THAY LỜI CHÀO MỪNG!

THAY LỜI CHÀO MỪNG!

LỜI CHÀO MỪNG

CẢM ƠN QUÝ THÂN HỮU ĐÃ MỞ CỬA VÀO NGÔI NHÀ ĐƠN SƠ "QUA DẤU BỤI THỜI GIAN" CỦA
TRẦN KIÊU BẠC.




Sunday, June 7, 2015

VỀ TRUYỆN KIỀU: THƠ VÀ NHẠC

ACTV
Association Culturelle Traditionnelle Vietnamienne
Kiều History
UNESCO a conservé et classé cette œuvre Kim Vân Kiều de NGUYEN DU parmi les œuvres patrimoniales de l’humanité (1965).

VFTV Viet Face TV - Australie 12/09/2013


VietFace Show Part 1 – Quách Vĩnh-Thiện.

VietFace Show Part 2 – Quách Vĩnh-Thiện.

http://www.youtube.com/watch?v=f1sQgV73bi8

Australie - Sydney SBTN.

SBTN - Publiée le 11 oct. 2013

Truyện Kiều được phổ nhạc và giữ trọn từng chữ trong Thơ.

Thái Hòa phỏng vấn Quách Vĩnh-Thiện - SBTN Úc Châu thực hiện.



Sách Truyện Kiều Thơ và Nhạc
BiaSach-TruyenKieuThoNhac



Truyện Kiều : Thơ và Nhạc

Nguyễn Thanh Liêm
NguyenThanhLiem-QuachVinhThien-1
Nguyễn Thanh Liêm – Quách Vĩnh Thiên – California 2010.
Truyện Kiều hay Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du ra đời đến nay đã có trên dưới hai trăm năm. Trong suốt thời gian hai trăm năm đó Truyện Kiều vẫn luôn đứng vững ở vị thế số một trong nền văn học Việt Nam. Cho đến hết thập niên đầu của thế kỷ 21, Đoạn Trường Tân Thanh vẫn được xem như một tác phẩm vô tiền tuyệt hậu, có nghĩa là trước đó chưa có và sau đó cũng chưa có một tác phẩm nào khác ngang bằng hay vượt qua được. Tạo được một tác phẩm như vậy Nguyễn Du quả thật là một thiên tài có một không hai của nền văn chương nước nhà. Từ lúc tác phẩm này ra đời đến giờ không biết đã có bao nhiêu người đọc, đã có bao nhiêu người học và thuộc lòng?

Không có con số thống kê để biết rõ, nhưng theo sự ước tính của nhiều học giả, giáo sư, nhà văn, nhà thơ thì con số đó có thể, nếu không đến một trăm phần trăm, thì cũng phải tám chín mươi phần trăm dân chúng. Nói như một nhà văn thời tiền chiến thì “Từ xưa đến nay, không có quyển chuyện nào phổ thông cho một nước bằng chuyện Kiều, từ bực tài cao học rộng cho đến người chí thiển học sơ, từ bực khuê các giai nhân cho đến con sen, con đỏ, ai cũng xem, ai cũng đọc, ai cũng ngâm nga, mỗi người đọc một cách, hiểu một cách, thích một cách. Nhiều người đọc đến đem ra làm vật dụng hằng ngày: người ta mừng nhau bằng Kiều, khóc nhau cũng bằng Kiều, chuyện Kiều là sách đố, chuyện Kiều là sách bói...” (Song An Hoàng Ngọc Phách, bài đọc ở hội Khuyến Học Bắc Ninh, 1935). Đó là tình trạng người ta biết và thích Truyện Kiều hồi trước 1945.

Sau này, vì chiến tranh, loạn ly, vì thời thế và tình hình chính trị không cho phép cho nên số người đọc Truyện Kiều, thưởng thức tài nghệ của Nguyễn Du có phần giảm bớt. Riêng ở Miền Nam tự do, việc dạy Đoạn Trường Tân Thanh trong học đường, cũng như việc nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều vẫn được giới trí thức đặc biệt chú ý trước biến cố lịch sử 1975.

Từ sau 1975 đến nay trong sinh hoạt văn hoá của người Việt hải ngoại, Nguyễn Du với Truyện Kiều, cũng như những tác giả khác trong văn học Việt Nam, ít có cơ hội được nói tới. Tuy nhiên trong thầm lặng vẫn có một ít người nhớ và nghĩ tới Đoạn Trường Tân Thanh và tác giả của nó. Trong những năm 2003, 2004, 2005, tập san Dòng Việt ở Nam Cali cho ra đời 3 Tuyển Tập Phê Bình Đoạn Trường Tân Thanh với cả thảy gần bảy mươi (đúng ra là 68) bài viết của nhiều học giả, giáo sư, văn thi sĩ, từ xưa đến giờ. Thật ra thì 68 bài viết mới chỉ là con số nhỏ đối với khoảng trên dưới 600 bài về Nguyễn Du và Đoạn Trường Tân Thanh theo tin tức thu lượm được. Trong lúc đó, ở lãnh vực khác của nghệ thuật, lại có một người đã ròng rã gần năm năm trời đem hết tài năng của mình ra phổ nhạc trọn cả tác phẩm hơn ba ngàn câu thơ lục bát của Nguyễn Du, kết thành một bộ đĩa 7 CDs với 77 bản nhạc về Kim Vân Kiều. Người đó là kỹ sư/nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện mà Hàn Lâm Viện Âu Châu gần đây vừa mời làm thành viên sau khi tác phẩm Kim Vân Kiều, của nhạc sĩ hoàn thành.

Bỏ ra gần năm năm trời, ròng rã sáng tác để phổ hơn ba ngàn câu thơ lục bát của Nguyễn Du thành 77 bản nhạc, Quách Vĩnh Thiện đã hoàn thành một công trình nghệ thuật thật vĩ đại. Từ trước đến giờ chưa có một nhạc sĩ nào làm được việc đó, và về sau cũng chưa chắc sẽ có người làm nổi việc này. Ở đây không phải chỉ có đủ kiên nhẫn, chịu khó làm việc, hay có động cơ ham muốn thúc đẩy, mà còn phải có óc sáng tạo, tính nhạy cảm, óc tưởng tượng, năng khiếu âm nhạc, và nhất là lòng thương cảm đối với Đoạn Trường Tân Thanh và nhất là với thiên tài Nguyễn Du. “Bất tri tam bách dư niên hậu. Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?” Câu hỏi của Nguyễn Du khi ông khóc cho nàng Tiểu Thanh đã có câu trả lời từ sau khi tác phẩm bất hủ của ông ra đời. Từ Mộng Liên Đường chủ nhân đến Chu Mạnh Trinh và nhiều văn thi sĩ sau này đã có nhiều người chia sự thương cảm của ông đối với người tài tử, giai nhân, hay nói rộng ra, con người ở trên trần gian này. “Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu?”.

Thật sự nếu nghĩ cho kỹ thì đâu có phải chỉ tài tử, giai nhân mới bị định mệnh vùi dập, mà hể đã là người thì phần đông người ta đều bị khốn khổ vì định mệnh, đều bị chung số phận “bạc mệnh” như nhau. Nếu ở địa hạt văn chương đã có người thương cảm khóc với Tố Như, thì ở địa hạt âm nhạc nay cũng có người đồng cảm. Quách Vĩnh Thiện chính là người đồng cảm đó. Bảy mươi bảy bản đàn phổ từ toàn tác phẩm ĐTTT đã nói lên điều đó.

Sách “Truyện Kiều : Thơ và Nhạc” ra đời hôm nay vừa để vinh danh thiên tài Nguyễn Du sau gần, hay trên, hai trăm năm ĐTTT ra đời, vừa đánh dấu sự xuất hiện tác phẩm phổ nhạc Kim Vân Kiều của Quách Vĩnh Thiện. Cho nên sách gồm hai phần chính: Phần Một chứa đựng trên 20 bài viết của các học giả, giáo sư, văn thi sĩ nổi tiếng từ trước tới giờ về thiên tài Nguyễn Du và tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh, và Phần Hai gồm 10 bài viết về nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện và tác phẩm phổ nhạc Kim Vân Kiều của người nhạc sĩ/Hàn Lâm Viện sĩ này.

Về Phần Một, vì điều kiện và phương tiện hạn chế, chúng tôi chỉ xin đăng một số ít bài xem như tiêu biểu cho một số khuynh hướng/quan điểm quan trọng mà thôi. Từ trước đến giờ đã có rất nhiều bài viết có giá trị về tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh và tác giả Nguyễn Du. Sự lựa chọn một ít bài của chúng tôi ở đây hoàn toàn chủ quan, và không theo những tiêu chuẩn khoa học nào cả. Có điều những bài chúng tôi lựa chọn dù là từ nhiều quan điểm cũng như khía cạnh khác nhau, vẫn có một mẫu số chung là góp phần vào việc vinh danh Truyện Kiều là một tuyệt phẩm, một kiệt tác, và Nguyễn Du quả là một thiên tài [1], [2]. Với sức sáng tạo mạnh mẽ, óc tưởng tượng phong phú, một con tim dễ rung cảm, một tâm hồn cao đẹp và với khả năng tổng hợp khéo léo, thiên tài Nguyễn Du đã vận dụng cả vốn văn hoá xã hội mà môi trường và hoàn cảnh đã cung ứng cho ông để dựng nên tác phẩm vô tiền tuyệt hậu.

Từ câu chuyện ngắn của Dư Hoài về một nàng Kiều kỷ nữ, và từ một chương hồi tiểu thuyết 20 hồi của Thanh Tâm Tài Nhân [3], óc sáng tạo của Nguyễn Du đã dựng nên câu chuyện Đoạn Trường Tân Thanh với bao nhiêu tình tiết éo le, khúc chiết, làm nổi bật vai trò phi lý của định mệnh đối với thân phận bi đát của con người. Óc tưởng tượng phong phú đã giúp tác giả tạo nhiều hình ảnh thi ca tuyệt vời trong việc biểu tả các hạng người, các cảnh vật, các tâm trạng vui buồn của nhân vật chính. Tính dễ rung cảm giúp Nguyễn Du tạo ra tâm lý nhân vật Thúy Kiều thật xuất sắc, rất hợp lý với chuỗi cảm nghĩ và hành động đưa đến cuộc đời đầy gian truân, khốn khổ, đầy nước mắt của con người ở mọi nơi, mọi lúc.
Nguyễn Du có học kinh sách của Nho gia, nhưng không bắt buộc phải theo đúng con đường của Trình Tử hay Chu Tử.

Nguyễn Du có đọc có thấm nhuần tư tưởng Phật giáo, nhưng ông không bắt buộc phải đi đúng con đường giải thoát của Đức Thích Ca. Ông còn tin ở Trời, ở định mệnh, ở sự sắp đặt của Trời cũng như tin ở nhân quả nghiệp báo, như đa số người dân Việt cùng tin. Tinh thần cao đẹp đã giúp ông vượt qua tư tưởng của riêng một tôn giáo để đi đến tinh thần tổng hợp tam giáo, vượt qua khung cảnh của Việt Nam thế kỷ 19 để đi đến tinh thần nhân bản với hình ảnh của cuộc đời và con người ở mọi nơi, mọi lúc. Tác phẩm của ông có giá trị ngàn đời, và có giá trị trên nhiều nước ngoài Việt Nam. Hơn hai mươi bài viết trong Phần Một sẽ cung ứng nhiều bằng chứng cho thiên tài Nguyễn Du và tác phẩm bất hủ Đoạn Trường Tân Thanh như vừa trình bày. Ban biên tập sách này xin hết lòng cám ơn các tác giả có bài viết đăng trong Phần Một này nếu chúng tôi không liên lạc được với tác giả để xin phép.

Phần Hai gồm những bài nói về tác giả Quách Vĩnh Thiện và về công trình phổ nhạc lớn lao của nhạc sĩ. “Nhân bất phong sương vị lão tài”, cuộc đời từng trải phong sương dâu bể của người nhạc sĩ được Thanh Vân vẽ lại khá đầy đủ. Dòng nhạc Quách Vĩnh Thiện đi vào Đoạn Trường Tân Thanh, óc sáng tạo của tác giả, tâm hồn dễ rung cảm, lòng thương cảm của tác giả đối với thiên tài Nguyễn Du và thân phận bạc mệnh của Thúy Kiều, sẽ được các nhạc sĩ, giáo sư, nổi tiếng như Trần Văn Khê, Lê Mộng Nguyên, Trần Quang Hải, Anh Bằng, Cao Minh Hưng, Đỗ Bình, Nguyễn Văn Huy, Trọng Minh, Dáng Thơ và Việt Hải nói đến đầy đủ trong Phần Hai của quyển sách. Ban biên tập xin có lời cám ơn chân thành gởi đến tất cả quý vị.

Nhân vô thập toàn, việc làm của con người, dù có cố gắng đến đâu cũng không tránh hết được những sai lầm, thiếu sót.
Ban biên tập quyển sách này rất mong sự thông cảm của quý độc giả, quý đồng hương, và sự chỉ giáo của quý vị để cho quyển sách được hoàn thiện hơn nếu có cơ hội tái bản.

Nguyễn Thanh Liêm

Phụ chú :

[1] Một số ít nhà phê bình, hoặc đứng ở quan điểm luân lý của nho gia hoặc tựa trên học thuyết mác xít để chỉ trích nội dung của tác phẩm, nhưng không một ai phủ nhận giá
trị nghệ thuật của thiên tài Nguyễn Du. Cụ Ngô Đức Kế, trong bài “Luận Về chánh học cùng tà thuyết’ đã có nhận xét rằng: ”Nói về văn chương quốc âm của ông Nguyễn Du thời vẫn là hay thiệt ; song cái lối văn vần ngâm nga ngợi hát, chỉ là một lối trong đạo văn chương, văn tuy hay mà truyện là truyện phong tình thời có vẽ “ai dâm sầu oán, đạo dục tăng bi”, tám chữ ấy không tránh đằng nào cho khỏi. Trong khi đó Nguyễn Bách Khoa viết:  “Thế là do yếu tố chiến bại mà nói ra yếu tố đoạn trường của Truyện Kiều. Đã thua, đã thất bại đến đầu hàng, thất bại đến phải tiêu ma, thì sao không đoạn trường cho được?
. . .Truyện Kiều quả đã chứa đựng một trời sầu thảm và ai oán không bờ bến”. Thật ra thì những sầu oán, bi thương, những thất bại khổ đau của con người, hay nhân vật trong tác phẩm văn chương thuộc về đề tài của tác phẩm, và đề tài không phải nghệ thuật, thành ra thất bại, bi thương, sầu khổ trong Đạn Trường Tân Thanh không là dấu hiệu của sự thất bại, hay yếu kém về nghệ thuật của tác giả Nguyễn Du.

[2] Mổ xẻ nhân cách, hay tâm lý, hay tâm sinh lý của con người, phần đông các khoa học gia đều chấp nhận có hai yếu tố quyết định. Trước kia thì hai yếu tố đó là di truyền (heredity) và môi trường hay ngoại cảnh (environment).
Ngày nay người ta dung từ ngữ tự nhiên (nature) và giáo dục (nurture) thay vì di truyền và môi trường để gọi hai yếu tố quyết định tâm lý của con người. (Judith Rich Harris: “The nurture assumption” ; Peter J. Richerson: “Not by Genes Alone” ; Barbara Rogoff: “The Cultural Nature of Human Development” ; Steven Pinker: “The Blank Slate”)
Yếu tố môi trường /ngoại cảnh hay giáo dục giữ vai trò vô cùng quan trọng. Con người sinh ra và lớn lên trong khuôn khổ văn hoá xã hội nào thì sẽ phải được dạy dỗ, đào tạo nên một phần tử của xã hội, văn hoá đó. Tiến trình xã hội hoá (socialization) qua ba nguồn giáo dục gia đình, học đường, và trường đời, đã cung ứng cho con người cả một kho ngữ vựng (và văn phạm), một hệ thống giá trị xã hội, một nền học thuật tư tưởng, bao nhiều những cách thế xử sự ở đời. Cả một cái vốn văn hoá xã hội mà con người thu nhận được từ những người xung quanh từ lúc ấu thơ cho đến khi trưởng thành là do quá trình xã hội hoá mà ra. Nếu người ta được sinh ra trong một gia đình thế gia, vọng tộc, có nhiều người (cha mẹ, anh em, họ hàng) khoa bảng, quan trường như Nguyễn Du thì tất nhiên người ta sẽ học được rất nhiều những từ ngữ trí thức, bóng bẩy, lối diễn tả suông sẻ, chải chuốt, cả một ngôn ngữ của một “chi văn hóa” (subculture) đặc biệt của xã hội quan quyền, sang trọng. Khi bước chân vào trường học, chắc chắn Nguyễn Du phải được học với những ông thầy gỉỏi, có tiếng ở trong vùng. Nguyễn Du cũng sẽ có cơ hội đọc nhiều kinh sách, tác phẩm văn chương giá trị, có nhiều dịp trau đổi ý kiến, tư tưởng với những người có học thức, thuộc giới trí thức lúc bấy giờ.

Hệ thống giá trị xã hội, những tư tưởng về thiên mệnh, thuyết chính danh, thuyết trung dung, tư tưởng tu-tề-trị-bình, luân lý tam cương ngũ thường, tứ đức tam tùng của Nho giáo (từ Khổng, Mạnh, đến Trình, Chu), thuyết vô vi, nhàn hạ của Lão Trang, hay Tứ Diệu Đề và Thập Nhị Nhân Duyên cùng với lẽ vô thường, luật nhân quả, nghiệp báo, vv. .. của Phật giáo, tất cả những tư tưởng/triết lý đó đều có đầy trong ký ức (xem như thư viện tinh thần) của Nguyễn Du. Từ cuối thế kỷ 18 sang đầu thế kỷ 19 Thơ Nôm đã đến thời cực thịnh. Các tác phẩm lớn đã ra đời. Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc, Hoa Tiên truyện đã có mặt trên văn đàn, v.v... Thời ly loạn, cuộc bể dâu, cảnh tranh quyền đoạt lợi trong phủ Chúa triều Lê Mạt, sự nổi dậy của Tây Sơn, sự đánh chiếm Thăng Long của Nguyễn Huệ, sự sụp đổ của nhà Lê, sự thống nhất đất nước của Nguyễn Ánh, tất cả bức tranh bi thảm của người dân Việt thời chiến tranh ly loạn phải hằn sâu trong tâm tư Nguyễn Du. Tất cả những dữ kiện, hình ảnh, tín liệu, tư tưởng đó đều thuộc yếu tố môi trường/hoàn cảnh mà Nguyễn Du đã thu nhận được từ quá trình xã hội hoá.

Đây là yếu tố cần thiết góp phần vào việc dựng nên đời sống tâm lý của Nguyễn Du, nhưng yếu tố quan trọng này chưa phải là đủ để quyết định một thiên tài. Các khoa học gia nghiên cứu về di truyền, về genes, về cấu trúc não bộ của con người cho biết những yếu tố này có phần quyết định trong đời sống tâm lý của con người nhưng không thể nói được bộ óc hay genes của một thiên tài khác với người thường như thế nào? Những trắc nghiệm tâm lý thường dùng ở Mỹ bây giờ như Stanford Binet, những aptitude tests, những interest inventories có thể cho biết chỉ số IQ, số điểm percentiles ở một địa hạt nào, hay sở thích của người ta ra sao, v.v... nhưng cũng không trắc nghiệm được một thiên tài.
Tuy nhiên một số các nhà tâm lý có thể nhận ra những hoạt động tâm lý vượt trội của một thiên tài ở địa hạt nghệ thuật như óc sáng tạo, óc tưởng tượng, khả năng phân tích/tổng hợp, trực giác, tính nhạy cảm (dễ cảm xúc), v.v...

[3] Câu chuyện có thể là một vay mượn, có thể lấy từ chuyện phong tình của Dư Hoài hay Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Trung Hoa nhưng đây không phải là một tác phẩm dịch mà là một tác phảm có phần sáng tạo quan trọng của Nguyễn Du. Chuyện của Dư Hoài chỉ là câu chuyện ngắn có mấy trang kể lại cuộc đời của một ca kỷ có thật ở trên đời tên là là Vương Thúy Kiều. Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân là một quyển chương hồi tiểu thuyết gồm 20 hồi. Ở đầu mỗi hồi có 2 câu đối làm tiểu đề như phần nhiều những truyện Tàu mà ta thường thấy. Truyện Kiều của Nguyễn

Du có tất cả 3254 câu lục bát, không phân thành hồi như chương hồi tiểu thuyết. Thành ra Nguyễn Du sáng tác hay phóng tác nhiều hơn là dịch thuật. Đã sáng tác, hay dù là phóng tác đi nữa thì yếu tố sáng tác, yếu tố tạo cái gì mới mẻ vẫn có ở nơi tác giả.


Nguyễn Thanh Liêm

Nguyễn Thanh Liêm

NguyenDu 1

Nguyễn Du ( 1766-1820 )

Phạm Quỳnh ( 1892-1945 )

Pham Quynh
Câu nói nổi tiếng

Truyện Kiều còn, tiếng ta còn ;
Tiếng ta còn, nước ta còn.
PHẠM QUỲNH (1892 - 1945)

Pham Quynh 1

Pham Quynh 2
Kiều History – Part 1.
Version avec la traduction française et anglaise :

Traduction française : Léon Lê Đình Bảo, Nguyễn Văn Vĩnh.
LeDinhBao
Léon Lê Đình Bảo.
Kỹ Sư – Ecole des Mines.
(1955 – 10/02/2009)
NguyenVanVinh
Nguyễn Văn Vĩnh
(1882-1936)
Kiều History – Part 1.
Version avec la traduction française et anglaise :

Kiều History 01 – Les deux soeurs Thúy Kiều, Thúy Vân :
Kiều History 02 – Thanh Minh Đạp Thanh – La pure clarté de clémence :
Kiều History 03 - Hồng Nhan Bạc Mệnh – Beauté de rose :
Kiều History 04 – Gentleman Kim Trọng :
KIều History 05 - Gặp Gở Làm Chi – Pourquoi ai-je rencontré cet home Kim :
Kiều History 06 - Kiếp Nhân Duyên – La destinée resultant du Karma :
Kiều History 07 - Mộng Triệu, Mạch Tương – L’interprétation des songes, la source des larmes :
Kiều History 08 – Le gentleman Kim Trọng, la belle Thúy Kiều :
Kiều History 09 – Rày Gió Mai Mưa – Aujourd’hui, le vent et demain, la pluie :
Kiều History 10 - Lượng Xuân – La générosité du printemps :
Kiều History 11 - Lửa Hương – Le feu d’encens :


Logo-KimVanKieu 2

Kiều History – Part 2 :
Version avec la traduction française et anglaise :

Kiều History 12 – Lòng Xuân - Cœur Léger :
Kiều History 13 – Chung Tử Kỳ - Un grand connaisseur en musique :
Kiều History 14 – Liêu Dương Ville :
Kiều History 15 – Ba Đông - Les Trois Hivers :
Kiều History 16 – Bên Tình Bên Hiếu - Côté Amour, Côté Piété Filiale :
Kiều History 17 – Ép Cung Cầm Nguyệt - Son et Sonate d’une complainte :
Kiều History 18 – Tơ Duyên - Le fil de la vie sentimentale :
Kiều History 19 – Mảnh Hương Nguyền - Un débris de l’encens :
Kiều History 20 – Mr Mã Giám Sinh :
Kiều History 21 – Madame Tú Bà :
Kiều History 22 – Đoạn Trường - Coeur déchiré :
Logo-KVK3

Kiều History – Part 3 :
Version avec la traduction française et anglaise :

Kiu History 23 - Gương Nhật Nguyệt - Le miroir du Soleil et de la Lune :

Kiều History 24 - Lầu Xanh - La Maison de joie :


Kiều History 25 - Phong Trần - Vents et poussières :

Kiều History 26 - Túc Nhân - Le Destin :

Kiều History 27 - Buồn Trông - Un regard triste :

Kiều History 28 - Sở Khanh, le Don Juan :

Kiều History 29 - Phù Dung – Hibiscus :

Kiều History 30 - Quyến Gió Rủ Mây - Séduire le vent, entraîner les nuages :

Kiều History 31 - Tống-Ngọc Tràng-Khanh, les snobs :

Kiều History 32 - Le saule de Chương Đài :

Kiều History 33 - Thuc Sinh, le lettré :


KVK4-Logo-Face

Kiều History – Part 4.
Version avec la traduction française et anglaise :

Kiều History 34 - Phận Bèo Mây - Vogue le destin par nuages et marais :
Kiều History 35 - Đêm Ngắn Tình Dài - Nuit courte, amoureux pour toujours :
Kiều History 36 - Tay Đã Nhúng Chàm - La main prise au piège :
Kiều History 37 - Tài Tử Giai Nhân - La belle et l’élégant :
Kiều History 38 - Yếm Thắm Trôn Kim - Faits dévoilés :
Kiều History 39 - Trăng Hoa - Fleur éphémère et Lune fugace :
Kiều History 40 - Càng Mặn Càng Nồng - L’ardeur d’un cœur ardent :
Kiều History 41 - Lâm Tri - L’être omniscience :
Kiều History 42 - Phi Phù Trí Quỷ - L’éphémère :
Kiều History 43 -Tam Đảo Cửu Tuyền - De la Terre à l’enfer :
Kiều History 44 - Túc Trái Tiền Oan - Haines et Dettes :

Logo - KimVanKieu 5

Kiều History – Part 5.
Version avec la traduction française et anglaise :

Kiều History 45 - Tương Phùng - Les amours retrouvées :
Kiều History 46 - Phách Lạc Hồn Xiêu - Âmes éperdues :
Kiều History 47 - Loan Phòng - Lieu Privé :
Kiều History 48 - Trạc Tuyền, nom de baptême bouddhique :
Kiều History 49 - Thiếp Lan Đình, le manoir cloîtré :
Kiều History 50 - Kim Ngân - Or et Argent :
Kiều History 51 - Hằng Thủy - Eau du Gange :
Kiều History 52 - Thành Hoàng Thổ Công - Génies tutélaires, génies de la Terre :
Kiều History 53 - Râu Hùm Hàm Én - Tu Hai à la face de tigre et au profil d’hirondelle :
Kiều History 54 - Cá Chậu Chim Lồng - Oiseau en cage, poisson dans le bocal :
Kiều History 55 – Le palais Cung Nga et la Lune :



Logo - KVK 6

Kiều History – Part 6.
Version avec la traduction française et anglaise :

Kiều History 56 - Phượng Liễn Loan Nghi - Char impérial orné de Phénix :
Kiều History 57 - Nghĩa Trọng Nghìn Non - Reconnaissance infinie :
Kiều History 58 - Hại Nhân Nhân Hại - Nuire aux autres, vous sera rendu :
Kiều History 59 - Tiền Định – Prédiction :
Kiều History 60 - Gấm Vóc - Belles Soieries :
Kiều History 61 - Thành Hạ Yêu Minh - Engagements sous les remparts :
Kiều History 62 - Hương Lửa Ba Sinh - Trois vies antérieures :
Kiều History 63 - Tơ Đào - Soie Rose :
Kiều History 64 - Nghiệp Duyên - Relation Karmique :
Kiều History 65 - Phách Quế Hồn Mai - Hantée de beaux rêves :
Kiều History 66 - Phù Tang - Cérémonie des funérailles :

KVK7 (1)

Kiều History – Part 7.
Version avec la traduction française et anglaise :

Kiều History 67 - Lai Sinh - Vie future :
Kiều History 68 - La cité Lâm Thanh :
Kiều History 69 - Châu Trần, familles alliées :
Kiều History 70 - Động Địa Kinh Thiên - Remuer Ciel et Terre :
Kiều History 71 - Chiêu Hồn - Invoquer l’âme :
Kiều History 72 - Minh Dương - Terre des vivant, Monde des ténèbres :
Kiều History 73 - Tái Thế Tương Phùng - Résurrection et Retrouvailles :
Kiều History 74 - Vật Đỗi Sao Dời - Le temps s’est écoulé :
Kiều History 75 - Đáy Biển Mò Kim - L’aiguille dans une botte de foin :
Kiều History 76 - Khổ  Tận Cam Lai - Le temps des amertumes.
Kiều History 77 - Chữ Tài Chữ Mệnh - Talent et Destinée :
Kiều History 78 - Chữ Tài Chữ Mệnh - Talent et Destinée (Vọng C ổ) :



Voyage en Images et en Musique :


Quách Vĩnh Thiện
Voyage en Image et en Musique :

Président
ACTV
Association Culturelle Traditionnelle Vietnamienne
( Hội Văn Hóa Cổ Truyền Việt Nam )

Tuesday, June 2, 2015

THƠ TRẦN KIÊU BẠC


"Vẫn còn em bên này biển rộng" Thơ Trần Kiêu Bạc; Hồng Vân diễn ngâm

LỜI BÌNH THƠ TRẦN KIÊU BẠC CỦA MỘT NGƯỜI ĐANG SỐNG TRONG LÒNG TỔ QUỐC

Đến với bài thơ duyên tình dào dạt

                          Vẫn là em bên này biển rộng 




Vẫn là em, vẫn là em
Xum xoe trong áo lụa mềm gió bay
Hôm nay em mặc áo dài
Vẫn em, dù đã bên ngoài quê hương

Dễ thôi, một chuyện bình thường
Quên trong góc tủ đã chừng vài năm 
Áo dài tà Bắc, tà Nam 
Vẫn ươm trong đó chút mầm nhớ quê

Nơi con sông nhỏ thầm thì
Còn vương chút “Nớ”, chút “Ni” Huế buồn 
Em như về giữa Cửu Long 
Áo em thấp thoáng bên dòng sông xanh 




Tóc em từng sợi mong manh 
Chảy vào tà áo, chảy quanh gót hài 
Đường ngôi em rẽ làm hai
Bên thương bên nhớ, bên ngày bên đêm

Xa quê chín khúc ruột mềm 
Giấu trong tay áo niềm tin trở về
Vẫn em, áo, với tóc thề
Nghìn xa vẫn một tình quê đậm đà

Đã đành xa vẫn còn xa
Áo em vẫn nét  mượt mà Việt Nam!
                                                                               Ngày 17.12.2009
                                                                                  Trần Kiêu Bạc 
                                                                              California ( Hoa Kì)
                                                                  Email : trankieubac@gmail.com

        ( Lời bình : Vương Bảo 
          Quí tặng nhà thơ Trần Kiêu Bạc )
                   Tôi lại được gặp Nàng Thơ Trần Kiêu Bạc trên trang lục bát .Đó là những vần thơ của con tim đa cảm . “Vẫn là em bên này biển rộng” là một minh chứng cho những điều như vậy.
                  Nhẹ nhàng và êm ả, bài thơ mở đầu bằng những câu lục bát:
Vẫn là em, vẫn là em
Xum xoe trong áo lụa mềm gió bay
Hôm nay em mặc áo dài
Vẫn em, dù đã bên ngoài quê hương
                  Nhân vật trữ tình trong thi phẩm được giới thiệu hàm súc và ngắn gọn “Vẫn là em …Vẫn em”. Từ điệp “Vẫn” là từ thuần Việt, không phải là hư từ mà là một thực từ khảng định em cứ mãi với thời gian . Em là của ngày xưa ,ngày nay .Em có khác chăng chỉ là không gian thay đổi “bên ngoài quê hương” . Em là người không những đẹp về vóc dáng “trong áo luạ mềm” mà còn đẹp về tâm hồn trong trẻo “xum xoe” .Không thể hiểu khác được, em chính là người con gái Việt Nam . Đó là chân dung của người đẹp được phác thảo bằng vài nét rất tinh tế .
                 Người con gái nền nã ấy lại được nói rõ hơn :
Dễ thôi, một chuyện bình thường
Quên trong góc tủ đã chừng vài năm 
Áo dài tà Bắc, tà Nam 
Vẫn ươm trong đó chút mầm nhớ quê
                 Mặc áo dài là chuyện bình thường của người phụ nữ Việt Nam .Có lạ chăng là lâu nay không mặc, vì một lí do nào đó trong cuộc mưu sinh cho nên để “ Quên trong góc tủ đã chừng vài năm”. Áo dài đã được thi vị hóa bằng ẩn dụ sâu sắc. Không phải là áo dài tà trước tà sau, không phải là áo dài mớ bảy mớ ba mà là “Áo dài tà Bắc, tà Nam”. Phải chăng đây là áo dài hay hình hài của quê Việt. Hay người con gái Việt thắt đáy lưng ong với hai tà mềm mại? Là gì chăng nữa đó vẫn là áo dài mang hình bóng người con gái Việt Nam. Và còn “ Vẫn ươm trong đó chút mầm nhớ quê”. Từ áo dài tác giả đã có một trường liên tưởng sâu rộng nuôi dưỡng sức sống mãnh liệt của quê hương .Nỗi nhớ quê cứ canh cánh bên lòng. Nỗi nhớ quê đã được cụ thể hóa thành hạt giống bất tử đó là “ươm”, “mầm”.\
                Nỗi nhớ quê dần dần sáng tỏ :
Nơi con sông nhỏ thầm thì
Còn vương chút “Nớ”, chút “Ni” Huế buồn 
Em như về giữa Cửu Long 
Áo em thấp thoáng bên dòng sông xanh 
                Quê Việt dằng dặc dài suốt từ Bắc vào Nam. Có biết bao nhiêu con sông dài ngắn nhỏ to . Con sông đã là người bạn tâm tình .Ta và sông gắn kết máu thịt .Người Việt Nam ai chẳng có một dòng sông chảy trong kí ức sâu thẳm .Con sông đã tắm mát cả đời ta .Cho nên sông đã “thầm thì” biết bao chuyện vui buồn nơi xứ sở . Có thể là chuyện về những thăng trầm của lịch sử ,chuyện tình của bao lứa đôi trên những chuyến đò ngang dọc. Và nhớ quê lắm , chỉ một tiếng “Nớ”, tiếng “ Ni” mà Huế trầm mặc, Huế dịu dàng Huế của mộng của thơ đã hiện lên “Huế buồn”. Chưa về được quê nhưng tà áo dài em mặc như em đang ở giữa Cửu Long giang . Áo dài em mặc đang tha thướt trên dải lụa dài “dòng sông xanh”. Khổ thơ chứa chan tình cảm đối với quê hương. Nhớ quê là nhớ những gì cụ thể nhất da diết nhất.
                 Người đẹp vì lụa ,nhưng người đẹp còn là người có vóc dáng có tâm hồn trong sáng:
 Tóc em từng sợi mong manh 
Chảy vào tà áo, chảy quanh gót hài 
Đường ngôi em rẽ làm hai
Bên thương bên nhớ, bên ngày bên đêm
               “Tóc em từng sợi”  và “đường ngôi em rẽ” là hai nét tiêu biểu mà nhà thơ đã phác họa về “em”. Đó là những nét quyến rũ nhất khi ta bắt gặp một người đẹp theo quan niệm của người xưa “cái răng cái tóc là góc con người” .Tóc em rất đẹp , nhà thơ không nói mái tóc mà tỉa ra “từng sợi” mềm ,mảnh nhưng óng mượt như sợi tơ lòng chảy từ nguồn về và “ chảy vào tà áo ,chảy quanh gót hài”. Thật rành rõ “đường ngôi em rẽ làm hai”. Đường ngôi cân đối “thương”, “nhớ”, “ngày” , “đêm” .Đường ngôi là một phép hoán dụ.Từ “đường ngôi” ta thấu rõ được những phẩm chất cao đẹp của em. Đó là người đa cảm , có trái tim nồng ấm. Em có tình thương, có nỗi nhớ. “Thương” và “nhớ” là tình cảm đặc biệt chỉ có ở những người giàu lòng nhân ái. Người luôn luôn mở lòng mình đón nhận những điều tốt lành và ban phát những niềm vui . Người lúc nào cũng mong muốn xóa đi những hận thù . “Em” là người hiếu thảo sáng rõ như “ngày” và “đêm”. “Ngày” và “đêm” là hai mặt phải trái thực hư của cuộc sống. Nguy hiểm nhất của cuộc sống là có những loại người “Bề ngoài thơn thớt nói cười / Mà trong nham hiểm giết người không dao” (Nguyễn Du) . Tóm lại từ suối tóc mềm mượt, tha thướt của em đã được buông dài, thả rộng thành một vầng mây đẹp vây quanh em .Em ở trong áng mây đó như một tiên nữ với đầy đủ phẩm chất của người phụ nữ Việt nam: đẹp người, đẹp cả tâm hồn.
                Quê hương bao giờ cũng trĩu nặng trong lòng em:
 Xa quê chín khúc ruột mềm 
Giấu trong tay áo niềm tin trở về
Vẫn em, áo, với tóc thề
Nghìn xa vẫn một tình quê đậm đà
                 “Xa quê chín khúc ruột mềm/ Giấu trong tay áo niềm tin trở về”(Có phải nhà thơ định nói “Xa quê chín khúc ruột mềm” là xa quê Việt nhớ đến dòng Cửu Long chín cửa? Hay xa quê Việt nhớ nơi có ông bà cha mẹ ta , nơi ta nhớ mẹ với chín chữ cù lao ?Hay còn ‎í nào khác nữa?) Nhưng theo tôi có lẽ “chín” ở đây không phải là số từ mà là tính từ . Ca dao cũ có câu “Chiều chiều ra đứng ngõ sau/ Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều” . Từ “chín” ở câu ca dao là tính từ nói lên nỗi nhớ nhung làm chín cả buổi chiều . Vậy thì “em” xa quê nhớ quê lắm nhớ đến độ “chín khúc ruột mềm”.Đó là nỗi nhớ không có từ nào hay hơn sâu hơn thế! “Niềm tin trở về” được giấu trong tay áo .Đó là hình ảnh rất thơ, rất mộng .Bởi lẽ áo dài là hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam . “Vẫn em” đã được khái quát bằng hai chị tiết “áo”, “tóc thề”. Hai chi tiết nêu bật được vẻ đẹp truyền thống đậm đà của người con gái Việt Nam .
              Bài thơ khép lại:  
Đã đành xa vẫn còn xa
Áo em vẫn nét  mượt mà Việt Nam!
              “Đã đành” một sự cam chịu khi việc đã rồi ,tưởng như chẳng còn hi vọng gì nữa, bởi lẽ “Xa vẫn còn xa” .Còn xa lắm biết đến bao giờ mới được gần?Nhưng chỉ cần nhìn thấy bóng dáng áo dài là đã thấy quê hương.
                “Vẫn là em bên này biển rộng” là bài thơ lục bát thành công về nội dung và nghệ thuật. Xuyên suốt bài thơ là bóng dáng của chiếc áo dài Việt Nam, có thể là “áo dài”, “áo em”, “tà áo”, “tay áo”. Đó là nét phác thảo để thi phẩm “Thi trung hữu họa”. Có thể đôi chỗ của thi phẩm còn bị ép vận .Nhưng không vì thế mà bài thơ kém hấp dẫn. Nó giống như dòng sông có thác, có ghềnh nhưng đó chỉ là những vết gợn không sao ngăn được dòng chảy từ nguồn về biển cả. Điệp từ “vẫn” được gài lồng trong hai khổ thơ đầu và hai khổ thơ cuối .Việc đó không làm cho thi phẩm thô nhạt mà lại làm cho í‎ thơ đậm đà hơn ,duyên dáng hơn, khẳng định hơn về tình cảm đối với quê nhà của “em”. Bài thơ đã nói được nỗi lòng của người “dù đã bên ngoài quê hương” nhưng trái tim vẫn gửi về xứ sở .  
                Cảm ơn nhà thơ Trần Kiêu Bạc đã cho tôi được thưởng thức một bài thơ hay.
                                                                                 Ngày 15.05.2015
                                                                            Người bình : Vương Bảo
                                                                                 

                                                                 Email : Vuongbao1938@gmail.com

Monday, June 1, 2015

NHẶT HOA TRÊN NET/ NGƯỜI NHẬT

Thuyết "Ít, Nhiều" của người Nhật Bản.
10 nguyên tắc sống khiến người Nhật có tuổi thọ cao nhất thế giới.
 
Ăn ít, nhai nhiều
Ăn thịt ít, ăn rau nhiều
Ăn đường ít, ăn quả nhiều
Ăn mặn ít, ăn chua nhiều
 
Mặc ít, tắm nhiều
Lo ít, ngủ nhiều
Giận ít, cười nhiều
Ngồi xe ít, đi bộ nhiều
 
Nói ít, làm nhiều
Tham lam ít, bố thí nhiều

NHẶT HOA TRÊN NET/ VỀ MẸ

‘Mẹ, rửa chén đi nhé...’ 


Mai Mai
Khi còn học ở đại học, một lần đi thực tập trở về, chúng tôi dẫn cả nhóm về nhà giáo sư... Sau khi buổi tối vui vẻ kết thúc, trên bàn mâm chén bày la liệt. Mấy bạn học muốn mang đi rửa, giáo sư vẻ mặt tươi cười ngăn lại nói: “Ðừng vội, có người rửa đây này!”


Giáo sư đem chén đũa bỏ vào bồn nước, trước tiên dội hết dầu mỡ và thức ăn thừa, sau đó nhẹ nhàng đến bên người mẹ già 70 tuổi và nói: “Mẹ, rửa chén đi nhé...”
Chứng kiến cảnh tượng ấy, học sinh chúng tôi bỗng dưng quá đỗi bất ngờ... Bình thường ông là một giáo sư thanh tao, nho nhã, sao lại có thể đối đãi với người mẹ đã cao tuổi như vậy!? Chỉ thấy bà cụ thay đổi hẳn nét ủ rũ nãy giờ trên bàn ăn...
Với khuôn mặt rạng rỡ, bà đi đến bên cạnh bồn rửa chén, chậm rãi rửa chén, mất khoảng nửa giờ sau mới rửa xong. Giáo sư vui vẻ nói với bà cụ: “Mẹ vất vả rồi, nghỉ ngơi một chút nhé!”
Ông cầm khăn mặt, lau tay cho mẹ.
Sau khi giáo sư đưa mẹ về phòng, lại quay vào bếp, đem chén bát ra rửa lại một lần nữa...
Rồi giáo sư nhìn lũ học trò chúng tôi, khi ấy còn đang kinh ngạc không hiểu gì, ông từ tốn bảo: “Là mẹ thì lúc nào cũng muốn làm chút gì đó cho con mình. Dù già rồi nhưng trong mắt mẹ, con mình mãi mãi cần sự nâng đỡ của mẹ. Ðể bà rửa chén, bà sẽ cảm thấy con vẫn cần mẹ, để một ngày trôi qua bà luôn thấy rất ý nghĩa. Hiếu kính cha mẹ là ngoại trừ việc giúp đỡ cha mẹ ra, còn phải để cho cha mẹ một cơ hội bày tỏ bằng hành động lòng yêu thương chúng ta nữa.”
Khi ta làm một việc khiến cho người nào đó có cảm giác là người khác còn cần đến mình, thì họ sống mới có một mục tiêu. Có mục tiêu thì cuộc sống mới phong phú và ý nghĩa, lực sống nhờ thế mà sinh động mạnh mẽ.
Trong mắt cha mẹ, con cái mãi là con cái, cho dù các con có trưởng thành rồi, nhưng người làm cha làm mẹ mãi mãi không bao giờ nguôi được tấm lòng đùm bọc con cháu
Con cái... mãi mãi là khối thịt đỏ hỏn trong lòng cha mẹ, một báu vật trong tay cha mẹ. Chúng ta sẽ mãi mãi là mối bận tâm mà cha mẹ già không bao giờ buông bỏ được...
Theo NTDTV
(Nguồn: tinhhoa.net; qua pkhanhdo@yahoo.com)

Tuesday, May 26, 2015

LỜI KHUYÊN GỞI CHO CON

Li cha dn con 


Đây là mt lá thư riêng ca ông Tôn Vn Tuyn, Vin trưng Vin Quc gia Hành chánh, mt chánh khách ni tiếng, Trung Hoa Dân Quc, Đài Loan gi cho các con ca ông lúc ông còn sng, bây gimi thy lưu hành trên mng internet, đưc nhiu phhuynh đc và cm xúc sâu đm.  " KIP SAU, DÙ CÓ THƯƠNG HAY KHÔNG THƯƠNG, CŨNG KHÔNG CÒN DP GP LI NHAU ĐÂU "... Tôn Vn Tuyn đ li nhng li căn dn như sau:

Các con thân m
ến,

Đ
i sng là vô thưng, không ai biết trưc mình sng đưc bao lâu, có nhng vic cn nếu đưc nói ra sm đhiu thì hay hơn.

i đây là nhng điu nên ghi nhtrong cuc đi :

1. N
ếu có ngưi đi xvi con không tt, đng thèm đtâm cho mt thi gi, trong cuc đi ny, không ai có bn phn phi đi xtt vi con c, ngoi trcha và mca các con. Nếu có ngưi đi xtt vi con, ngoài vic các con phi biết ơn, trân quý, các con cũng nên thn trng mt chút, vì ngưi đi thưng làm vic gì cũng có mc đích ca nó, chcó vi vàng cho là bn tt ca mình ngay.

2. Không có ngư
i nào mà không ththay thế đưc c; không có vt gì mà nht thiết phi shu, bám cht ly nó. Nếu hiu rõ đưc nguyên lý ny, thi sau ny trong cuc đi, lngưi bn đi không còn mun cùng đi trn cuc đi, hay vì lý do gì con bmt đi nhng gì trân quý nht trong đi con, thì cũng nên hiu; đó cũng không phi là chuyn tri sp.

3. Đ
i ngưi ngn ngi, nếu hôm nay ta đlãng phi thi gian, mai đây hiu đưc thì thy rng quãng đi đó đã vĩnh vin mt ri!. Cho nên, nếu ta càng biết trân quý sinh mng ca mình càng sm, thì ta đưc tn hưng cuc đi mình càng nhiu hơn. Trông mong đưc sng trưng th, chi bng mình ctn hưng cuc đi mình ngay tbây gi.

4. Trên đ
i ny chng hcó chuyn yêu thương bt dit. Áí tình chlà mt cm xúc nht thi, cm giác ny, tuyt đi stheo thi gian, hoàn cnh mà biến thiên, thay đi. Nếu ngưi yêu bt dit ri bcon ri, hãy chu khó nhn ni mt chút, đthi gian dn dn trôi qua, đtâm tư mình ttlng đng, cái đau khcũng sttnht nhòa đi. Không nên côm áp cái o nh yêu thương mãi, cũng không nên quá bi ly vì tht tình.

5. Tuy có nhi
u ngưi trên thê gii ny thành công, ni tiếng mà chng có hc hành nhiu, có bng cp cao, nhưng điu đó cũng không có nghĩa là; không cn hc hành nhiu sthành công. Kiến thc đt đưc do vic hc hành, giáo dc là vũ khi trong tay ca mình. Ta có thlp nên snghip vi bàn tay trng, nhưng không thtrong tay không có tc st. Nên nhkđiu ny !

6. Ba không yêu c
u các con phi phng dưng ba trong na quãng đi còn li ca ba sau ny, Ngưc li, ba cũng không thbo bc na quãng đi sau ny ca các con, lúc các con đã trưng thành, đc lp, đó cũng là lúc ba đã làm tròn thiên chc ca ba. Sau ny các con có đi xe Bus công cng hay đi Auto nhà, các con ăn soup vi cá hay ăn mi gói, đu là trách nhim ca các con.

7. Các con có th
yêu cu mình phi gichTÍN, nhưng không thbt ngưi khác phi gichTÍN vi mình. Các con có thyêu cu mình phi đi xTT vi ngưi khác, nhưng không thkvng ngưi khác phi đi xtt vi mình. Mình đi xngưi ta thế nào, không cò nghĩa là ngui ta sđi xli mình như thế ấy, nếu không hiu rõ đưc điu ny, stchuc ly bun phin cho mình.

8. Trong mư
i my, hai mươi năm nay, ba tun nào cũng mua vé s, nhưng vn nghèo trng tay, điu ny chng tmun phát đt, phi siêng năng làm ăn mi khá đưc. Trên thế gian ny không có cái gì min phí c.

9. Sum h
p gia đình, thân thích đu là duyên phn, bt lun trong kiếp ny chúng ta sng chung vi nhau đưc bao lâu, như thế nào, nên trân qúy khong thi gian chúng ta đưc chung sng vi nhau. Kiếp sau, dù ta có thuơng hay không thương, cũng không có dp gp li nhau đâu.

Monday, May 25, 2015


NHƯ NGỌN ĐÈN DẦU



Khêu lên một chút tim đèn
Nhìn còn chưa rõ Mẹ bên mép giường
Con về sau lúc đêm buông
Cỗng nhà đã khép sân vườn vắng hoe
Mẹ trông, Mẹ tưởng không về
Một mình ngóng đợi tay che đèn dầu
Con nhìn Mẹ nghĩ đâu đâu
Mình thu bóng nhỏ Mẹ rầu rầu trông
Hình như lưng Mẹ đã còng
Con liên tưởng đến đèn không còn dầu
Gió đêm lại tạt đèn chao
Ngọn đèn sắp tắt dầu hao lụn dần
Mỗi ngày đèn sáng yếu hơn
Mẹ ơi! Mai mốt Mẹ còn đây không?
Mai nầy dầu cạn tim run
Là con xa cách muôn trùng Mẹ yêu!


TRẦN KIÊU BẠC (1980)

THƠ BẠN BÈ/ NHIÊN HẠ

Tham thiền

Giữa khuya tịch lặng tham thiền
Nghe tâm khuấy động ưu phiền ngổn ngang 
Có con kiến nhỏ bên sàng
Hỏi ta thấy ánh đạo vàng hay chưa?


Cửa thiền

Cửa thiền chả có nhỏ to
Ai đi qua đó nghe đò lắc lư?
Niệm nào nẩy hạt tâm từ
Thoáng nghe tiếng hót chân như đầu cành


Ý thiền

Ý thiền không cửa sao vô
Tịnh tâm một khắc nam mô Di Đà
Phật cười vi tiếu như hoa
Đẹp vô ngần ấy cửa qua đây rồi!


Ngộ thiền

Dã quỳ khoe sắc sớm mai
Nhởn nhơ cánh bướm miệt mài ghé thăm
Bướm hoa tương tác sắt cầm
Ý thiền chợt nở toang trong khắc này!!!

Nhiên Hạ
05232015

Sunday, May 24, 2015

XA NHAU 



Trần Kiêu Bạc 

Mình đứng hai bờ mong ngóng nhau
Nhớ đêm hai đứa chụm chung đầu
Thương ngày chia sớt từng tia nắng
Vô tình đâu nghĩ chuyện biển dâu

Bây giờ mình đã thật xa nhau
Nước vẫn đi qua mấy nhịp cầu
Mình đứng chờ trên cầu gãy nhịp
Nước đầy oan trái vội trôi mau

Tay không còn nắm chắc tay nhau
Tình xa cho nỗi nhớ cấu cào
Trầu hết xanh như từng xanh lá
Cau còn cay đắng những buồng cau

Mắt không còn trong mắt của nhau
Bốn con mắt đỏ ướt mưa Ngâu
Giá như mắt được nhìn nhau mãi
Có bao giờ mình mất nhau đâu

Không còn nói được tiếng yêu nhau
Cũng đành khóc nhớ buổi ban đầu
Mai sau trong cuộc đời phiền muộn
Nhìn trầu lại nhớ đến hương cau.

TRẦN KIÊU BẠC.
ƯỚC CHI MÌNH TRỞ LẠI TUỔI THÔI NÔI
Trần Kiêu Bạc 



( Cảm hứng từ Nguyệt Viên)

Tình qua đi ngỡ lưu dấu ngàn năm
Sông đang chảy đành không in dấu được
Tiếc nỗi buồn không trôi theo dòng nước
Nên đôi bờ hai đứa ngóng ngược xuôi

Ước chi mình trở lại tuổi thôi nôi
Để cười khóc không chia thành hai nhánh
Chưa đi dạo một mình bên sông lạnh
Sao biết đời đang tỉnh hay chiêm bao?

Tình chúng mình treo trên cuộc bể dâu
Như nắng sớm chơ vơ vùng đất lạ
Như mưa dầm lang thang qua vách đá
Thả ngày buồn trôi dọc bến sông xưa

Mình có bình tâm trước những cơn đau
Cũng không nắng trở mùa qua hiên cũ
Chỉ còn mây mang mưa về sông nhỏ
Lơ lửng bên đời chút hạnh phúc nhỏ nhoi.

Ước chi mình trở lại tuổi thôi nôi!

NHẶT HOA TRÊN NET/ GẠO LẠ

Sức khỏe và đời sống

.

Một số kết quả thí nghiệm đối chứng giữa gạo thật và loại gạo “lạ”

Trước thông tin “gạo giả” làm bằng nhựa độc hại có mặt ở nhiều vùng nông thôn ở châu Á, trong đó có Việt Nam, TS Nguyễn Hồng Kiên – một chuyên gia khảo cổ đã mở cuộc thực nghiệm để so sánh giữa gạo thật v 
TRUNGQUOC-GAOGIA1

Trước thông tin “gạo giả” làm bằng nhựa độc hại có mặt ở nhiều vùng nông thôn ở châu Á, trong đó có Việt Nam, TS Nguyễn Hồng Kiên – một chuyên gia khảo cổ đã mở cuộc thực nghiệm để so sánh giữa gạo thật và một loại gạo được nghi ngờ là hàng nhân tạo.
Trước đó, vào năm 2011, 2012, thông tin “gạo giả” cũng gây xôn xao dư luận và cho đến nay, cơ quan chức năng đều chưa phát hiện ra. Bên cạnh đó, có một chuyên gia còn nhận định rằng rất khó để làm gạo giả vì giá thành làm ra đắt hơn hoặc bằng với gạo thật. Tuy nhiên, từ nghi ngờ gạo giả của một gia đình hàng xóm đã để bát cơm trong phòng dưới thời tiết oi bức nóng nức không thiu, TS Nguyễn Hồng Kiên đã tiến hành khảo nghiệm mẫu gạo này với gạo thật bằng các phương pháp trực quan.
Nếu nhìn bằng mắt thường thì gạo nghi giả và gạo thật không hề có điểm gì khác biệt.

TRUNGQUOC-GAOGIA12

Để thử nghiệm về độ cứng, TS Kiên đã dùng cốc siết cả 2 loại gạo trên thì thấy rằng gạo nghi giả dễ vỡ hơn nhưng không thành bột mà chỉ vỡ thành hạt nhỏ. Trong khi đó gạo thật khó vỡ những nếu vỡ thì thành bột mịn.
Tiếp tục cho 2 loại gạo vào 2 cái cốc nhỏ đựng nước thì thấy gạo nghi giả có nhiều hạt nổi phềnh, một số chìm xuống. Còn gạo thật thì tất cả các hạt đều chìm ở đáy cốc. Sau 50 phút, dù có lắc cốc nước thì các hạt nổi của loại gạo nghi giả vẫn nổi. Bên cạnh đó, gạo thật không trắng đục nhanh như gạo nghi giả và gần như không trương nở.

TRUNGQUOC-GAOGIA13

Cho bột gạo vào nước thì thấy bột gạo thật mịn hơn nên tan nhanh, cốc nước có màu nước gạo, số lượng bột nổi ít. Sau 4 tiếng 10 phút thì bột gạo ngấm nước và chìm hết, lắc mạnh nước đục có màu sữa.
Bột gạo nghi giả to hạt hơn nên số nổi nhiều hơn, cốc nước ít đục. Cùng để thời gian 4 tiếng 10 phút thì cốc nước ngâm bột gạo nghi giả này vẫn nổi nhiều hạt bột, lắc mạnh, thậm chí cho que vào khuấy nước vẫn trong veo.
Ngoài ra, TS Kiên còn tiến hành thử nghiệm bằng cách dựa vào giác quan của côn trùng. TS Kiên thử để 3 hạt gạo mỗi loại vào đường hành quân của đàn kiến. Kết quả cho thấy kiến chỉ tha lôi gạo thật còn hạt nghi giả thì hoàn toàn bỏ qua.

TRUNGQUOC-GAOGIA15

Nếu gạo giả để riêng lẻ thì có nhiều cách để phân biệt. Chẳng hạn như cho gạo vào ngâm trong nước, gạo thật sau 1 thời gian sẽ trương nở, còn gạo giả thì không mà nổi lên mặt nước. Tuy nhiên điều đáng lo sợ là nếu kẻ bất lương có chủ tâm đánh lận con đen thì sẽ trộn cả loại gạo giả với gạo thật để đem bán trên thị trường thì rất khó để phân biệt.
Chuyên gia dinh dưỡng Mary Easaw-John,Viện Tim mạch quốc gia Malaysia“một số chất, chẳng hạn như nhựa tổng hợp, không thể ăn được, và về lâu dài sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hệ tiêu hóa”.
Theo phản ánh của Strai Times, đã có bằng chứng cho thấy gạo giả được tổng hợp từ khoai tây, khoai lang, và nhựa tổng hợp, đúc thành hình dạng của gạo thật và hướng đến các quốc gia đông dân như Ấn Độ, Indonesia và Việt Nam.
Bộ Nông nghiệp Singapore và Malaysia cho biết chưa phát hiện ra sản phẩm này nhưng không loại trừ nó có thể lọt vào thị trường thông qua con đường buôn lậu. Còn tờ International Business Time cho biết gạo giả đã có trên thị trường Tứ Xuyên, Trung Quốc
THEO SỐNG MỚI