THAY LỜI CHÀO MỪNG!

THAY LỜI CHÀO MỪNG!

LỜI CHÀO MỪNG

CẢM ƠN QUÝ THÂN HỮU ĐÃ MỞ CỬA VÀO NGÔI NHÀ ĐƠN SƠ "QUA DẤU BỤI THỜI GIAN" CỦA
TRẦN KIÊU BẠC.




Tuesday, August 6, 2024

NHẶT HOA TRÊN NET / NHẠC SẾN

Nhạc Sến

Ở Việt Nam, nhạc sến, nhạc bolero, nhạc vàng… – bất luận tên gọi nào – nhưng là di sản của VNCH, quả thật đã trở thành vũ khí lợi hại: Gợi nhớ về một chế độ cũ êm đềm, cho thấy sự khác biệt và mô tả căn tính của những người lính miền Nam hiền lành, không hề sắt máu trong cuộc nội chiến.

Lan rộng và phổ biến cả nước, nhưng cũng kỳ lạ, nhạc sến là loại không dễ thâm nhập, đặc biệt với lớp nghệ sĩ xuất thân từ văn hóa tuyên truyền của miền Bắc. Bề ngoài của sến thì rất giản đơn – nhưng có thể cũng rất “bất thường”. Không ít người miền Nam sau này, nghe các ca sĩ mới danh tiếng ở miền Bắc trình bày nhạc sến, đã lắc đầu “nghe không vô”.

Để chứng tỏ sự “bao dung”, nhà cầm quyền Hà Nội cũng mở những cuộc hội thảo đặt tên, xét lại cho dòng nhạc này. Nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo của nhà nước cho rằng từ “sến” bắt nguồn từ “sen” trong “con sen” – từ gốc Pháp vào những năm 1930-1940 dùng để chỉ cô giúp việc ở miền Bắc. Dĩ nhiên là ông ta nói theo tưởng tượng. Còn nhà văn Lê Đình Bích cho rằng đó là tên một trong hai cây đàn chủ lực trong trình diễn âm nhạc tài tử ở Tây Nam Bộ (cây kia là guitar phím lõm). Theo ông, có thể thuở xưa, khi nghe một bản đàn tài tử cải lương chơi bằng đàn sến (ảnh) thật hay, người nghe đã thốt lên: “Chơi thế này mới gọi là sến!”, và “sến” dần trở thành tính từ đồng nghĩa với mùi mẫn, đi vào lòng người. Thế nhưng đàn sến – là một loại nhạc cụ không phổ biến trong dân chúng, nên khó có thể trở thành tên phổ thông như vậy.

Có giai đoạn, bên cạnh cấm đoán, nhà cầm quyền sau 1975 còn tạo lý luận cho rằng nhạc sến là một sản phẩm của thời chiến tranh nên uỷ mị, chán chường, nên giờ không hợp thời, phải bỏ đi. Nhưng trên thực tế nhìn lại, cũng có rất nhiều sản phẩm thật sự sinh ra từ thời chiến tranh như nhạc tuyên truyền cách mạng của Hà Nội, không ai bỏ nhưng đã bị quên lãng hoàn toàn.

Nhạc “Bolero”, tên gọi một nhịp điệu khởi nguyên do vũ sư Sebastian Zerezo sáng tạo ra, thịnh hành tại Cádiz, Tây Ban Nha vào những năm 1780. Rất nhiều salon giải trí của giới quý tộc thời đó thích thú và yêu cầu thể loại này. Cuba là một trong những quốc gia phát triển mạnh nhịp điệu này cùng với các bộ gõ tay. Nhưng khi đến Việt Nam, bolero đã chuyển lại thành một kiểu cách khá riêng biệt, chậm rãi hơn và phù hợp cho ban nhạc nhỏ trình diễn. Điều đáng nói, nhịp (tempo) của bolero rất gần với nhịp câu 4 và câu 6 của vọng cổ. Mặc dù vẫn có những bài bolero nhịp nhanh hơn, sôi nổi nhưng loại bài hát chậm và thong thả vẫn luôn được khán giả ưa thích nhiều hơn.

Từ đầu thập niên 50, tân nhạc Việt Nam phát triển mạnh, đặc biệt là dòng bolero ở miền Nam. Theo nhiều dữ kiện lịch sử âm nhạc của miền Nam ghi lại, bài Duyên Quê của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, sáng tác năm 1955, là một trong những tác phẩm tân nhạc – được chơi theo kiểu bolero – khởi đầu cho dòng nhạc này. Có thể đã có nhiều bài bolero ra đời vào thời điểm đó, nhưng năm 1956 khi được in đĩa nhựa 33 vòng, bài Duyên Quê trở thành “hit” trong công chúng, và được ghi nhận như một trường hợp điển hình, đáng nhớ. Lối viết ca khúc gần gũi, pha trộn âm điệu dân nhạc Quảng Trị của người nhạc sĩ kỳ tài này cùng nội dung thôn quê đẹp đẽ đã khiến người Việt thời đó săn tìm và hát theo vào mỗi buổi chiều nghe đài phát thanh.

Cũng có những bài hát khác được tìm thấy sớm hơn, nhưng lại chỉ là văn bản và không được công chúng biết nhiều như bản Nắng Chiều của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, viết năm 1952.

Kể từ bài Duyên Quê, các bài hát bolero của các nhạc sĩ tài danh ở Sài Gòn cũng bùng phát, mở màn cho kỷ nguyên bolero miền Nam. Các bài hát như Trăng về thôn dã (Hoài An), Về miền Tây (Y Vân & Văn Thế Bảo), Sông núi miền Nam (Cô Hương Huyền Trinh), Tiếng Hai Đêm (Hoàng Nhân)… cũng được sự trợ giúp của các chương trình phát thanh gửi đi khắp nơi, tạo thành một không gian âm nhạc mới mẻ và hấp dẫn giới trẻ. Cũng cần nói thêm, bài Duyên Quê vào thời điểm đó thành công dài lâu đến mức năm 1972, danh hài Phi Thoàn gửi thư xin phép nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ cho viết “chế” thêm lời hài hước trong các tiết mục trình diễn trên truyền hình của ông.

Lý do của sự thành công này, là do nền âm nhạc Việt Nam vẫn có nhiều nhạc sĩ viết theo nhạc pháp Tây học như Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Dương Thiệu Tước, Cung Tiến… nhưng đa số khán giả vẫn thích những nội dung và nhạc ngữ khuynh hướng thuần Việt. Cũng từ việc nhìn thấy được cảm quan của khán giả mà nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ mở rộng hơn, cho ra mắt dòng đồng quê Việt Nam với các tác phẩm như Chuyện tình nàng trinh nữ tên Thi, Chuyện tình Mộng Thường… mà sau này, thừa kế từ đó, ra đời dòng nhạc quê hương trữ tình hiện nay.

Theo những dữ liệu từ báo chí Sài Gòn cũ, chữ “sến” này bắt nguồn từ cách đọc nhại đi của nữ diễn viên phim tình yêu diễm lệ đầy tính drama, người Áo Maria Schell (tên đủ là Maria Margarethe Anna Schell, sinh năm 1926, chết năm 2005). Trong những ngày đầu màn ảnh chớp bóng xuất hiện ở Sài Gòn, các bộ phim của nữ diễn viên này – được coi như là những chuyện tình ướt át Quỳnh Dao của phương Tây – như Die Letzte Bruecke, As Long As You’re Near Me, The Magic Box…

Vào những ngày tháng mà thói xu thời Tây Phương, cũng như việc chạy theo trào lưu văn hóa thịnh hành khiến các ký giả có khuynh hướng bảo thủ chỉ trích, ký giả Tuấn Huy của tuần san Kịch Ảnh, vào thập niên 60 đã viết nhiều bài bình luận, nhại tên của nữ diễn viên này thành “Ma-ri Sến” để mô tả giới trẻ đang yêu thích nhạc bolero và chê bai các nội dung đầy nước mắt, u buồn của dòng nhạc này là “Sến”. Nhạc sến có thể được coi là khai sinh tên gọi bình dân từ đó.

Những năm 2000. từ khi Internet trở thành cuộc cách mạng, âm nhạc của miền Nam VNCH chính là cuộc nổi loạn đầu tiên, khi vượt rào kiểm duyệt của nhà nước cộng sản và tự do phổ biến trên các mạng xã hội. Nhạc vàng, bolero, nhạc sến… được giới thiệu như sự thách thức ngấm ngầm về việc phải tìm hiểu một nền văn hóa tự do. Thậm chí sự hồi sinh của dòng nhạc vàng còn là cơ hội tìm thấy nhiều giọng ca mới thừa kế di sản văn hóa của miền Nam, mặc dù họ lớn trên trong sự giáo dục của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Cuộc đánh vật triền miên và nhiều tình tiết bi hài giữa nhà nước cộng sản và dòng nhạc vàng chính thức kết thúc vào ngày 14 Tháng Mười Hai 2020, bằng nghị định 144/2020. Ông Trần Hướng Dương, Phó cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn – Bộ Văn hóa CSVN, nói “sẽ không còn quy định về việc cấp phép biểu diễn tác phẩm nữa”.

Sau 46 năm dùng đủ loại quyền lực và nguồn lực để hủy diệt, Hà Nội đã mệt mỏi, chính thức rời sàn đấu, và đành chấp nhận để cho dòng nhạc “đồi trụy, ủy mị” của chế độ cũ tự do đi vào đời sống. Nhạc Vàng chính thức không còn thân phận tù đày sau 46 năm.

Image: Google

No comments: