THAY LỜI CHÀO MỪNG!

THAY LỜI CHÀO MỪNG!

LỜI CHÀO MỪNG

CẢM ƠN QUÝ THÂN HỮU ĐÃ MỞ CỬA VÀO NGÔI NHÀ ĐƠN SƠ "QUA DẤU BỤI THỜI GIAN" CỦA
TRẦN KIÊU BẠC.




Saturday, November 5, 2011

DÃ QUỲ CAO NGUYÊN


Còn mang trên vai nhan sắc dã quỳ
Dẫu đã xa ngàn phố cao nguyên cũ
Phố mãi lấm lem dốc cao bụi đỏ
Dã quỳ vẫn in lớp lớp hoa vàng

Ôm trong lòng nỗi nhớ nhiều ngăn
Rừng hoa dại nhốt trong ngăn lớn nhất
Chờ gió rơi vào rượu cần say khướt
Sắc vàng rung lên nỗi nhớ dã quỳ

Nắng lao xao, trời xanh thắt lòng ai
Tiếc một nỗi màu xanh không chạm đất
Để dã quỳ nằm sóng soài chờ nắng tắt
Một mình hoa vàng trong bụi đỏ không tan

Nhớ vẫn không cùng thương vẫn miên man
Gùi trên lưng, ngô đầy khố xanh khố đỏ
Sao không gùi theo sắc vàng hoa thương nhớ
Để thị thành vắng mãi sắc vàng tươi?

Dã quỳ cao nguyên chỉ gặp một lần thôi
Sắc vàng lạ kỳ theo người cùng năm tháng...


TRẦN KIÊU BẠC
BÀI THƠ BIỂN CÁT


Có lần đi dạo chơi quanh biển
Nghe cát gọi nhau dưới chân mình
Bọt nước lao xao như ẩn hiện
Sóng trắng chồm lên khúc biển xanh


Biển mãi xanh ôm lòng cát trắng
Cát in, biển xóa vết chân người
Hai cách để người tin chung thủy
Mất còn hạnh phúc vẫn chia đôi


Tháng năm làm biển dần thay đổi
Cát sẽ không còn tiếng gọi nhau
Chân giẫm đau, cát buồn không nói
Chỉ thấy ngàn xanh biển hóa dâu


Có bài hát nào ca ngợi cát
Biển tràn ngập cát chẳng thèm đau
Cát vẫn hồn nhiên cười bát ngát
Mặc cho sóng vỗ đến bạc đầu!


TRẦN KIÊU BẠC

Saturday, October 22, 2011


VỐC NƯỚC MƯA LẠI NHỚ



Nghe mưa lại nhớ Sàigòn
Tiếng rao khuya vẫn như còn dư âm
Mưa về không chút phân vân
Cứ rơi từng hạt rơi dần thâu đêm
Rót qua góc nhỏ im lìm
Mưa đi vaò chốn tịnh yên phố buồn
Trong mưa có khúc đoạn trường
Cho tình nhân rớt nụ hôn vội vàng
Như ai choàng tấm khăn voan
Mỏng như tơ lụa giăng màn quanh đây
Chỉ vừa ướt lạnh đôi vai
Mưa như ngắn lại để dài nhớ thương
Hạt mưa chen chật phố phường
Thấy mưa như thấy người thương trong đời
Những hạt mưa khúc khích cười
Vốc nước mưa nhớ không nguôi Sàigòn.

TRẦN KIÊU BẠC

NHẶT HOA TRÊN NET

BÙI GIÁNG : THƠ TIÊN HAY THƠ ĐIÊN?

Bài Viết : NGUYÊN NGỌC
Trước khi Sài Gòn sụp đổ, tôi đã có một thời gian dài sống tại Lăng Cha Cả, gần nhà thờ Tân Sa Châu. Để đến được trung tâm Sài Gòn, từ khu này phải đi qua những con đường Trương Minh Ký – Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sĩ). Ở đoạn chân cầu Trương Minh Giảng có một cái chợ mang cùng tên và sau này, ở bên kia đường, Đại học Vạn Hạnh của Phật giáo được xây dựng. Có một thời, đây là nơi nhà thơ Bùi Giáng thường xuất hiện. Phan Nhiên Hạo trong bài viết Bùi Giáng Như Tôi Thấy có nhiều chi tiết khá lý thú:
Ông là một nhân vật khá nổi đình đám ở khu vực cầu Trương Minh Giảng. Có những buổi chiều đông đặc xe cộ, tôi ngồi uống cà phê bên đường nhìn ông đứng làm cảnh sát giao thông nơi đầu cầu Trương Minh Giảng. Ông đội một chiếc quần lót đỏ chói trên đầu, áo quần te tua, tay cầm chiếc roi tre dài, xoay ngang xoay dọc chỉ đường cho xe cộ. Người ta đi qua, cố gắng tránh xa ngọn roi tre dài, nhưng không ai chú ý đến ông. Ông loay hoay như vậy giữa dòng xe cộ hàng giờ liền, rồi chán, bỏ đi.
Có lần tôi thấy ông mặc một chiếc áo chim cò rộng thùng thình. Chiếc áo rất mới có vẻ hàng ngoại đắt tiền, chắc ai đó ở nước ngoài về tặng ông. Nhưng chỉ vài hôm đã thấy chiếc áo trở nên cũ bẩn. Ðôi khi tôi bắt gặp ông ngồi dưới hành lang trong sân Vạn Hạnh, chỗ gần cổng. Ông nửa ngồi nửa nằm, tựa lưng vào cột. Dưới bóng cây phượng xanh mát, những lúc như vậy trông ông có vẻ tỉnh và buồn. Ông ngồi một mình, ánh mắt sau cặp kính cận dày nhìn xa xăm ra dòng xe cộ bên ngoài cổng trường.
Hình như Bùi Giáng không chỉ lang thang trong "lãnh địa" chợ Trương Minh Giảng và trường Vạn Hạnh. Một lần tôi thấy ông ở một chỗ khác, khá xa "nhà". Hôm đó trời mưa to, tôi đứng chơi trên lầu nhà một anh bạn ở đường Nguyễn Thiện Thuật, đối diện một cái chợ, không nhớ rõ là chợ Vườn Chuối hay chợ Nguyễn Thiện Thuật. Trước chợ có một đống rác cao nghệu, đen xì, bục ướt và rất hôi thối. Bùi Giáng đang đứng cãi nhau với một bà bán hàng ngay cạnh đống rác.
Chắc ông phá phách gì nên bị bà này mắng xối xả, còn ông thì chỉ la ó những câu vô nghĩa để đáp lại. Nhưng ông cũng hoa tay múa chân vẻ khá hung hăng. Cuối cùng người đàn bà xô mạnh Bùi Giáng. Ông ngã chỏng gọng vào đống rác đen, miệng la bai bải. Cặp kính cận dày và cái thân hình lèo khoèo trong tư thế nằm ngửa khiến ông trông giống một con bọ ngựa bị bẻ chân. Dưới trời mưa tầm tã, ông có vẻ không gượng dậy được vì đống rác quá nhão. Còn người đàn bà vẫn tiếp tục chửi bới.
Tôi cũng đã thấy Bùi Giáng trong một trường hợp khác, rất đáng nhớ. Một buổi sáng chỉ mới khoảng 6 giờ, sinh viên ký túc xá bỗng nghe tiếng la hét từ phía dãy phòng các sinh viên nữ. Thỉnh thoảng chúng tôi vẫn nghe những tiếng la như vậy khi có trộm lẻn vào bên khu nữ. Tôi vội chạy ra hành lang. Nhìn qua bên dãy nữ, thấy các mái tóc dài thò ra rồi thụt vào, hết người này đến kẻ khác. Tiếng la oai oái vẫn không ngớt, nhưng bây giờ xen lẫn tiếng cười khoái trá của các sinh viên nam. Nhìn xuống, tôi thấy giữa sân trường, Bùi Giáng đang trong tư thế trồng chuối, nhưng hoàn toàn... khỏa thân, quần áo cởi hết ra để bên cạnh. Mấy sinh viên bảo vệ từ ngoài cổng vội chạy đến, nhét quần áo vào tay ông lôi ra khỏi sân trường. Thật là một buổi "điểm tâm" đặc biệt cho cả ký túc xá.
Theo thầy Thích Nguyên Tạng (chùa Pháp Vân, Gia Định, Sài Gòn), Bùi Giáng tự ghi tiểu sử của mình cho thầy trong cuốn sổ tay vào buổi trưa ngày mùng 10/11/1993 như sau:
1926 - được bà mẹ đẻ ra đời
1928 - bị té bể trán, vết sẹo còn nguyên kỷ niệm, hai năm trời chết đi sống lại
1933 - bắt đầu đi học a, b, c... trường làng tại Thanh Châu với Thầy Cù Đình Qúy
1936 - học trường Bảo An với thầy Lê Trí Viễn
1939 - ra Huế học tư thục với những thầy Cao Xuân Huy, Trần Đình Đàn, Hoài Thanh Nguyễn đức Nguyên, Đào duy Anh, vân vân
1940 - về Quảng Nam chăn bò
1942 - trở ra Huế, vì nhớ nhung gái Huế
1949 - nhập ngũ, bộ đội công binh. Hai năm sau giải ngũ
1952 - vào Sài gòn, 1955 (57) khởi sự viết về Nguyễn Du và một vài nhận xét về Truyện Kiều và một vài nhận xét về Bà Huyện Thanh Quang, một vài nhận xét về Chinh Phụ Ngâm ...
1957 - TÂN VIỆT xuất bản: Giảng luận về Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Giảng luận về Chu Mạnh Trinh, Giảng luận về Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị.

1969 - Bắt đầu điên rực rỡ
1970:
1. Lang Thang Du hành Lục Tỉnh (Khách sạn Long xuyên Bà Chủ cho ở đầy đủ tiện nghi không lấy tiền)
2. Gái Châu Đốc Thương yêu và Gái Long Xuyên Yêu dấu
3. Gái Chợ Lớn Khiến bị bịnh lậu (bịnh hoa liễu)
1971 - 75 - 93:
Điên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang
Rong chơi như hài nhi (con nít)
Được gia đình ông Phó Chủ Tịch (482) Lê Quang Định, Hội Đồng Thành Phố đối xử thơ mộng thênh.
Kính dâng Kim Thúy, Kim Hồng, Kim Hoa, đôi lời rốt cuộc.....
Bình sinh mộng tưởng vấp phải niềm thương yêu của Kim Cương Nương Tử, Hà Thanh Cố Nương và Mẫu Thân Phùng Khánh (tức Trí Hải Ni Cô)
Do đâu mà ra được như thế ?
Đáp: Có lẽ đầu tiên kỳ tuyệt là do ân nghĩa bốn bề thiên hạ đi về tập họp tại Già Lam, Vạn Hạnh và Long Huê và Tịnh Xá Trung Tâm và Pháp Vân và xiết bao Chùa Chiền Miền Nam nước Việt, không biết nói sao cho hết.
Trong tiểu sử tự ghi, ông có nhắc đến một vài người cụ thể. Tuy nhiên, những người phụ nữ này được Bùi Giáng tôn vinh như là ‘mẫu thân sinh đẻ ra mình’, tuyệt không có chút gì là quan hệ nhục thể của tình yêu nam nữ, nhớ mong, hờn ghen, đau khổ, hẹn hò, mộng mơ như trong thơ tình của những nhà thơ khác.
Em vui - nước ngọt xuôi dòng
Em buồn - toàn diện đèo bòng buồn theo
Em vui - tinh thể bọt bèo
Em buồn - toàn diện thu vèo sang đông
Ngổn ngang gò đống chất chồng
Em về vĩnh viễn đêm mồng một giêng
Em đi thanh thản ngọc tuyền
Anh ngồi nốc rượu nốc phiền thiên thu
Kim Cương Nương Tử tuyệt trù
Thơ thần chất vấn dặm cù tình điên
(Kim Cương Nương Tử)
Ngày xưa, nghệ sĩ Kim Cương được giới hâm mộ gọi là ‘Kỳ nữ’ và Bùi Giáng cũng là một trong những người đã ‘mê Kim Cương như điếu đổ’. Nói về mối tình si của Bùi Giáng dành cho mình, Kim Cương đã thổ lộ:
Đúng hơn đó là mối tình thơ, như một thi sĩ cần một nàng thơ, mà nàng thơ thì bao giờ cũng nên là một hình ảnh không chạm tới được. Thi hứng được nuôi sống bằng tình yêu bị bỏ đói là vậy. Bùi Giáng là một thiên tài, nhưng ngô nghê say say tỉnh tỉnh. Nói là yêu thì bảo sao yêu được ông nhà thơ liêu xiêu, mình treo trái cây tòng teng. Hôm nào vui thì làm thơ tặng, tôi còn giữ cả chục bài, hôm thì ổng qua ổng... chọi đá. Thơ thì tôi cất giữ, người thơ tôi trân quý. Ngày ổng mất tôi chỉ biết cám ơn anh đã là một thi sĩ thiên tài, và đã cho tôi một mối tình đơn phương chung thủy suốt 40 chục năm trời.
Kỳ nữ Kim Cương và Bùi Giáng
Đối với Bùi Giáng, mối tình si của ông mang một sắc thái Tiên chứ không phải Tục:

Kính thưa công chúa Kim Cương,
Trẫm từ vô tận ven đường ngồi đây.
Tờ thư rất mực móng dày,
Làm sao định nghĩa đêm ngày yêu nhau?
(Kính thưa)
Kim Cương biết Bùi Giáng lúc khoảng 19 tuổi khi còn theo đoàn cải lương của bà Bảy Nam. Thật ra, ông chú ý đến KC trong một đám cưới của đôi bạn Hạnh - Thùy. Sau đám cưới, một hôm Thùy bảo KC: "Có một ông giáo sư Đại học Văn khoa, đi học ở Đức về, ái mộ chị lắm, muốn đến nhà thăm chị". KC trả lời: "Ừ, thì mời ổng tới".
Hóa ra là Bùi Giáng, lúc ấy đang dạy học, cũng áo quần tươm tất chứ chưa có "điên điên" như sau này. Bùi Giáng lui tới, mời KC lên xe đạp ông chở đi chơi, rồi lại cầu hôn... Bởi sau vài lần tiếp xúc, bà thấy ở ông toát lên cái gì đó "kỳ kỳ", bất bình thường, nên bà sợ.
Đeo đuổi mãi không được, Bùi Giáng thở dài nói: "Thôi, chắc cô không ưng tôi vì tôi lớn tuổi hơn cô (Bùi Giáng lớn hơn KC mười mấy tuổi), vậy cô hứa với tôi là sẽ ưng thằng cháu của tôi nhé. Nó trẻ, lại đẹp trai, học giỏi". Kim Cương ngần ngừ: "Thưa anh, chuyện tình cảm đâu có nói trước được. Tôi không dám hứa hẹn gì đâu, để chừng nào gặp nhau hẵng tính...". Ý bà muốn hoãn binh. Nhưng Bùi Giáng đã đùng đùng dắt cháu tới. Trời ơi, hóa ra đó là thằng nhỏ mới... 8 tuổi. KC hết hồn. Thôi rồi, ổng đúng là không bình thường!
Bùi Giáng cũng bày tỏ lòng thương kính ni sư Trí Hải (1938 - 2003), có tên đời là Tôn Nữ Phùng Khánh, nên thường gọi bà là ‘Mẫu thân Phùng Khánh’. Sau khi ông mất, Ni Sư Trí Hải có giảng cho Tăng Ni Phật tử về thâm nghĩa trong thơ ca của Bùi Giáng trong nhiều buổi giảng.
Con về giũ áo đười ươi
Nực cười Trí Hải ngậm ngùi mẫu thân
Đẻ con một trận vô ngần
Mẹ còn đẻ nữa một lần nữa thôi
Mẫu thân Phùng Khánh tuyệt vời
Chiều xuân thơ mộng dưới trời bước đi
(Thơ điên)
Có lần ông nói: “Phùng Khánh Mẫu Thân là mẹ Việt Nam, tôi là con dân Việt Nam. Vậy thì tất nhiên Phùng Khánh là mẹ của tôi vậy. Nếu tôi không nhận Phùng Khánh là mẹ, thì chẳng ra tôi là người Lào? Hoặc là người Cao Miên? Hoặc con dân Âu Mỹ ư? Huống nữa là: Phùng Khánh là bà mẹ loài người. Vậy Phùng Khánh là mẹ của tôi. Nếu tôi không phải là con của Phùng Khánh, thì chẳng ra tôi chẳng phải con người? Chẳng ra tôi là con vật?” (Đặng Tiến, Bùi Giáng Thi Sĩ Kỳ Dị).
Thương quý ni sư Trí Hải ông thương lây qua các ni cô khác, nhất là các ni cô ở chùa Dược Sư, nơi mà ông thường lui tới nghỉ chân, được ăn cơm, được lì xì tiền tiêu vặt. Cảm nghĩa, cảm tình ông đã coi chùa Dược Sư là thơ mộng nhất, các ni cô là người hiền thục nhất, đẹp nhất trong giới nữ lưu.
Đi tu thứ nhất ở chùa,
Thứ nhì ở tận cuối mùa lang thang
Dược Sư thơ mộng vô vàn,
Sầu lên vút tận mây ngàn tần thân
Hai chữ ‘tần thân’ nhiều người không hiểu. Tự điển Hán Việt giải thích: Tần là luôn luôn và Thân là rên rỉ. Đọc bốn câu thơ lục bát của ông, mới thấy được cái tài hoa, cái xuất khẩu thành thơ, cái uyên bác trong tứ thơ của ông. Có lẽ chỉ thi sĩ ‘Bùi Bàng Giúi’ mới có thể giảng giải hết thâm ý của chính mình.
Theo Võ Đắc Danh, hồ sơ lưu trữ tại nhà thương điên Biên Hoà ghi nhận Bùi Giáng nhập viện hai lần. Lần thứ nhất vào năm 1969, lần thứ hai vào năm 1977, thời gian này Nguyễn Ngu Í vẫn còn trong bệnh viện, hai người cùng ở khu 3. Bệnh án của Bùi Giáng có đoạn ghi:
“Bệnh tái phát từ tháng 4/1969, có hôm thức suốt đêm để viết, nói huyên thuyên, chơi chữ, có khi la thất thanh, ý tưởng tự cao tự đại. Hay phát biểu ý kiến về những vấn đề chính trị, văn hoá trọng đại, có ý nghĩ bị người ta phá hoại sự nghiệp văn chương. Tháng 3/1969 bị cháy nhà và cháy tất cả sách vở quý báu nên đương sự bị bệnh mỗi ngày một nặng hơn...”
Cung Tích Biền kể: “Khoảng đầu thập niên 70 người ta đưa ông vào nhà thương điên Biên Hòa chữa cái bệnh ‘đứng ngã ba nhìn ra ngã bảy’. Từ nhà thương điên trở ra, bữa gặp nhau thấy ông rất tỉnh. Bèn hỏi một câu thường tình: ‘Nhà thương Biên Hòa trị cái tẩu hỏa hay nhỉ!’. Ông trả lời tỉnh queo: “Chữa trị quái gì đâu. Chẳng là ở ngoài mình thấy mình điên số một, khi vô nhà thương điên mới hiểu ra mình là đồ bỏ, điên nhí, điên tiểu thủ công nghiệp; trong nhà thương điên nhiều cha điên thượng thừa, điên vĩ đại hơn mình nhiều. Do vậy mà mình tự động thôi điên”.
Uống và say nói lăng nhăng
Miệng mồm lí nhí thằn lằn đứt đuôi
Tâm can chân thể chôn vùi
Mặt trời không mọc với người lem nhem
Còn đâu nguyệt tỏ bên thềm
Ôi người uống rượu còn thêm điên rồ
(Người điên uống rượu)

Ông điên từ bữa hôm qua
Tới hôm nay nữa gọi là ba hôm
Thanh thiên về dự hội đàm
Thành thân thiên hạ muôn vàn mai sau
Ông điên từ một lần đầu
Tới lần đuôi đứt ruột rầu rĩ đau
Tuyệt mù biển cạn sông sâu
Bụi hồng tản mác trước sau bây giờ
(Ông Điên)
'Ông Điên' đã tự viết về mình như sau: “Nó điên? Vâng nhưng điên một cách vui vẻ. Bạ đâu gọi đó là mẫu thân bát ngát của con. Người ta bảo rằng nó không điên. Có kẻ bảo rằng nó giả vờ điên. Muốn biết nó điên hay không điên, hay giả vờ điên, thì trước hết phải đáp vào câu hỏi: Sao gọi là điên? Nhưng mà? Nhưng mà đó là một câu hỏi chưa hề có một lời giải đáp dưới gầm trời và suốt xưa nay vậy”.
Nỗi buồn nỗi khổ đời xưa
Nỗi sung sướng đến móc mưa bất ngờ
Đời xưa đất đá đều đờ đẫn điên
Đời này đất đá cằn khô
Điên duỗi dọc, điên ngửa nghiêng
Điên là hạnh phúc thần tiên ở đời
Điên rồi rốt cuộc hỡi ôi
Cũng đành chấm dứt lìa đời hết điên
(Dzách)
Tiên hay Điên? Phải chăng Điên là một cách hành Thiền của Bùi Giáng? Và Điên cũng là cách né tránh đối diện với thực tại, thực tại thời chiến tranh Việt Nam, trước và sau 1975? Ta không thấy Bùi Giáng bày tỏ bất cứ chính kiến nào về thực tại đó như thơ văn đương thời. Bài thơ Về Quảng Nam được viết bằng ngôn ngữ đời thường thể hiện rõ thái độ né tránh ấy:
Chiêm bao tôi thấy tôi về Quảng Nam
Rong chơi Đại Lộc, Điện Bàn
Duy Xuyên, Tiên Phước, Hoà Vang, Thăng Bình...
Tìm người bạn cũ không ra
Còn phong cảnh cũ khác xa những ngày...
Xóm làng đồng ruộng lạ thay
Chỉ còn dáng núi chạy dài xa xa
Giữ nguyên hình ảnh đậm đà
Còn trong kỷ niệm bao la tuổi nào...
Ngắm nhìn. Tim máu xôn xao
Tôi rời đất Quảng trở vào Miền nam
Tâm hồn bao xiết hoang mang
Bài thơ viết vội, dở dang lạ lùng
(1995)
Nguyễn Minh Vương viết về Bùi Giáng: “Vậy Bùi Giáng là ai? Và ai là Giàng Búi? Câu trả lời đã được các bậc nguyên lão, những người đã cùng lăn lộn với lão trong cõi trần ai khổ lụy này giải mã. Lý lẽ của các vị thật hợp tình hợp lý. Với ‘người thơ’, tác giả đã nói lên cái tính bình dân của Lão Bùi, với ‘Cuồng Bồ tát’, tác giả khác đã nói lên tầm mức cứu độ chúng sinh của Giàng Búi thị hiện trong hình tướng của người điên, với ‘thi sĩ kỳ dị’, tác giả cho thấy sức sáng tác kinh hồn bạt vía cũng như những chiêu thức (ngôn từ) mà ông dùng trong thơ thì xưa nay chưa có ai nghĩ bàn đến. Có thể nói, Lão Bùi đã được nói rất nhiều, viết cũng rất nhiều, bàn cũng chẳng thiếu, thậm chí nhà văn Phạm Thị Hoài còn đề xuất một giải thưởng văn học mang tên Bùi Giáng trên talawas.org để tôn vinh. Như thế, kẻ hậu sinh này [Nguyễn Minh Vương] muốn nói, muốn viết về ông, cũng chỉ là múa rìu qua mắt thợ, thấy người sang bắt quàng làm họ”.
Nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn nói: “Viết đôi lời hay nhiều lời về Bùi Giáng không bằng đọc Bùi Giáng. Đọc Bùi Giáng không bằng giao du với Bùi Giáng. Giao du với Bùi Giáng không bằng sống như Bùi Giáng. Mà sống như Bùi Giáng thì thật vui mà thật khó vậy!”.
Bùi Giáng là Tiên, là Bụt? Khi ai chửi ông cũng ừ mà ai khen ông cũng ứ ư, chẳng thèm phản ứng lại những trước những ngôn từ như hòn đá ném vào ông. Ông chỉ là ‘người bình thường’, bình thường đến nỗi ông không ý thức được sự bình thường đó và cũng không đòi hỏi phải thế này, phải thế kia mới bình thường. Ấy cũng chính là ý nghĩa của công án “Bình thường tâm thị đạo”. Ông là Tiên, là Bụt vì ông không thách thức, không ham muốn chinh phục cuộc đời, ông chỉ là trẻ con mơ mộng bay đến cung trăng, bay lên đỉnh Everest để đùa vui non nước trong ngần, phiêu bồng trăng mọc non ngàn lá sương.
Ông là ‘người cõi trên’ vì dám chửi cha bọn nho hương nguyện đầu xanh còn chưa ráo máu mà chuyên môn gùn ghè bám riết nhe răng hút máu xương tinh thể tài hoa thị hiện trong sát na thống ẩm cuồng ca và thậm chí, nếu cần thí mạng mình để đổi lại.
Máu xương tinh thể thiên tài,
Da xương làm chiếc quan tài chôn thây,
Lũ người trước tớ sau thầy,
Nhai văn nhá chữ miệng đầy máu xương
Nhưng ông cũng là quỷ khi ông chửi bới, rượt đuổi những đứa trẻ trêu chọc ông bằng những lời không ai hiểu được của kẻ điên. Ông là quỷ khi ông mơ mộng được làm tình với Nương Tử Kim Cương. Phan Nhiên Hạo viết trong bài đã dẫn:
“Ông dùng ngón trỏ và ngón giữa móc vào nhau tạo thành một dấu hiệu tục tĩu mà trẻ con hay làm. Tay kia cầm một quả chanh, không biết kiếm đâu ra. Ông cố nhét quả chanh vào giữa cái hình ô van tạo nên bởi hai ngón tay, miệng lẩm bẩm: “Ðây là con cặc nhét vô cái lồn Kim Cương. Con cặc to quá nhét vô không được (!)”.
Ông là ma trong dáng vẻ khùng điên si cuồng đến nỗi người ta hay lấy ông làm biểu tượng để hù dọa con nít. Con ma Giàng Búi lúi húi loanh quanh dạo khắp nẻo phố phường, sẵn sàng đốp chát đến cùng với con mẹ hàng hàng tôm hàng cá.
Lê Bích Sơn có cả một ký ức về Bùi Giáng qua bài viết “Bùi Giáng & Trò chơi bán dùi”:
Khác với những gì người ta nói về Bùi Giáng, cái tên Bùi Giáng đến với hắn [Lê Bích Sơn] bằng tất cả những cảm giác rùng rợn và lo sợ… mỗi khi phạm phải một sai lầm. Bùi Giáng trong hắn đích thực là “Ông Ba Bị”, nhân vật đen đủi, gớm ghiếc với chiếc bị lớn trong tay chuyên bắt con nít bỏ bao, trong những câu chuyện răn đe của người lớn…
Năm bảy, tám tuổi gì đó, lần đầu tiên hắn “diện kiến” Bùi Giáng trong một lần tan học. Bùi Giáng mặc áo quần rách tả tơi, gầy đen, tay cầm một cây gậy quấn vải có cột vài chai lọ trên đó, và dĩ nhiên không cầm chiếc bị nào để bắt cóc con nít… Ông Ba Bị Bùi Giáng hiền hơn những gì hắn nghe người ta kể!
…Sau đó, hắn tham gia cùng lũ trẻ trong vùng “chơi trò Bùi Giáng”. Trò chơi vừa thích thú, vừa lo âu sợ hãi lạ lùng. Bọn trẻ thi nhau tìm đến gần ông rồi bất chợt hô to: “Bùi Giáng…bán dùi, Bùi Giáng…bán dùi…” rồi xô nhau mà chạy… Không biết ông có đuổi theo phía sau hay không, nhưng “chơi trò Bùi Giáng” quả là một điều thích thú của lũ trẻ ngày đó.
Thời gian sau, bọn trẻ không còn thấy hình bóng Bùi Giáng nữa. Đoạn đường từ cầu Diêu Trì đến Ngã Ba Phú Tài vắng bóng ông. Người ta thay nhau truyền những “bản tin”, đại loại như: “Bùi Giáng do C.I.A cài lại, và đã được “bốc” đi Mỹ tháng trước…”, hoặc “Bùi Giáng đã được một nhóm người vượt biên “tóm cổ” lên một chiếc tàu ra đi từ cảng Quy Nhơn…để thông dịch”; ... Nói chung, Bùi Giáng đã rời khỏi Quy Nhơn để… đi Mỹ.




Monday, October 17, 2011

XA HÀ NỘI MÙA CHỚM THU


Lại xa Hà Nội mùa mới chớm Thu
Ngoái lại sau lưng sông Hồng vẫn đỏ
Cây bàng xanh vừa thay màu nhung nhớ
Trời chưa mưa sao ướt mắt ai rồi !

Không biết ngày nào trở lại Hà thành ơi!
Đường thiên lý tàu đi xuôi không ngược
Lúc tiễn đưa không rời nhau nửa bước
Chia tay rồi mờ sắc đỏ phù sa!

Mùa Thu chờ, mùa Thu không vội qua
Thu đứng lại treo cao từng khúc nhớ
Lòng người đi mang theo mùi hoa sữa
Lúc quay về chắc còn chút hương phai

Lại xa rồi phố cũ xám màu vôi
Trong đáy mắt lời thương chưa kịp nói
Cầu Long Biên dẫn tình xa vời vợi
Màu tang buồn pha bụi đỏ ven sông

Thu biệt ly dừng ở bến sông Hồng
Thu không chở người đi quay trở lại
Người đi xa còn vẳng nghe tiếng gọi
Mùa Thu ơi! Trả tình lại cho người.

TRẦN KIÊU BẠC
XA GẦN, GẦN XA


Rất xa mà ngỡ thật gần
Mới quen giây lát,mới thân thôi mà!
Tưởng gần mà lại hóa xa
Thời gian ngắn ngủi chẳng là gì đâu
Tiếc ngày xưa chẳng biết nhau
Giờ cau trái chín mơ trầu lá khô
Trao nhau trăm mối tơ vò
Tìm nhau trong cõi hư vô cuộc đời
Ước chi giữ được nụ cười
Siết bàn tay nhỏ, bên người tri âm
Chỉ thơ nói tiếng yêu thầm
Chắc gì tay lại được nằm trong tay?
Người còn đó ta còn đây
Hai vì sao lạc mong ngày gặp nhau
Trầu vàng vẫn bén hương cau
Dẫu còn xa vẫn tin nhau là gần.

TRẦN KIÊU BẠC

Sunday, October 16, 2011





Saturday, October 15, 2011



Thursday, October 13, 2011










XA QUÊ



Chỉ mới xa quê mấy dặm đường


Mà lòng nghe nặng nỗi quê hương


Quê người lãng đãng hoài cung nhớ


Đất cũ xôn xao mãi cõi buồn


Người ngóng người trông ôm luyến tiếc


Kẻ chờ kẻ đợi dệt sầu thương


Ly hương mới thấy tình lân lý


Sống mãi trong lòng kẻ viễn phương.



TRẦN KIÊU BẠC










XA RỒI TIẾNG CHIM TUỔI THƠ




Những ngày thơ đầy ắp những tiếng chim
Chim gọi sáng chào ban mai rộn rã
Trưa chim ru nắng hiền về yên ả
Chiều chim buồn tha thiết đợi hoàng hôn

Trong ngăn tuổi thơ còn chật tiếng hót quen
Trên cây mù u, chào mào ca trong vắt
Ngọn tre cao, điệu chim sáo càng cao vút
Cành ô môi thân thiện tiếng áo già

Trưa làng quê giọng tu hú vang xa
Trời tĩnh mịch cho buồn lời cu gáy
Chim chăn vịt gọi lúa về ngậm sữa
Chim sâu thì thầm bóng lá lêkima!

Tuổi thơ đầu trần, chân đất làng quê
Trưa trốn Mẹ , giắt lưng cây ná nhỏ
Rón rén khuất qua tàng cây vú sữa
Chờ chim vô tình giương ná bắn chim

Giờ xa rồi thời thơ ấu dịu êm
Những con chim xưa giờ không thấy nữa
Hoạ chăng bên hiên còn đàn chim sẻ
Tiếng chim quen từ đó cũng xa dần

Trong lồng son bên cửa sổ thị thành
Con chim quý hót ru như tiếng nhạc
Chim trong lồng, có phải đâu chim hót?
Tha thiết nhớ bầy chim da diết gọi nhau!

Trên lầu cao, tìm thấy tuổi thơ đâu?
Chỉ nghe chim lạc bầy kêu xao xác
Dù chim quý ru êm ngàn khúc hát
Biết đâu tìm tiếng hót những ngày xưa!

TRẦN KIÊU BẠC

Sunday, October 9, 2011















<><><><>XA XƯA MỘT THUỞ LÀM DÂU

(điệu Ca dao)
"Má ơi ! Đừng gả con xa
Chim kêu vượn hú biết nhà Má đâu? " (1)
Mai nầy xong lễ trầu cau
Con ôm khăn gói làm dâu nhà người
Con về bên đó xa xôi
Xa như con nước sông trôi dặm dài
Quê chồng muôn ngã ngược xuôi
Phận làm dâu biết buồn vui riêng mình
Trót làm ngọn sóng chênh vênh
Bão giông đâu biết bình yên đâu ngờ
Gom đầy một góc ngày thơ
Gởi cho Má cất trong giờ rước dâu
" Má ơi đừng đánh con đau
Để con bắt ốc hái rau Má nhờ " (2)
Câu ca dao những ngày xưa
Má đưa võng, buộc lời ru vào hồn
Quê xa nhớ Má lòng buồn
Lại thèm Má đánh trận đòn thật đau
Bây giờ cam phận con dâu
Lại đi bắt ốc hái rau cho người
Ghe đưa dâu trở lại rồi
Cúi đầu lạy Má con rời xa quê
Trăm năm chưa chắc con về
Nghe ca dao nhớ bờ đê sông nhà
Má ơi! Đừng gả con xa!...

( 1) ( 2) Ca dao VN .

TRẦN KIÊU BẠC

Tuesday, September 27, 2011

NHẶTHOA TRÊN NET


Guillaume Apollinaire là một thi sĩ, văn sĩ, kịch tác gia đại tài của nước Pháp. Ông sinh năm 1880 và mất năm 1918 vì một chứng bệnh cúm cấp tính. Tâm hồn ông rất nhạy cảm với ngoại cảnh và con người nên thơ ông dễ đi vào lòng người như hai nhà thơ đàn anh trường phái tương trưng (symbolist) của nền thơ văn Pháp là Verlaine và Rimbaud. Bài thơ “L’Adieu” dưới đây diễn tả một cuộc tình tan vỡ không biết vì sao. Dù chỉ có 5 câu nhưng là một bài thơ mùa Thu trữ tình lãng mạn nổi tiếng của ông. Hoa thạch thảo (bruyère-heather) là loài hoa dại mọc ven đường nhưng qua những vần thơ tuyệt tác của thi sĩ đã len lén đi vào vườn hoa thơ văn một cách êm ái nhẹ nhàng. Thạch thảo mang màu tím, màu của sự tan tác chia ly nên các thi văn nhạc sĩ thường mượn màu tím để diễn tả những cuộc tình không tới. Nhạc sĩ Hoàng Trọng đã viết bản nhạc “ Ngàn thu áo tím” thể điệu Valse lả lướt dặt dìu để nói lên tâm sự đau buồn của một cô gái mất người yêu:


Ngàn thu mưa rơi trên áo em màu tím


Ngàn thu đau thương vương áo em màu tím


Nhuộm tím những tháng ngày mất nhau


Nảy giờ hoa lá cánh hơi nhiều, bây giờ mời các bạn thưởng tức bài thơ tình bất hủ của Apollinaire:



"J'ai cueilli ce brin de bruyère
L'automne est morte souviens-t'en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps Brin de bruyère
Et souviens-toi que je t'attends "
(L'Adieu – Guillaume Apollinaire)


Anh ngắt đi một cành hoa thạch thảo


Em nhớ chăng mùa Thu đã chết rồi


Và chúng ta sẽ không còn gặp lại nhau nữa trên cõi đời nầy


Khi mùi hương thời gian hoa thạch thảo vẫn đọng lại đâu đây


Thì em ơi! Em có nhớ phương trời nầy anh vẫn mãi chờ đợi em


(Vĩnh biệt – Nguyên Trần thoát dịch)

Sunday, September 18, 2011






TẠ LỖI VỚI DÒNG SÔNG













Chân thành tạ lỗi dòng sông


Mười năm xa xứ mình không trở về


Đêm nghe sóng dội tình quê


Biết sông còn đợi người đi năm nào


Trở mình trong giấc chiêm bao


Thấy sông vẫn trẻ như vào hai mươi


Đâu đây còn vẳng tiếng cười


Trầm mình sóng đẩy loi ngoi giữa dòng


Trong con nước lớn nước ròng


Còn ai còn nắm tay không bên bờ


Bông lục bình tím ngẩn ngơ


Mười năm còn tím lòng chờ người xa?


Sông dài con nước trôi qua


Tình còn để lại quê nhà xa xưa


Thật tình một tiếng dạ thưa


Xin sông thứ lỗi người chưa quay về.



TRẦN KIÊU BẠC

NHẶT HOA TRÊN NET

Lương Châu từ (凉州词) là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt nổi tiếng của Vương Hàn (王翰) được sáng tác từ tên gọi của một điệu hát cổ của người Trung Hoa nói về chủ đề trận mạc, biên ải. Trong thơ cổ Trung Hoa, nhiều điệu hát dân gian như các từ, khúc Thượng chi hồi, Chiến thành nam, Tương tiến tửu, Hoàng tước hành, Lạc mai hoa... được rất nhiều nhà thơ ưa chuộng và thường dùng để đặt tên cho tác phẩm của mình, đặc biệt trong Đường thi.


Vương Chi Hoán, một tác giả thời Sơ Đường cũng có bài thơ Lương Châu từ (hay còn có tên Xuất tái-Lương Châu từ) nhưng không nổi tiếng bằng.Văn bản







葡萄美酒夜光杯,


欲飲琵琶馬上催.


醉臥沙場君莫笑,


古來征戰幾人回?



Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,


Dục ẩm tì bà mã thượng thôi.


Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu,


Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi?


Dịch ý:


Chiếc ly dạ quang tinh xảo được đổ đầy rượu nho ngon tuyệt


Vừa muốn say sưa một phen, thì đột nhiên tiếng đàn tì bà tưng bừng vang từ trên lưng ngựa xuống như thôi thúc tướng sĩ cùng can ly.


Dù có say nằm lăn trên sa trường, mong các vị đừng chê cười,


Trước giờ người đi chinh chiến mấy ai còn sống trở về



Dịch thơ:


“ Bồ đào rượu ngát chén lưu ly,


Toan nhắp tỳ bà đã dục đi.


Say khướt chiến trường anh chớ mĩa,


Xưa nay chinh chiến mấy ai về.”


Trần Nam Trân dịch


Thursday, September 8, 2011















<><><><>
MƯA DÀI ĐÊM PHÚ NHUẬN

Đêm qua mơ,
Thấy Phú Nhuận mưa hoài
Những cột điện đứng im nhìn em lau nước mắt
Trong khung cửa vàng có tim người thổn thức
Ngoài bức rèm xanh tay còn hứng giọt mưa tuôn
Đêm qua mơ,
Thấy hạt mưa hình vuông
Bay xeo xéo qua lòng con phố cũ
Hạt lại tròn như lòng em vẫn nhớ
Hạt vuông tròn, hạt nghiêng xéo lòng em!
Lại nằm mơ thấy những khúc mưa mềm
Đêm chưa qua, mưa còn qua lòng đất
Biết gởi ai lòng mình đang hiu hắt
Người bên đây, người cuối góc chân trời
Phố đêm nầy sao cứ mãi mưa rơi
Em cô phụ một đời mưa trong mắt
Dòng lệ đã khô, mưa làm thêm mắt ướt
Tưởng lệ mình, đâu biết lệ từ mưa!
Biết giờ nầy ai đang ở rất xa
Bên kia mùa Thu bên nầy giông bão
Ước chi ai về che chung manh áo
Thì kễ chi mưa lạnh ướt đêm dài
Đêm Phú Nhuận còn mơ,
Mưa vẫn mưa hoài
Em lang thang qua café Chợt Nhớ
Quán đóng cửa nhìn em con mắt lạ
Lại cô đơn nhìn Phú Nhuận cô đơn
Đường về khuya hạt nhớ cứ vuông tròn
Bay không ngớt qua lòng người cô phụ
Thôi để buồn em làm viên sỏi nhỏ
Đau dưới chân ai nhìn mưa cuộn quanh đời

Chừng nào hết mưa, đêm Phú Nhuận ơi!
TRẦN KIÊU BẠC

Tuesday, September 6, 2011

THƠ MẸ (GÓP NHẶT)










NGÃ TƯ NH M





Ch đèn xanh cui góc ngã tư
B
ng dưng nh M mình quá đi
M
hin ra bng bnh sương khói
M
t ngóng ch tng cánh chim xa

Ngã
tư quen mi ngày con qua
Không đ
ếm hết bao ln đèn đ
Đ
i đèn xanh lm khi con nh
Đ
ường gp ghnh M dt con đi

Ngã
ba ngã tư vùng quê
Đâu ai ch
đèn xanh vàng đ
Không có M
, con đành vp ngã
Trên n
o ngược xuôi gia cuc đi

Chi
u nay v không chút mưa rơi
Mà lnh lm lòng con nh M
Đèn xanh không lên không ng
i tr
S
ch hoài không thy M đâu!



TRẦN KIÊU BC
















NÚI KHÓC





Núi mồ côi đứng im lìm một chỗ



Tiễn Mẹ đi xa núi khóc một mình



Mẹ đi đâu trong cõi trời mây gió



Ngóng Mẹ về, không thấy, núi buồn tênh




Những cánh chim lạc bầy kêu xao xác



Có phải gào lên tiếng gọi Mẹ không



Con nai nhỏ xa đàn còn ngơ ngác



Mẹ đâu giờ giữa rừng lá mênh mông




Rừng cây ơi còn bạn bè đông đủ



Núi một thân sao lạnh quá đêm nầy



Không có Mẹ ai nhóm cho chút lửa



Chôn chân rồi núi chờ mãi Mẹ đây




Tưởng đá cứng không bao giờ đá khóc



Nghĩ núi cao không ướt mắt bao giờ



Nhưng Mẹ đi không bao giờ được gặp



Đá núi buồn nước mắt chảy thành mưa.




TRẦN KIÊU BẠC




GIỖ MÁ




Hôm Má một mình ra đồng vắng



Hồn con theo Má xuống mộ phần



Chị em khóc ngất trong tang trắng



Con tưởng mình ôm cổ áo quan




Xa lắm con về đâu còn kịp



Trăm điều đã trễ nói Má nghe



Má chỉ lặng im đôi mắt khép



Mặc tiếng ru xưa rụng sau hè




Sắc không đời chỉ còn không sắc



Má một tay buồn nắm tay không



Một tay cố níu đàn con nhỏ



Hai tay hai nắm cỏ phù vân





Tưởng như con khóc bên phần mộ



Quỳ nghe tiếng Má gọi con hoài



Đêm ở bên đây ngày bên đó



Làm sao đáp được tiếng Má ơi!




Hơn mười năm lẻ không về được



Mười năm con dựa vách mồ côi



Con không còn dáng con ngày trước



Thuở Má cầm tay dắt vào đời




Lâu quá, lâu rồi không gặp lại



Muôn đời con dõi mắt trông theo



Bước chân Má buồn qua luân ải



Chắc đã mỏi rồi khúc quạnh hiu




Hôm nay giỗ Má con buồn lắm



Một chút khói hương gởi quê nhà



Má đi trong cõi xa ngàn dặm



Xin về cho ấm đứa con xa




Khói trắng làn hương như tóc trắng



Nấm mồ chưa kịp phủ màu xanh



Con đốt hưong bay trong đêm vắng



Nửa gởi quê xa, nửa cho mình!




TRẦN KIÊU BẠC

CHÙM THƠ SINH NHẬT













































SINH NHẬT, Ý NGHĨ VỤN CÒN LẠI






Ngọn nến hôm nay biết giận hờn


Cháy như tranh vẽ nhạt màu sơn


Hai ngọn đứng nghiêm chào tuổi cũ


Một bầy nến mới đợi gọi tên



Đếm những hàng đèn im tiếng thở


Vẫy chào một tuổi vội đi qua


Buồn xâu từng chuỗi xâu từng chuỗi


Rót vào ly trống những xót xa



Có phải tháng năm là dao nhọn


Gọt giũa cho đời thấy biển dâu


Tiếc rẻ tuổi đời qua như bão


Nên hàng nến đỏ cháy thật lâu



Không phải hôm nay nến giận hờn


Mà chính lòng mình khoác khói sương


Đứng trên làn khói nhìn ngang dọc


Tưởng như dòng sáp chảy qua hồn



Nhìn qua trong suốt đáy ly không


Thấy tuổi thơ như khối vàng ròng


Nghe lại lời ru bên võng Mẹ


Ngửi mùi hương đậm thuở thanh xuân.




TRẦN KIÊU BẠC (8/8)







SINH NHẬT, NHÌN RA TỪ MỘT GÓC NHỎ






Từ trong góc nhỏ cuộc đời


Đã thêm một tuổi nữa rồi hôm nay


Cầm cây nến đỏ trên tay


Thấy còn hơi ấm những ngày còn thơ


Quay về đếm dấu chân xưa


Quanh đường xuôi ngược trầm tư một mình


Một năm âu yếm để dành


Một ngày Sinh Nhật, một thân mỏi rời


Ngổn ngang thương nhớ một trời


Ngàn lời chưa nói , một lời lặng im


Ngày buồn ngồi đứng không yên


Mai đưa qua hết một miền lãng quên


Từng dòng sáp khổ cháy lên


Đưa đời ta đến đầu ghềnh thác xa


Từ trong góc nhỏ nhìn ra


Dường như Sinh Nhật không là hôm nay!




TRẦN KIÊU BẠC (8/8)








SINH NHẬT, MƯA THÁNG TÁM




Em hồn nhiên thả chùm mưa qua bên nầy


Nói gởi mưa Sàigòn làm quà Sinh Nhật


Hạt mưa trong veo như mắt em chưa khóc


Chảy đầy ly cho Sinh Nhật nằm nghiêng



Anh cầm hạt mưa không nhớ tuổi tên


Mưa hẻm nhỏ chừng hơn mười năm trước


Mưa mấy tuổi làm sao anh nhớ được


Chỉ nhớ mưa lăn quăn trong hẻm nhỏ buồn



Gặp mưa Saìgòn anh lại nhớ thêm


Đêm tháng tám mưa chìm trong áo lụa


Có thi sĩ nào đã ngợi ca mưa tháng sáu


Anh tầm thường nên mưa tháng tám đẹp hơn



Bởi Sinh Nhật anh rơi vào tháng tám buồn


Giọt mưa Ngâu nát lòng Ngưu Lang Chức Nữ


Nhưng mưa đã cột hai mình từ hai nửa


Thành một mình nên tháng tám tình thân



Cảm ơn mưa âu yếm từ Sài gòn


Hứng từng giọt thấy đời vui một chút


Cảm ơn mưa kỷ niệm hẻm buồn hôm trước


Chảy qua bên nầy như mắt em trong veo.




TRẦN KIÊU BẠC (8/8)


















































SINH NHẬT NGÀY THỨ BẢY






Sinh nhật năm nay nhằm thứ bảy
Không nhớ tháng năm chỉ nhớ ngày
Ngày có con chim đang tập hót
Chim không hót được vỗ cánh bay

Từ đó chim không quay lại nữa
Đêm đêm chim hót tiếng lạc loài
Thấy hạt thóc nâu chim nhớ tổ
Thương ngày mưa gió tổ lung lay

Nhớ chị nhớ em trong cánh Mẹ
Trong rừng hoa bướm tuổi thơ ngây
Ngày biết Mẹ yêu không còn nữa
Chim khóc như mưa suốt đêm dài

Chim xa tổ cũ lòng thương lắm
Tổ đâu thấy nữa vẫn quanh đây
Trong đôi cánh mỏng, trong tim nhỏ
Chim còn nhớ tổ mãi thương bầy

Nghĩ đến ngày sinh đêm thứ bảy
Thấy lại chim xưa nhớ ngày nầy
Sinh nhật không trở về quê cũ
Anh có khác gì chim đã bay!


TRẦN KIÊU BẠC (8/8)











MƯA ĐỜI THÁNG TÁM




Bỗng dưng đời gởi một cơn mưa


Mây cũng nhanh chân đón gió mùa


Cát gọi nước lên dòng sông cũ


Bụi đường xóa sạch dấu chân xưa




Mắt chạm khẽ vào mây ngũ sắc


Nghe sóng buồn đẩy khúc ca dao


Tháng 8 mưa dồn tay lạnh ngắt


Cho ngày Sinh Nhật nến lao xao



Mưa chảy mấy hàng quanh ngọn nến


Lòng như ướt đẫm những lo âu


Chờ ai, không thấy ai cùng đến


Tim còn đập khẽ những buồn đau



Tạ ơn Mẹ đã cho con tiếng khóc


Thổi vào con hơi thở trầm luân


Tạ ơn những cơn đau xé ruột


Sinh con trong tháng 8 mưa dầm



Tạ ơn những hạt mưa đến trễ


Cho mình quen chịu những phong ba


Để biết nhân gian còn quạnh quẽ


Những trận roi đời mãi xót xa!



Trán còn lấm tấm hạt mưa rơi


Nhớ Mẹ đưa con gặp cuộc đời


Mẹ có đi xa xin trở lại


Tháng 8 đừng qua tháng 8 ơi!




TRẦN KIÊU BẠC


(8/8)