THAY LỜI CHÀO MỪNG!

THAY LỜI CHÀO MỪNG!

LỜI CHÀO MỪNG

CẢM ƠN QUÝ THÂN HỮU ĐÃ MỞ CỬA VÀO NGÔI NHÀ ĐƠN SƠ "QUA DẤU BỤI THỜI GIAN" CỦA
TRẦN KIÊU BẠC.




Wednesday, March 5, 2025

ĐIÊU KHẮC NGHỆ THUẬT



Điêu khắc Nghệ Thuật Tuyệt Vời Về 12 con Giáp Từ Quả Dưa Hấu (H/Ảnh)

5062 1 ChuotNCaliST

5062 2 SuuNCali

5062 3 DanNCali

5062 4 MeoNCaliĐ

5062 4a MeoNCaliĐ

5062 5 ThinNCaliĐ

5062 6 TyNCaliĐ

5062 7 NgoNCali

5062 8 MuiNCali

5062 9 ThanNCali

5062 10 DauNCali

5062 11 TuatNCali

5062 12 HoiNCali

Nguồn : Internet - Nắng Cali ST

Điêu Khắc 12 con Giáp — Vũ Đình Trung 2024-02-08 01:25

Một hình thức Điêu Khắc từ Quả Dưa Hấu quá tuyệt vời !!
Màu Sắc và những đường nét Nghệ Thuật trên quả dưa Hấu thể hiện trọn vẹn những nét Đặc Thù của từng con vật trong 12 Con Giáp một cách sống động
Ôi qúa Đẹp ! quá Tuyệt !
Cảm ơn Người Sưu Tầm
Vũ Đình Trung

Sunday, March 2, 2025

NHẶT HOA TRÊN NET/ CHO TÔI MƠ LẠI NGÀY ĐẦU




Cho tôi mơ lại ngày đầu 
Trịnh Anh Khôi
7 tháng 2, 2025

Ai mà không có một chuỗi ngày bị bỏ quên sau lưng mình? Ai mà không có ít nhiều ký ức cứ ngỡ đâu đã rơi mất bóng hình khỏi cành khô của thời gian?… Cả tôi cũng thế!

Trước 1975 tại Sài Gòn (và chắc chắn là tại cả miền Nam), nếu tôi nhớ không nhầm, tất cả các loại xe hơi đều bị bắt buộc phải phết sơn màu vàng lên 1/3 phía trên của mặt kính hai đèn trước, với dụng ý ngăn các bác tài khi pha đèn ban đêm sẽ làm bớt chói mắt người hay xe chạy ngược chiều. Lại nữa, nơi các ngã tư gần mọi bệnh viện đều có treo bảng “Cấm nhấn còi” để giúp các bệnh nhân ở đó được nghỉ ngơi thực sự. Rồi các xe đỗ trên các đường phố cũng đều phải tuân theo nội dung tấm bảng “Ngày chẵn lẻ.”
Tất cả xe taxi, lúc đó là loại 4 chevaux, đều sơn tuyền một màu xanh hoặc nửa vàng nửa xanh, nhằm giúp khách nhận biết từ xa để gọi mà không nhầm với mọi thứ xe chạy “dù” khác.

Của đáng tội, thời ấy còn lạc hậu, tôi còn nhớ mỗi khi ngồi trong xe mà muốn mở cửa bước xuống, người ta đã không tìm thấy tay nắm đâu cả mà phải cầm vào một sợi dây thép căng hết bề ngang cánh cửa để kéo thật mạnh. Ấy thế mà những chiếc taxi cũ kỹ ấy vẫn đã làm nên một phần chân dung Sài Gòn thuở ấy. Chúng phải có phần đèn hộp bắt chết trên mui xe, mà về đêm, hộp đó sẽ sáng lên chờ khách

Xe buýt cũng phải sơn một màu đặc trưng để dễ phân biệt với các loại xe đò chạy tuyến dài. Ví dụ như khi đó, tại gần khu Bà Quẹo, vẫn có bến xe buýt vàng (Gọi là tô-buýt vàng) mà nếu muốn cầm lái, tức là khi họ rong ruổi mà ngồi sau lưng họ sẽ là sinh mệnh của mấy chục người vô tội, các bác tài phải trải qua bao nhiêu năm mướt mồ hôi mới giật được bằng chuyên dụng. Từ 18 – 20, anh đã có thể học và thi lấy bằng xe 4 chỗ; sau đó vài ba năm, mới lên được một hạng, rồi cày vô-lăng thêm vài năm nữa, mới cho sờ tới xe tải nhẹ dưới 1 tấn, lại phải thêm vài niên, mới đủ sức lên xe tải lớn hơn chứ chưa nói là cho phép lái xe chở khách. Còn muốn lấy dấu “khửa” để lái xe đò thứ thật, tài xế ít nhất cũng đã trên dưới 40, tức là vào độ tuổi hết “máu” mất rồi, chả còn mấy hứng thú gì trong chuyện nhấn ga vượt ẩu.

Chuyện đó cũng rõ ràng hệt như chuyện nơi các ngã tư, mọi loại xe đều phải dừng sau “đường đinh” là phần kẻ vạch sơn trắng dành cho người đi bộ. Anh cứ thử đỗ sai làn, hay vượt vạch kẻ xem?

Ngày ấy, người ta còn nhớ vẫn có cụm từ “Nhà thuốc gác” để chỉ các pharmacie bán thường trực, khác với “Nhà thuốc Tây” chỉ mở cửa vào một số giờ cố định trong ngày, và dù là “gác” hay không, trước tiệm nào cũng phải có một hộp đèn vuông có in hình một chữ thập treo lồi hẳn ra ngoài mặt tiền – Chữ thập này không nhất thiết phải nguyên màu sơn đỏ khi đèn tắt, mà có thể là màu xanh lá cây sẫm, nhưng dứt khoát khi thành phố lên đèn, từng hộp đèn mang ký hiệu quy định ấy cũng đều phải sáng lên, cho khách đi từ xa biết chỗ mà tìm tới.

Tôi nhớ, khi ấy gần như tất cả đều là nhà thuốc tư, mà hình như tiệm nào cũng đều có cửa sắt kéo cả. Còn tiệm nào bán thuốc Bắc cũng đều có chữ “Đường” ở cuối tên (Vĩnh Sanh Đường, Thiên Hòa Đường, Thông Tán Đường, Tín Nhân Đường) rất đặc trưng kiểu người Hoa như trong các phim quyền cước, với các ô ngăn kéo đựng thuốc đã sấy khô nằm sau quầy, từ sát đất chất lên tới trần nhà, còn trên mặt quầy thì nào là cân, là bàn dao cầu, là các vuông giấy dầu hay giấy bản màu vàng có in sẵn chữ Nho trên đó. Nó cũng đặc trưng như khi người ta đi trên phố, thấy nhà nào có treo trước cửa kính của mình một cái ống đèn hình trụ đứng với hai màu trắng đỏ, mà khi cắm điện vào, thấy các vạch hai màu ấy quay theo hình trôn ốc vĩnh cửu, là biết nhà ấy mở tiệm uốn tóc cho phái đẹp

Người ta khi rủ nhau mở tiệm vàng là phải có chữ “Kim” đứng đằng trước tên tiệm (Kim Hưng, Kim Xuyến, Kim Hoàng, Kim Thẩm, Kim Ngân, Kim Hoa…) giống như mở tiệm vải là phải có chữ “Tân” (Tân Hòa, Tân Hương, Tân Mỹ…) hoặc các tiệm hủ tíu mì, qua mấy chục năm đánh chết cũng phải có chữ “Ký” ở đuôi (Phát Ký, Huỳnh Ký, Sanh Ký, Nguyên Ký…) trước khi kết bằng hai từ “Mì gia” mà nếu gọi đủ, phải là “X ký mì gia” gì đấy thì nghe mới ra mùi Trú khách.

Những cái tên làm người ta nhớ nôn nao, như Trưng Vương hay Gia Long là giúp nghĩ ngay tới những tà áo dài trắng (và tím) tinh khôi trước mọi cổng trường nữ sinh. Như Võ Trường Toản hay Pétrus Ký là quần xanh áo trắng quanh các cánh cổng thép nan hoa, che từng khuôn viên mấy trường nam sinh luôn rợp bóng Phượng đỏ ối cả mùa Hè.

Còn trường Colette hay Saint-Exupéry là phải nhớ ra, các bức tường dài quét vôi màu đỏ không thể lẫn vào đâu được của mấy ngôi trường Tây chắc chắn là dành cho con nhà giàu, mà số thầy cô người Pháp dạy ở đó chiếm đến một nửa. Họ sống trong mấy tòa nhà sơn màu cà-phê sữa thanh nhã, mặt tiền có kẻ ô, cao 4-5 tầng, gọi là “khu chuyên gia” nằm quanh khu sân quần [vợt] trên đường Bà Huyện Thanh Quan, gần ngã tư Phan Đình Phùng thuở ấy.

Lá vàng ngày nao phơi phới lìa cành.

Kỷ niệm với bản thân tôi ở trường Saint-Ex là thầy Alain Pesqué cao tới 1,85m, rất đẹp trai, dạy Math Moderne ngày xưa, tức là dạy Tân Toán học, khác với Math Classique, là Toán Cổ điển. Còn là thầy Albert Moreau dạy Sử Địa thế giới (Khi đó học sinh học cả Sử Địa Việt Nam, do thầy cô người Việt dạy, và Sử Địa năm châu do thầy người Pháp dạy), ông có biệt tài xuất sắc là không cần dùng compas, mà vẽ Quả đất bằng phấn ngay trên bảng, trăm cái đều tròn xoe như nhau hệt đúc khuôn. Còn là thầy Jean Baud chỉ cao có 1,68m mà tát rất đau, khi học trò quên vở Sciences Naturelles (Vạn vật học).
Còn là cô Stéphanie Meyer dạy Français cũng khẻ tay đau điếng người khi trò không thuộc bài, trong khi phía Văn chương Việt lại có một cô giáo khác. Phải đi qua tất cả những thầy cô ấy tại Saint Exupéry suốt 2 năm 6ème hay 5ème trước khi sang Marie Curie, vào 4ème

Ký ức không hề mờ nhạt nơi những gì chính mình biết, hoặc chỉ biết loáng thoáng nơi các trường Tây khác, dù chính cống hay chỉ “giả cầy”, như Fraternité (Gọi là trường Bác Ái) trên đường An Dương Vương ngày đó, như Aurore (Rạng Đông) mà tôi đi hết tiểu học trên phố Phan Đình Phùng, như Couvent Des Oiseaux hay Jean-Jacques Rousseau.

Ký ức càng không mờ nhạt đi khi mình đi qua thời tiểu học vào những năm 1950 – 1960, học chung với hai anh em nhà Tạ Thạch và Tạ Thái, con ông Tạ Ký lúc đó là thầy giáo dạy tại trường Pétrus Ký, mà cũng là một nhà thơ, cùng trong làng cầm bút và là bạn với bố tôi. Nếu để đo về độ khá giả của gia đình bạn bè học cùng trường, tôi sẽ không quên mất Lê Thị Đạt, vẽ rất đẹp mà học cũng rất giỏi, con bà chủ tiệm bánh mì Hà Nội nức tiếng phố Nguyễn Thiện Thuật; hay Trần Thu Trang, con bà chủ tiệm bánh mứt Bảo Hiên Rồng Vàng khét tiếng nơi phố Gia Long – Cửa Bắc.

Những kỷ niệm ấy đến giờ vẫn nồng nàn như tên các rạp hát, cứ nhớ đến Rex là phải nhớ Omar Sharif, Julie Christie hay Géraldine Chaplin trong Docteur Zhivago; nhớ tới Eden là nhớ Đại Sát Tinh với Vương Vũ, Tiêu Dao và Điền Phong; nhớ Việt Long là nhớ Django Không Cầu Nguyện của Franco Nero; hay nhớ Victorama Quốc tế là nhớ Liz Taylor, Richard Burton cùng Rex Harrison trong Cléopâtre. Nhớ từng lần ngồi xe taxi cùng ông bô mình ra khu trung tâm, ăn bò kho ở tiệm bà Phạm Thị Trước hay nhai nhồm nhoàm bánh pâté-chaud ở nhà hàng Xinh Xinh, rồi khi lớn hơn, chạy xe đạp ra phố Lê Lợi, ngồi chơi cùng thằng bạn nghèo để bán giúp nó từng tờ nhạc Tinh Hoa Miền Nam hay từng quyển nhạc in ronéo lem nhem, bày trên cái sạp bằng tre gấp, dựng trước cửa rạp Mini Rex hay trước cửa tiệm bán đồ lưu niệm Vân Anh khét tiếng thuở nào.

Nhớ rằng mình vẫn sướng hơn bao bạn bè cùng trường, còn có cha mẹ đầy đủ, được ăn học tử tế, biết chút ít ngoại ngữ dắt lưng, trong khi chúng nó phải từ trường tốt, lui về trường nghèo vì cha mẹ hết tiền. Và chúng nó phải kiếm sống hàng ngày, bán nhạc, bán sách cũ quanh khu Khai Trí, bán thuốc lá trước cửa rạp Casino mà không ít lần, chính mình đi xem phim lại thấy chúng nó vất vả đứng đó, chìa tay ra thu tiền khách từ từng điếu thuốc thơm bán lẻ

Nhớ từng ngày ngồi nhìn thành phố lên đèn trong tuổi thanh niên, qua ô kính cửa La Pagode hay Givral, nhất định lắc đầu khi mấy thằng bạn lớn hơn, huých khuỷu tay vào cạnh sườn mình, chìa cho mình từng điếu More màu nâu thon dài. Mà cũng không cưỡng mãi được, tuổi 22 là biết cầm điếu thuốc Bastos Luxe đầu đời.
Nhớ cả tiệm Cảnh Hưng cho thuê sách nằm đối diện trường Rạng Đông mà bà chủ tiệm, và nhất là ông chồng bà ấy, thuộc vanh vách từng tựa sách nằm ở đâu, ngăn kéo nào, tầng kệ nào trong bát ngát cả chục nghìn quyển chất chật cứng cả mặt tiền tiệm. Nhớ những tối thầm đọc Duyên Anh và Kim Dung trong màn, nhớ cả lần ngu ngốc hỏi ông già nghĩa của từ “Đốn mạt” là gì khi đọc trộm quyển Anh Hùng Đốn Mạt của Nguyên Vũ để bị xơi đòn quắn đít. Nhớ cả những bạn văn lẫy lừng của ông già mình ghé nhà chơi, như Nguyên Sa, Vũ Hạnh, Minh Quân, Võ Phiến và cả Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn.

Nhớ cả những cây xăng có vòi bơm bánh xe, gắn đứng giữa hai trụ xăng, phải lấy tay mình quay cây kim hơi về số theo ý muốn rồi từ tốn ngồi xuống, mở nắp vòi, lắp đầu bơm vào săm để cho nó tự bơm, khi nào nghe kêu cái “keng,” đủ hơi, là máy tự động ngừng. Rồi nhớ cả chiếc Vélo Solex của ông già mình, do phải đi nhiều quá, bị xóc trên yên cũng quá nhiều qua các ổ gà, ông đã bị sai cột sống.

Nhớ những château d’eau (Tháp nước xây bằng bê-tông) là đặc trưng của Sài Gòn thuở đó mà theo thời gian, chúng biến mất theo các ngôi nhà cao tầng. Nhớ các vòi nước phun, người ta ra đó giặt quần áo hay gánh nước vào từng đôi thùng tôn vuông mà quẩy về nhà. Rồi nhớ cả mùi thuốc phiện mà ông Tư thợ mộc, làm liên gia trưởng hồi ấy, đêm đêm vẫn thầm đốt bên bàn đèn, loang qua cửa sổ nhà bên mà vào nhà mình. Nhớ những mầu áo cũ, cặp kính cũ của vài cô bạn trẻ đầu đời. Nhớ cả làn lông măng sẫm mầu nằm trên mép của Khánh Ly, mặc áo dài, đi chân đất, hát nhạc Trịnh tại sân trường đại học.

Bà Mai Liên đọc chương trình thời sự trên màn hình chiếc TV National 19 inch; bà Túy Hồng với các vở kịch trồi lên từ ngày cũ; bà Kiều Hạnh với chương trình Tuổi Xanh; ông Lê Văn Khoa với chương trình Thế Giới Của Em; ba bốn anh em nhà họ Phạm với ban Hợp ca Thăng Long; tòa soạn tờ Bách Khoa của ông Lê Ngộ Châu trên đường Phan Đình Phùng; các bức minh họa kiệt xuất của họa sĩ Phạm Tăng, rồi các bức vẽ chân dung tuyệt tác theo kiểu Lập Thể của họa sĩ Tạ Tỵ; vở kịch Khói Lửa Kinh Thành của Lâm Ngữ Đường qua bản dịch của Vi Huyền Đắc.

Nhớ cả dáng gầy của nhà văn Nguiễn Ngu Í khi ngồi uống cà-phê với bố tôi để cùng tranh luận không bao giờ có hồi kết về một thứ tiếng Việt kiểu mới do ông ấy sáng tác. Nhớ từng nốt nhạc mà ông bác Phạm Duy đàn lên từ bài Giọt Mưa Trên Lá… Và nhiều nữa. Nhiều nữa như từng chữ quá tuyệt trong bài Back To Soriento mà ông ấy đã chuyển lời. Nhớ cả từng bức ảnh đen trắng của hai nghệ sĩ bậc thầy Nguyễn Cao Đàm và Trần Cao Lĩnh.

Nhớ từng chiếc bánh tôm trong tiệm kem Mai Hương trên phố Lê Lợi, từng ly nước mía Viễn Đông nơi góc phố Pasteur, từng trang báo Salut Les Copains với Stone và Éric Charden hay Sylvie Vartan trên đó. Nhớ bài Le Seul Bébé Qui Ne Pleure Pas hay Laisse Aller La Musique thấm đầy tính tự sự trên từng cuộn băng cassette Anna quen gọi tên nôm na như thế cho dễ nhớ. Nhớ cả cái bóng ma đi lang thang trong nghĩa địa mà người ta dàn dựng trên TV với giọng đọc rền rĩ “Tôi chết vì ma túy” nghe rợn cả tóc gáy ngày ấy. Nhớ bộ ria mép của Trần Quang dẫu nó không dày và trứ danh như của Omar Sharif.

Nhớ cái đầu trọc của Yul Brynner trong The Magnificent Seven (Bảy Tay Súng Oai Hùng), và nhớ dáng gầy không giống ai của Audrey Hepburn cùng khuôn cằm nổi tiếng với cái hố lõm vào của Kirk Douglas. Nhớ mang máng cả những người thực ra chẳng cần nhớ làm gì như Hoàng Đức Nhã, người đã tìm đủ cách để rũ sổ bố tôi từ Nha Báo chí Phủ Tổng thống.

Tại sao tôi đang ở trong những ngày này, mà lại không mấy khắc khoải về thực tại, để cứ phải ngoái trông vào một thời từng quá cũ và xa? Tại sao bây giờ, mình dẫu đang yên chí về dòng sống này, mà lại phải bấu rất đau vào chuỗi ngày cứ ngỡ đã phôi pha rất lâu?… Tại sao?

Đâm ra lại như nghe loáng thoáng đâu đây, giai điệu buồn bâng khuâng từ bài Kỷ Niệm: “Cho tôi lại ngày nào, Trăng lên bằng ngọn cau, Me tôi ngồi khâu áo, Bên cây đèn dầu hao… Cha tôi ngồi xem báo, Phố xá vắng hiu hiu, Trong đêm mùa khô ráo, Tôi nghe tiếng còi tàu…” (1). Để thấy mình hệt như một con ốc bò thầm trên đường trăng. JMS

(1) … Cho tôi lại một mùa. Mưa rơi buồn ngoại ô. Ðêm đêm đèn trong ngõ. Soi sáng mảnh tim khô. Tôi mơ thành triệu phú. Cứu vớt gái bơ vơ. Tôi mơ thành thi sĩ. Ðem thơ dệt mộng hờ… (Phạm Duy, 1967)

Thursday, February 27, 2025

NHẶT HOA TRÊN NET/ SEN HỒNG ĐỒNG THÁP

18/04/2024 19:30 GMT+7

Tháng tư về Đồng Tháp ngắm đồng sen hồng rực rỡ2

Giữa tháng 4, những đồng sen ở Đồng Tháp đã bắt đầu nở rực rỡ cả cánh đồng. Nhiều người dừng xe chụp ảnh rồi tìm bóng râm thưởng thức hương thơm.

Cánh đồng sen xã Láng Biển, huyện Tháp Mười bung nở rực rỡ dọc tuyến đường ĐT 850 - Ảnh: ĐẶNG TUYẾT

Cánh đồng sen xã Láng Biển, huyện Tháp Mười bung nở rực rỡ dọc tuyến đường ĐT 850 - Ảnh: ĐẶNG TUYẾT

Tại tỉnh Đồng Tháp, sen được trồng nhiều nhất ở các huyện Tháp Mười, Cao Lãnh, Tam Nông, Thanh Bình. Từ đây hình thành nên những vùng trồng chuyên canh cung cấp nguyên liệu cho các sản phẩm từ sen. 

Dọc các tuyến đường liên huyện, liên xã, du khách dễ dàng bắt gặp những cánh đồng sen rực rỡ đung đưa dưới nắng, hoặc lác đác vài đóa sen điểm xuyết giữa đám rau muống đồng làm cho bức tranh quê thêm đặc sắc.

Cận cảnh đóa sen nở lung linh dưới nắng - Ảnh: ĐẶNG TUYẾT

Cận cảnh đóa sen nở lung linh dưới nắng - Ảnh: ĐẶNG TUYẾT

Từ đầu tháng 4 đến nay, sen bắt đầu trổ bông rồi đồng loạt nở rộ vào giữa tháng. Dọc đường tỉnh 850 đoạn từ xã Tân Hội Trung, huyện Cao Lãnh đi xã Mỹ Đông, huyện Tháp Mười, những cánh đồng sen đang khoe sắc rực rỡ dưới nắng sớm, khiến người đi đường phải ngoái nhìn.

Thỉnh thoảng có du khách dừng lại chụp hình với sen, ngồi hít hà không khí dịu mát thoang thoảng hương sen như cách giải tỏa cái oi bức của nắng.

Khi những đóa hoa sen mở ra, cánh sen dần rụng hết sẽ lộ ra nhụy sen vàng ngát hương thơm theo gió - Ảnh: ĐẶNG TUYẾT

Khi những đóa hoa sen mở ra, cánh sen dần rụng hết sẽ lộ ra nhụy sen vàng ngát hương thơm theo gió - Ảnh: ĐẶNG TUYẾT

Nếu dư dả thời gian, du khách có thể tìm về xã Mỹ Hòa, huyện Tháp Mười trải nghiệm không gian thoáng mát giữa đồng sen, ngồi uống sữa sen trong những căn chòi lá, vừa ngắm sen và đợi món ngon. 

Từ những cánh đồng sen, những người nông dân đã mở thêm dịch vụ ăn uống, bắc cầu dọc ngang cánh đồng để du khách đến gần hơn với sen.

Những món ăn từ sen được du khách tìm thưởng thức - Ảnh: ĐẶNG TUYẾT

Những món ăn từ sen được du khách tìm thưởng thức - Ảnh: ĐẶNG TUYẾT

Về đồng sen nhất định phải thử món cá lóc nướng trui cuốn lá sen non, gỏi ngó sen, cơm hạt sen và thưởng thức thêm các món ăn đồng quê.

Hiện nay, những đồng sen này là nguồn nguyên liệu làm ra hơn 50 sản phẩm OCOP, 200 món ăn đã xác lập kỷ lục Việt Nam.

Cơm chiên hạt sen - Ảnh: ĐẶNG TUYẾT

Cơm chiên hạt sen - Ảnh: ĐẶNG TUYẾT

Hạt sen cháy tỏi ớt ăn có vị bùi, thơm, mặn, cay lạ miệng - Ảnh: ĐẶNG TUYẾT

Hạt sen cháy tỏi ớt ăn có vị bùi, thơm, mặn, cay lạ miệng - Ảnh: ĐẶNG TUYẾT

Cá lóc nướng trui cuốn lá sen non là một trong những đặc sản của xứ sen hồng - Ảnh: ĐẶNG TUYẾT

Cá lóc nướng trui cuốn lá sen non là một trong những đặc sản của xứ sen hồng - Ảnh: ĐẶNG TUYẾT

Sunday, February 23, 2025

NHẶT HOA TRÊN NET/ NHỮNG CHIÉC CÚC ÁO


Subject: Re: Bí mật củα những chiếc cúc áo – Hồ Quỳnh Châu
To: Trinh Ngoc Chung
Cc:




Xin cám ơn Anh Trịnh Ngọc Chung thật nhiều.
Tôi đọc nhiều lần mà vẫn thấy thật thích thú.
Cũng vậy,
Ngoài xã hội: người đàn ông, người chồng gọi là Phu (man, gentleman); người đàn bà, người vợ gọi là Phụ (assistant, associate, deputy, vice).
Trong gia đình, trong nhà: người chồng, người cha gọi là Phụ (Father / Far-er / xa hơn, ít quan tâm hơn, ít biểu lộ tình thương hơn); người vợ, người mẹ gọi là Mẫu (Mother / More-er / quý hơn, hy sinh hơn, nhiều hơn...), tức là khuôn mẫu, là tấm gương sáng, sinh ra, nuôi dưỡng, dạy dỗ cách ăn, cách nằm, cách ngồi, cách đứng, cách đi, cách nói, cách học.  Giáo dục có ba giai đoạn mà Mẫu giữ vị trí đầu tiên, tức là Mẫu giáo, giai đoạn thứ hai là Chính giáo của trường học và trường đời thì Phụ giáo chỉ giữ vai trò dạy kèm thêm chứ không phải là giáo dục chính.

Trần Việt Long

Sent from my iPad


On Sat, Feb 22, 2025 at 9:48 AM chung trinh <ctrinh47@gmail.com> wrote:

Bí Mật Củα Những Chiếc Cúc 
Câu Chuyện Thú Vị Đầy  Nghĩα Sâu Sắc

Ngày ấy, tôi là một thợ mαy nghèo, không có tαy nghề nên chỉ dám mở một cửα hiệu nhỏ chủ yếu nhận đồ sửα chữα quần áo là chính. Một lần, được một αnh bạn thân tặng một quyển sách tự học cắt mαy. Giọng αnh vui vẻ:\– Thấy em khéo tαy nên αnh tặng em quyển này biết đâu lại giúρ được gì cho nghề nghiệρ.
Từ đó tôi Ьắt đầu học cắt mαy một cách sαy sưα.

Khi bước đầu có chút kiến thức về nghề, ɾồi được nhiều người động viên, tôi liều mở một cửα hiệu khá to ngαy tɾên mặt ρhố.
Tôi có thân hình đẹρ, lại biết ăn mặc. Có lẽ vì thấy cô chủ sành điệu tɾong thời tɾαng nên cửα hiệu củα tôi khá đông khách. Ngoài ɾα còn có cả hơn chục người tới xin học việc.

Chưα thật sự có nhiều kiến thức và tαy nghề cũng chưα cαo nên mỗi khi định dạy học sinh cắt cái gì thì tối hôm tɾước tôi ôn luyện cái đó, nghĩα là theo kiểu “cơm chấm cơm” như người tα thường nói. Vậy mà học sinh không hề ρhát hiện mà còn khen: Chị giảng dễ hiểu như giáo viên vậy. Ngày ấy tôi thường ɾất tự hào.

Nhưng có một lần…
Một bác khách hàng đến mαy chiếc áo bà bα. Áo bà bα ɾất khó cắt mà tôi lại chưα cắt bαo giờ nên lưỡng lự muốn từ chối. Nhưng cuối cùng tôi liều nhận lời vì không muốn mọi người biết là mình còn yếu kém, sẽ bị giảm uy tín.

Hôm cắt chiếc áo bà bα, tôi đã thức tɾắng một đêm mò mẫm từng chút một, cuối cùng thì nó cũng thành. Rồi khi mαy cũng vậy, tôi cẩn thận từng đường kim mũi chỉ, tự tαy là ρhẳng ρhiu ɾồi tɾeo lên chiếc móc, ngắm nghíα gật gù ɾα chiều thích thú.

Bác khách hàng ɾất thấρ, chỉ đến vαi tôi nên chiếc áo ngắn cũn cỡn. Khi đơm  cúc thấy chiα khoảng cách làm năm như thông thường thì quá dầy, vì vậy nên tôi quyết định chiα làm bốn cho cân xứng với chiếc áo. Làm xong việc ấy, tôi cảm thấy ɾất lí thú vì nghĩ mình đã có một cách tân tuyệt vời, chắc hẳn sẽ được khách hàng ưng ý.

image.png

Hình minh họa : Thanh Hạnh
Đúng hẹn, bác khách hàng đến lấy và mặc thử. Bác soi gương, ngắm tɾước ngắm sαu ɾất lâu. Tôi thì thót tιм, chỉ sợ bác ấy chê xấu và Ьắt đền. Mαy quá bác cởi ɾα và bảo tôi cho vào túi. Tôi vui sướng như mở cờ tɾong bụng.

Đαng gấρ chiếc áo tự nhiên bác ấy cầm tαy tôi và bảo:
– Ơ! Sαo em đơm cho chị có bốn cái cúc thế này?
Tôi giải thích:
– Vì cái áo ngắn quá nên đơm năm cúc nhìn ɾất xấu. Em đã thử đặt ɾồi nhưng nhìn ɾất vô lý! Đây là sự cải tiến củα em đấy, chị biết không.
Bác hơi cαu mày:
– Nhưng từ xưα đến giờ không αi làm như thế! Áo thì ρhải có năm cúc chứ em!
Tôi hơi ρhật ý:
– Em đã nói ɾồi. Đây là một cải tiến củα em. Chị mặc tɾông đẹρ mà.
– Nhưng áo thì ρhải có năm chiếc cúc mới đúng. Cải tiến gì thì cũng ρhải tôn tɾọng tɾuyền thống em ạ.

Câu đi câu lại nhưng có lẽ bác ấy cũng không ρhải là người quá khó tính nên đã nhận chiếc áo với vẻ mặt không vui. Còn tôi thì thầm nghĩ, bác tα thật vô lý, đã làm đẹρ cho mà lại không biết điều.

Tuy tɾả được chiếc áo nhưng suốt cả ngày hôm đó tôi làm việc tɾong tâm tɾạng không thoải mái, bứt ɾứt khó chịu và thắc mắc ɾất nhiều về cái áo, tại sαo nhất định cứ ρhải là năm cúc mà không ρhải là bốn hαy sáu…

Hôm sαu, tôi về nhà lục tung hòm quần áo củα mẹ lên và đếm gần chục chiếc áo cả cũ lẫn mới và thấy cái nào cũng 5 chiếc cúc cả. Nghĩ lại câu nói hôm quα củα bác khách hàng “cải tiến nhưng cũng ρhải tôn tɾọng tɾuyền thống em ạ” tôi bỗng cảm thấy hình như mình đã có điều gì không ρhải.

Từ sαu ngày ấy mỗi khi ɾα đường tôi thường nhìn chằm chằm và những người già mặc áo bà bα để đếm từng chiếc cúc như người lẩn thẩn. Và đúng là chiếc áo bà bα nào cũng có đủ năm chiếc cúc. Lạ thế.
Nhiều năm tɾôi quα, tôi bỏ nghề mαy chuyển sαng nghề bán hoα tươi, quên dần bác khách hàng năm xưα. Câu chuyện cũ cũng tưởng như tɾôi vào quá khứ.

Một buổi chiều tôi đαng cắt những tờ báo cũ để gói hoα cho khách, thì bất chợt nhìn vào góc tờ báo có dòng chữ: “BÍ MẬT NĂM CHIẾC CÚC ÁO”.
Như người cҺếϮ đuối vớ được cọc, tôi cầm tờ báo đọc lấy đọc để.

Câu chuyện kể ɾằng: Ngày xưα học tɾò toàn mặc áo bà bα, tɾên chiếc áo quy định năm chiếc  cúc là tượng tɾưng cho năm đức tính củα con người: Nhân, Nghĩα, Lễ, Tɾí, Tín. Mỗi lần thầy giáo gọi, học tɾò lên bảng đầu cúi thấρ khoαnh tαy tɾước ngực, khi tɾả lời không được, thầy giáo thường Ьắt tɾò vân vê 5 chiếc cúc áo và Ьắt nói về ý nghĩα củα từng chiếc cúc một. Chiếc cúc áo tɾên cùng là chữ NHÂN (người thiếu chữ NHÂN sẽ tɾở thành kẻ ᵭộc ác). Chiếc thứ 2 là chữ NGHĨA (người thiếu chữ NGHĨA sẽ tɾở thành kẻ bội bạc). Cứ như vậy cho đến chiếc cuối cùng.

Chαo ôi! Tôi vừα sung sướng vì đã giải được những thắc mắc củα mình mấy chục năm nhưng lại xấu hổ về sự thiếu hiểu biết củα mình. Giá như ngày ấy tôi hiểu được ý nghĩ củα từng chiếc cúc áo thì đâu dám cả gαn “cải tiến” cái áo bà bα thành bốn cái cúc như vậy. Hóα ɾα, sự cách tân củα tôi chỉ là một việc làm liều lĩnh và điên ɾồ.
Sáng nαy tɾời chớm Đông se lạnh, tôi mở tủ để lấy quần áo, tự nhiên tôi lại chọn cho mình cái áo có đủ 5 chiếc cúc để mặc và chợt nghĩ đến bác khách hàng thấρ bé ngày nào.

Bây giờ không biết bác đαng sống ở nơi đâu. Nếu đọc được những dòng này, xin bác hãy quαy lại gặρ tôi ở cửα hàng hoα Minh Châu thuộc tổ 1, ρhường Hoα Chè, thành ρhố Sông Phượng. Gặρ lại bác, dù không còn làm nghề mαy nữα nhưng tôi nhất định sẽ tưởng nhớ lại nghề cũ để mαy đền bác một chiếc áo bà bα thật đẹρ, có đủ năm chiếc cúc.

Tác giả : Hồ Quỳnh Châu

Sunday, February 16, 2025

NHẶT HOA TRÊN NET/ GIỌNG NÓI SÀIGÒN

image003.jpgimage004.png

 

GIỌNG NÓI CỦA NGƯỜI SÀI GÒN LÀ GIỌNG CHUẨN CỦA MIỀN NAM…


HẢI PHAN

Hồi còn đi học, vẫn hay chọc mấy đứa bạn bằng 2 câu thơ nhại:

Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

Gái Sài Gòn cái mỏ cong cong

Chuyện con gái Sài Gòn “mỏ” có cong không thì hổng có biết, chỉ biết con gái Sài Gòn có cái đầu môi cong cong, dễ làm chết người lắm, nhất là khi cánh môi be bé ấy cong lên một chữ “hônggg…” khi đứa con trai rủ rê đi đâu, năn nỉ gì đó. Lúc đó, đem gương hay kiếng soi, chắc cái mặt của đứa con trai đó tội lắm.

Mà con gái Sài Gòn có điệu đà, õng ẹo chút thì mới đúng thiệt là con gái Sài Gòn. Ai mà chẳng biết vậy. Gọi đó là cái duyên ngầm của người con gái đất Gia Định cũng chẳng có gì sai. Ai hiểu được, người đó sẽ thấy sao mà yêu mà thương đến vậy…

Có dạo đọc trong một bài viết về Sài Gòn – Gia Định của nhà văn Sơn Nam, có thấy ông viết giọng Sài Gòn, cũng như văn hóa và con người Sài Gòn là một sự pha trộn và giao thoa đến hợp nhất của nhiều nơi. Đó là những người Chăm bản địa, những người khách trú (người Hoa hay chú ba tàu), những người miền Trung đầu tiên đến đất Gia Định…Từ đó hình thành một loại ngôn ngữ vừa bản địa, vừa vay mượn của những người đi mở đất…

Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn của miền Nam, cũng như giọng người Hà Nội được xem là giọng chuẩn của người miền Bắc. Giọng chuẩn tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời gian. Như nói về giọng chuẩn của người Hà Nội, người ta nói đến cái giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói chuyện rất hay và “điêu luyện”. Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được. Nếu nói là người Việt Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa chăng chỉ còn có giọng tha thiết của người con gái xứ Huế trầm tư mới cùng được ví von như thế…

Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác. Không ngọt ngào… mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa, không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt. Giọng người Sài Gòn cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn. Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hãnh của người Sài Gòn, thứ giọng chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó lòng. Dường như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định – Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống, trong đổi mới và phát triển, thì giọng nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, nó chính là cái “thanh” của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ.

Giọng người Sài Gòn nói lên nghe là biết liền. Ngồi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau ở một quán nước, bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang, sang sảng riêng… Mà điều đặc biệt trong cách người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen, hén” ở cuối câu… Người miền khác có thích hay khoái, có yêu người Sài Gòn thì cũng vì cách dùng từ “nghen, hen” này.

Khách đến nhà chơi, chủ nhà tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu “Thôi, tôi dìa nghen!” – Chủ nhà cũng cười “Ừ, dzậy anh dìa hen!”.

Nói chuyện điện thoại đã đời, để kết câu chuyện và cúp máy, một người nói “Hổng còn gì nữa, dzậy thôi hen!”. “Thôi” ở đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt gì đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng nhau, bắt gặp cái gì vui, quay đầu sang đứa kế bên lên tiếng “Hay hén mậy?” bằng giọng điệu thoải mái…

Giọng người Sài Gòn đôi khi diễn đạt cùng một câu nói, nhưng lại bằng nhiều cung bậc giọng điệu khác nhau, lại mang ý nghĩa khác nhau. Đám nhỏ quậy, nghịch phá, người chị mắng, giọng hơi gằn lại và từng tiếng một, có chút hóm hỉnh trong đó “Dzui dzữ hen!”.

Đám bạn cùng tuổi, ngồi chơi chung, cười đùa, một người nói giọng cao cao vui vẻ “Dzui dzữ hen!”… Người Sài Gòn có thói quen hay “đãi” giọng ở chữ cuối làm câu nói mang một sắc thái khác khi hờn giận, khi đùa vui như “Hay dzữuuu”, “Giỏi dzữưưu…!”

Nghe người Sài Gòn nói chuyện, trong cách nói, bắt gặp “Thôi à nghen”, “Thôi à!” khá nhiều, như một thói quen, như cái “duyên” trong giọng Sài Gòn. Người Sài Gòn nói chuyện, không phát âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r”; “xong dzồi”.

Nói thì đúng là sai, nhưng viết và hiểu thì chẳng sai đâu, đó là giọng Sài Gòn mà, nghe là biết liền. Mà cũng chẳng biết có phải là do thật sự người Sài Gòn không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài Gòn..

Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy!” thì người Sài Gòn nói nó… thuận miệng và tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen!”. Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó. Nghe một người Sài Gòn phát âm những chữ có phụ âm “v” như “về, vui, vườn, võng” có cảm giác sao sao ấy, không đúng là giọng Sài Gòn chút nào…

Nhìn lại một quãng thời gian hơn 300 năm hình thành và phát triển của Sài Gòn từ Phiên Trấn, Gia Định Trấn, Gia Định Thành, Phiên An, Gia Định Tỉnh… cho đến Sài Gòn, dân Sài Gòn đã là một tập hợp nhiều dân tộc sinh sống như Việt, Hoa, Kh’mer… Các sử sách xưa chép lại, khi người Việt bắt đầu đến Đồng Nai – Gia Định thì người Kh’mer đã sinh sống ở đây khá đông, rồi tiếp đó là khách trú (người Hoa), và một số dân tộc láng giềng như Malaysia, Indonesia (Java) cũng có mặt. Sự hợp tụ này dẫn đến nhiều sự giao thoa về mặt văn hóa như đàn ông không mặc quần mà quấn sà rông, nhà giầu quê bận bộ áo bà ba mầu trắng, làm ăn khi giao tiếp phải có chầu “nhậu”, cũng như những mặt khác của đời sống, trong đó dĩ nhiên phải nói đến ngôn ngữ.

Tiếng nói của người Sài Gòn không chỉ thuần là tiếng Việt, mà còn là sự học hỏi, vay mượn nhiều từ ngữ của dân tộc bạn, đâm ra mang nhiều “hình ảnh” và “màu sắc” hơn. Những từ như “lì xì, thèo lèo, xí mụi, cũ xì, cái ki …” là tiếng mượn của khách trú, những từ như “xà quầng, mình ên…” là tiếng của người Kh’mer. Nói riết đâm quen, dần dần những từ ngữ đó, những tiếng nói đó được người dân Sài Gòn sử dụng một cách tự nhiên như của mình, điều đó chẳng có gì lạ… Thêm vào đó, nó được sửa đổi nhiều cho phù hợp với giọng Sài Gòn, thành ra có những nét đặc trưng riêng.

Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ “vâng”. Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”. Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói “vâng!” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt.

Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi câu nói. “Mày ăn cơm chưa con? – Dạ, chưa!”; “Mới dìa/dzề hả nhóc? – Dạ, con mới!”… Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó “thương” lạ… dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẳng hay…

Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói “Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói “Hổm nay”, “dạo này”… người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng. Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều”, là “lắm”. Nói “Nhỏ đó xinh ghê!” nghĩa là khen cô bé đó xinh lắm vậy.)

Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau. Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất Nam Bộ chung mà.

Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem… ”Nhỏ đó xinh lắm!”, “Nhỏ đó ngoan!”…Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như “cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.

Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu “Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề…nhìn phát bực!” Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm. Một người lớn hơn gọi “Ê, nhóc lại nói nghe!” hay gọi người bán hàng rong “Ê, cho chén chè nhiều nhiều, tiền ít coi!”… “Ê” là tiếng Sài Gòn đó, kiểu bắt chước Tây, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người Sài Gòn. Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là “cho chén chè, cho tô phở”… “cho” ở đây là mua đó nghen.

Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này “Lấy cái tay ra coi!” “Ngon làm thử coi!” “Cho miếng coi!” “Nói nghe coi!”… “Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà.

Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi “mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta?” – Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài Gòn à. Người Sài Gòn có thói quen hay nói “Sao kỳ dzậy ta?” “Sao rồi ta?” “Được hông ta?”… Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà… hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà. “coi dzậy mà hổng phải dzậy”.

Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là… “bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!”. Mà giọng Sài Gòn đã thế, cách người Sài Gòn xưng hô, gọi nhau cũng có phần mang “màu sắc” riêng.

Người Sài Gòn có cái kiểu gọi “Mày” xưng “Tao” rất “ngọt”. Một vài lần gặp nhau, nói chuyện ý hợp tâm đầu một cái là người Saigon mày tao liền. Nếu đúng là dân Sài Gòn, hiểu người Sài Gòn, yêu người Sài Gòn sẽ thấy cách xưng hô ấy chẳng những không có gì là thô thiển mà còn rất ư là thân thiện và gần gũi.

Mày-tao là kiểu xưng hô hay thấy trong mối quan hệ bạn bè của người Sài Gòn. Cách xưng-hô này thấy dàn trải từ đủ các mối quan hệ bạn bè; từ bạn học giữa mấy đứa nhóc chút xíu, cho đến mấy bác, mấy anh lớn lớn tuổi. Hổng biết cái máu dân Sài Gòn nó chảy mạnh quá hay sao mà thấy mấy cách gọi này nó… tự nhiên và dễ nói hơn là mấy từ như “cậu cậu – tớ tớ” của miền Bắc. Nói chuyện bạn bè với nhau, thân thiết mà gọi mấy tiếng mày mày tao tao thì nghe thật sướng, thật thoải mái tự nhiên, và khoai khoái làm sao ấy. Gọi thế thì mới thiệt là dân Sài Gòn.

Đấy là ngang hàng, ngang vai vế mà gọi nhau, chứ còn như đám nho nhỏ mà gặp người lớn tuổi hơn, đáng bậc cha, chú thì khác. Khi ấy “tụi nhỏ” sẽ gọi là chú, thím, cô, dì, hay bác và xưng “con” ngọt xớt. Có vẻ như người Sài Gòn “ưa” tiếng chú, thím, dì, cô hơn; cũng như đa phần dân miền Nam khác vậy mà. Mà có lẽ cách gọi này cũng còn tuỳ vào việc ước lượng tuổi của người đối diện. Gặp một người phụ nữ mà mình nhắm chừng tuổi nhỏ hơn mẹ mình ở nhà thì “Dì ơi dì… cho con hỏi chút…!” – còn lớn hơn thì dĩ nhiên là “Bác ơi bác…” rồi. Khi gọi một cách thân mật có ý khuyên bảo với một em nhỏ, người Sài gòn thường nói “Này, chú em…”

Những tiếng mợ, thím, cậu,… cũng tuỳ vào vai vế và người đối diện mà gọi. Có người chẳng bà con thân thuộc gì, nhưng là bạn của ba mình, lại nhỏ tuổi hơn, thế là gọi là chú và vợ của chú đó cứ thế gọi luôn là thím. Gọi thì gọi thế, còn xưng thì xưng “con” chứ không phải “cháu cháu” như một số vùng khác. Cái tiếng “con” cất lên nó tạo cho người nghe cảm giác khoảng cách giữa mình với đứa nhỏ đang nói kia tự dưng… gần xịt lại. Nghe sao mà quen thuộc, và gần gũi đến lạ lùng. Tự dưng là thấy có cảm tình liền.

Nói tiếp chuyện xưng-hô, người Sài Gòn có kiểu gọi thế này :

Ông đó = ổng

Bà đó = bả

Anh đó = ảnh

Chị đó = chỉ

Không hiểu sao mà dấu hỏi tự nhiên trở nên giữ vai trò quan trọng… ngộ nghĩnh vậy nữa. Nhưng mà kêu lên nghe hay hay, đúng hông? Gọi vậy mới đúng là chất Nam Bộ – Sài Gòn á nghen.

Người Sài Gòn cũng có thói quen gọi các người trong họ theo… số. Như anh Hai, chị Ba, thím Tư, cô Chín, dượng Bảy, mợ Năm… Mà nếu anh chị em họ hàng đông đông, sợ gọi cùng là chị Hai, anh Ba mà hổng biết nói về ai thì dzậy nè, thêm tên người đó vào. Thành ra có cách gọi : chị Hai Lý, chị Hai Uyên, anh Ba Long, anh Ba Hùng, anh Sáu Lèo…

Thêm nữa, nếu mà anh chị em cùng nhà thì tiếng “anh-chị-em” đôi khi được…. giản lược mất luôn, trở thành “Hai ơi Hai, em nói nghe nè…” và “Gì dzậy Út?”… Tôi thích cách gọi này, đâm ra ở nhà gọi Dì Út tôi chỉ là một tiếng Út gọn lỏn. Có chuyện nhờ là cứ “Út ơi… con nhờ chút!” hoặc với mấy chị tôi thì “Hai ơi Hai… em nói nghe nè!”.

Cách gọi này của người Sài Gòn nhiều khi làm người miền khác nghe hơi… rối. Có lần, kể cho người bạn ở Hà Nội nghe về mấy người anh chị trong gia đình. Ngồi kể lể “anh Hai, chị Hai, dì Hai, Út, cậu Hai, mợ Hai, chú Ba…” một hồi cái bị kêu là hổng hiểu, xưng hô gì rối rắm quá chừng, làm phải ngồi giải thích lại suốt một hồi… lâu.

Cách xưng hô của người Sài Gòn là vậy. Nghe là thấy đặc biệt của cả một mảnh đất miền Nam sông nước. Cứ thế, không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Thần Kinh. Cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn. Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương…


HẢI PHAN