thấy sốc khi nghe một đồng nghiệp Pháp nói với tôi rằng tiếng Pháp ở Paris ngày nay là loại hỗn tạp, còn tiếng Pháp ở Québec (Canada) mới là ‘chuẩn’. Chẳng biết nhận xét đó đúng hay sai, nhưng tôi có cảm giác nó nó hợp với tiếng Việt ngày nay: tiếng Việt ở hải ngoại mới chuẩn hơn tiếng Việt ở trong nước.

Sunday, March 17, 2024

CHA DẺ CỦA KAREAOKE QUA ĐỜI ( Báo TUỎI TRẺ ONLINE)

17/03/2024 21:41 GMT+7

Cha đẻ karaoke qua đời: Di sản của ông còn gì ngoài tiếng ồn ào hang cùng ngõ hẻm?2

Nghe đọc bài
5:22
1x

Ông Shigeichi Negishi, cha đẻ của chiếc máy karaoke đầu tiên trên thế giới, vừa qua đời ở tuổi 100, những ảnh hưởng lên văn hóa đại chúng ông để lại sẽ còn mãi.

Chân dung ông Shigeichi Negishi bên cạnh chiếc máy karaoke đầu tiên trên thế giới hồi năm 2019 - Ảnh: Kotaku

Chân dung ông Shigeichi Negishi bên cạnh chiếc máy karaoke đầu tiên trên thế giới hồi năm 2019 - Ảnh: Kotaku

Ngày 16-3, truyền thông Nhật đưa tin ông Shigeichi Negishi, kỹ sư phát minh ra máy karaoke đầu tiên trên thế giới, đã qua đời từ hôm 29-1.

Được biết, ông qua đời vì di chứng từ một lần bị ngã không lâu trước đây, hưởng thọ 100 tuổi.

Ông Negishi là một kỹ sư sinh năm 1923 tại Nhật Bản, thường được biết đến là một trong những người đầu tiên phát minh ra máy karaoke cùng với Daisuke Inoue.

Phát minh ra karaoke vì bị chê hát dở

Trước khi phát minh karaoke, Shigeichi Negishi điều hành công ty điện tử và đã có nhiều năm kinh nghiệm. Ý tưởng phát minh chiếc máy được ông kể lại là từ một lần bị đồng nghiệp... chê hát dở.

Chàng kỹ sư Negishi khi ấy quyết sáng tạo ra một phương tiện để phát nhạc nền, giúp giọng hát của ông được tiếng nhạc nền bổ trợ, đồng thời giúp người dùng hát đúng nhịp điệu hơn.

Cận cảnh cấu tạo của chiếc máy gần 40 tuổi - Ảnh: Kotaku

Cận cảnh cấu tạo của chiếc máy gần 40 tuổi - Ảnh: Kotaku

Vậy là vào năm 1967, thế giới biết tới chiếc máy hát karaoke đầu tiên. Ông Negishi đã sáng tạo ra chiếc máy hát karaoke Sparko Box với công dụng hỗ trợ người dùng hát trên nền nhạc thu sẵn.

Chiếc máy karaoke nguyên thủy có cấu tạo trông rất đơn giản, một thiết bị như loa thùng có thể xách đi dễ dàng và một micro nối với nó.

Máy có một lỗ hình chữ nhật trên đầu để băng, núm điều chỉnh âm lượng, cân bằng âm thanh, kiểm soát âm sắc và một khe xu.

Đáng ra ông Negishi đã có thể kiếm được khoản tiền khổng lồ từ phát minh này, tuy nhiên ông đã ngừng việc cải tiến chiếc máy Sparko Box, đồng thời không đăng ký phát minh chiếc máy này.

Lý do được người Nhật đoán là do ông thấy mệt mỏi với những tranh cãi mà phát minh này gặp phải những ngày đầu đến tay công chúng.

00:00:28

Chiếc máy gần 40 tuổi vẫn hoạt động êm ru, đây là video lúc ông Shigeichi Negishi 95 tuổi - Video: Kotaku

Nhiều ca sĩ tại Nhật Bản lúc bấy giờ lo sợ vị trí của mình bị đe dọa vì người dân Nhật Bản giờ đây đã có thể tự hát cho nhau nghe.

Các ban nhạc, ca sĩ thời điểm đó đã kêu gọi người hâm mộ của mình tẩy chay sản phẩm này và trả lại những chiếc máy đã mua, đồng thời tuyên bố sẽ không diễn ở những quán bar có chiếc máy karaoke.

Ngoài ra, Sparko Box cũng dấy lên những tranh cãi về ô nhiễm tiếng ồn nơi công cộng, khiến cha đẻ của nó rất đau đầu.

Bài toán phân phối hàng và duy trì dịch vụ sửa chữa cho chiếc máy cũng rất khó giải với một công ty điện tử nhỏ như của ông Shigeichi Negishi.

Chính vì vậy, ông đã từ bỏ việc phát triển Sparko Box sau khi làm ăn thất bát, nhường sân chơi lại cho các tập đoàn điện tử lớn.

Tuy đem lại thất bại cho cha đẻ của nó, ý tưởng karaoke đã chiến thắng phép thử của thời gian, phổ biến toàn thế giới - Ảnh: The National

Tuy đem lại thất bại cho cha đẻ của nó, ý tưởng karaoke đã chiến thắng phép thử của thời gian, phổ biến toàn thế giới - Ảnh: The National

Tuy vậy, các chuyên gia nghiên cứu lịch sử thế giới hiện đại và người Nhật vẫn luôn công nhận ông chính là cha đẻ thực thụ của karaoke.

Ông Negishi đã truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ người Nhật về cách chúng ta có thể biến một ý tưởng nhỏ bé trở thành một biểu tượng văn hóa thế giới. Chiếc máy karaoke cũng góp phần đưa cộng đồng đến gần nhau hơn.

4 thập kỷ karaoke vào Việt Nam

Dù xuất hiện ở Nhật từ 1971, phải đến những năm 1990, phát minh của ông Negishi mới du nhập vào Việt Nam nhờ sự phát triển trong quan hệ Việt Nam - Nhật Bản sau Đổi mới.

Trên cơ sở tăng cường quan hệ kinh tế và ngoại giao, quan hệ về văn hóa giữa hai nước cũng nhanh chóng được đẩy mạnh.

Karaoke từ lâu đã trở thành một phần đời sống Việt Nam - Ảnh: KokoroVJ

Karaoke từ lâu đã trở thành một phần đời sống Việt Nam - Ảnh: KokoroVJ

Hệ quả, không chỉ truyện tranh Nhật Bản (manga), karaoke nhanh chóng thu hút sự chú ý của mọi tầng lớp và lứa tuổi tại Việt Nam. Các quán karaoke bùng nổ khắp các đô thị và lan truyền cả về nông thôn.

Kể cả chiếc loa thùng chúng ta hay nghe hàng xóm hát cũng chính là dạng nguyên thủy nhất của chiếc máy karaoke của ông Negishi xưa kia.

Tuy nhiên, vấn nạn hát karaoke ồn ào nơi công cộng cũng đang diễn ra tràn lan tại Việt Nam.

Từ một phát minh nhằm giúp mọi người vui vẻ và xích lại gần nhau như cha đẻ của nó mong muốn, karaoke dường như đang khiến nhiều xóm làng, khu phố chia rẽ, trở thành nỗi khổ của nhiều người vì vấn đề ô nhiễm tiếng ồn ngày càng gia tăng.

Tại Việt Nam và nhiều nước châu Á, karaoke đang trở thành "đại dịch" ám ảnh người dân và cơ quan chức năng - Ảnh: AFP

Quê hương của karaoke đã chứng minh được rằng vấn đề này không phải không khắc phục được. Tại Nhật, chính phủ đã tiến hành phạt thẳng tay những cá nhân, tổ chức hát karaoke làm ồn nơi công cộng.

Vì văn hóa làm việc của Nhật vốn khắc nhiệt, nhiều người lao động chỉ muốn về nhà để ngủ nên ô nhiễm tiếng ồn đô thị ảnh hưởng rất lớn đến đời sống làm việc, sinh hoạt của người Nhật.

Đồng thời các tập đoàn điện tử cũng ra mắt nhiều mẫu máy hát karaoke không gây tiếng ồn, giá của những tiệm karaoke tại Nhật cũng ngày càng rẻ nên vấn đề ô nhiễm tiếng ồn do karaoke cơ bản đã được giải quyết.

Nhiều người lầm tưởng Daisuke Inoue mới là cha đẻ của máy karaoke nhưng thực ra có đến 5 người công bố phát triển dạng máy này trong quá khứ. Trong đó ông Shigeichi Negishi là sớm nhất, trước Daisuke Inoue 4 năm.

Tuy nhiên, ông Daisuke Inoue lại là người thành công hơn với máy của mình nhờ hiểu rõ thị trường (ông là một nhạc sĩ thường diễn ở các quán bar - tệp khách hàng của karaoke).

Năm 2004, Inoue được trao giải Ig Nobel - một giải thưởng nhằm tôn vinh những thành tựu “đầu tiên khiến mọi người cười phá lên, nhưng sau đó khiến họ phải suy nghĩ”.