Ở một nơi xa nửa vòng trái đất. Mượn quê người làm một chút quê hương. Những hạt thơ rơi bên ngoài Tổ quốc. Vẫn nẩy mầm, vẫn nở đóa yêu thương.
THAY LỜI CHÀO MỪNG!
LỜI CHÀO MỪNG
CẢM ƠN QUÝ THÂN HỮU ĐÃ MỞ CỬA VÀO NGÔI NHÀ ĐƠN SƠ "QUA DẤU BỤI THỜI GIAN" CỦA TRẦN KIÊU BẠC.
Saturday, November 5, 2011
Còn mang trên vai nhan sắc dã quỳ
Dẫu đã xa ngàn phố cao nguyên cũ
Phố mãi lấm lem dốc cao bụi đỏ
Dã quỳ vẫn in lớp lớp hoa vàng
Ôm trong lòng nỗi nhớ nhiều ngăn
Rừng hoa dại nhốt trong ngăn lớn nhất
Chờ gió rơi vào rượu cần say khướt
Sắc vàng rung lên nỗi nhớ dã quỳ
Nắng lao xao, trời xanh thắt lòng ai
Tiếc một nỗi màu xanh không chạm đất
Để dã quỳ nằm sóng soài chờ nắng tắt
Một mình hoa vàng trong bụi đỏ không tan
Nhớ vẫn không cùng thương vẫn miên man
Gùi trên lưng, ngô đầy khố xanh khố đỏ
Sao không gùi theo sắc vàng hoa thương nhớ
Để thị thành vắng mãi sắc vàng tươi?
Dã quỳ cao nguyên chỉ gặp một lần thôi
Sắc vàng lạ kỳ theo người cùng năm tháng...
TRẦN KIÊU BẠC
Có lần đi dạo chơi quanh biển
Nghe cát gọi nhau dưới chân mình
Bọt nước lao xao như ẩn hiện
Sóng trắng chồm lên khúc biển xanh
Biển mãi xanh ôm lòng cát trắng
Cát in, biển xóa vết chân người
Hai cách để người tin chung thủy
Mất còn hạnh phúc vẫn chia đôi
Tháng năm làm biển dần thay đổi
Cát sẽ không còn tiếng gọi nhau
Chân giẫm đau, cát buồn không nói
Chỉ thấy ngàn xanh biển hóa dâu
Có bài hát nào ca ngợi cát
Biển tràn ngập cát chẳng thèm đau
Cát vẫn hồn nhiên cười bát ngát
Mặc cho sóng vỗ đến bạc đầu!
TRẦN KIÊU BẠC
Saturday, October 22, 2011
NHẶT HOA TRÊN NET
Bài Viết : NGUYÊN NGỌC
Trước khi Sài Gòn sụp đổ, tôi đã có một thời gian dài sống tại Lăng Cha Cả, gần nhà thờ Tân Sa Châu. Để đến được trung tâm Sài Gòn, từ khu này phải đi qua những con đường Trương Minh Ký – Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sĩ). Ở đoạn chân cầu Trương Minh Giảng có một cái chợ mang cùng tên và sau này, ở bên kia đường, Đại học Vạn Hạnh của Phật giáo được xây dựng. Có một thời, đây là nơi nhà thơ Bùi Giáng thường xuất hiện. Phan Nhiên Hạo trong bài viết Bùi Giáng Như Tôi Thấy có nhiều chi tiết khá lý thú:
Ông là một nhân vật khá nổi đình đám ở khu vực cầu Trương Minh Giảng. Có những buổi chiều đông đặc xe cộ, tôi ngồi uống cà phê bên đường nhìn ông đứng làm cảnh sát giao thông nơi đầu cầu Trương Minh Giảng. Ông đội một chiếc quần lót đỏ chói trên đầu, áo quần te tua, tay cầm chiếc roi tre dài, xoay ngang xoay dọc chỉ đường cho xe cộ. Người ta đi qua, cố gắng tránh xa ngọn roi tre dài, nhưng không ai chú ý đến ông. Ông loay hoay như vậy giữa dòng xe cộ hàng giờ liền, rồi chán, bỏ đi.
Có lần tôi thấy ông mặc một chiếc áo chim cò rộng thùng thình. Chiếc áo rất mới có vẻ hàng ngoại đắt tiền, chắc ai đó ở nước ngoài về tặng ông. Nhưng chỉ vài hôm đã thấy chiếc áo trở nên cũ bẩn. Ðôi khi tôi bắt gặp ông ngồi dưới hành lang trong sân Vạn Hạnh, chỗ gần cổng. Ông nửa ngồi nửa nằm, tựa lưng vào cột. Dưới bóng cây phượng xanh mát, những lúc như vậy trông ông có vẻ tỉnh và buồn. Ông ngồi một mình, ánh mắt sau cặp kính cận dày nhìn xa xăm ra dòng xe cộ bên ngoài cổng trường.
Hình như Bùi Giáng không chỉ lang thang trong "lãnh địa" chợ Trương Minh Giảng và trường Vạn Hạnh. Một lần tôi thấy ông ở một chỗ khác, khá xa "nhà". Hôm đó trời mưa to, tôi đứng chơi trên lầu nhà một anh bạn ở đường Nguyễn Thiện Thuật, đối diện một cái chợ, không nhớ rõ là chợ Vườn Chuối hay chợ Nguyễn Thiện Thuật. Trước chợ có một đống rác cao nghệu, đen xì, bục ướt và rất hôi thối. Bùi Giáng đang đứng cãi nhau với một bà bán hàng ngay cạnh đống rác.
Chắc ông phá phách gì nên bị bà này mắng xối xả, còn ông thì chỉ la ó những câu vô nghĩa để đáp lại. Nhưng ông cũng hoa tay múa chân vẻ khá hung hăng. Cuối cùng người đàn bà xô mạnh Bùi Giáng. Ông ngã chỏng gọng vào đống rác đen, miệng la bai bải. Cặp kính cận dày và cái thân hình lèo khoèo trong tư thế nằm ngửa khiến ông trông giống một con bọ ngựa bị bẻ chân. Dưới trời mưa tầm tã, ông có vẻ không gượng dậy được vì đống rác quá nhão. Còn người đàn bà vẫn tiếp tục chửi bới.
Tôi cũng đã thấy Bùi Giáng trong một trường hợp khác, rất đáng nhớ. Một buổi sáng chỉ mới khoảng 6 giờ, sinh viên ký túc xá bỗng nghe tiếng la hét từ phía dãy phòng các sinh viên nữ. Thỉnh thoảng chúng tôi vẫn nghe những tiếng la như vậy khi có trộm lẻn vào bên khu nữ. Tôi vội chạy ra hành lang. Nhìn qua bên dãy nữ, thấy các mái tóc dài thò ra rồi thụt vào, hết người này đến kẻ khác. Tiếng la oai oái vẫn không ngớt, nhưng bây giờ xen lẫn tiếng cười khoái trá của các sinh viên nam. Nhìn xuống, tôi thấy giữa sân trường, Bùi Giáng đang trong tư thế trồng chuối, nhưng hoàn toàn... khỏa thân, quần áo cởi hết ra để bên cạnh. Mấy sinh viên bảo vệ từ ngoài cổng vội chạy đến, nhét quần áo vào tay ông lôi ra khỏi sân trường. Thật là một buổi "điểm tâm" đặc biệt cho cả ký túc xá.
Theo thầy Thích Nguyên Tạng (chùa Pháp Vân, Gia Định, Sài Gòn), Bùi Giáng tự ghi tiểu sử của mình cho thầy trong cuốn sổ tay vào buổi trưa ngày mùng 10/11/1993 như sau:
1926 - được bà mẹ đẻ ra đời
1928 - bị té bể trán, vết sẹo còn nguyên kỷ niệm, hai năm trời chết đi sống lại
1933 - bắt đầu đi học a, b, c... trường làng tại Thanh Châu với Thầy Cù Đình Qúy
1936 - học trường Bảo An với thầy Lê Trí Viễn
1939 - ra Huế học tư thục với những thầy Cao Xuân Huy, Trần Đình Đàn, Hoài Thanh Nguyễn đức Nguyên, Đào duy Anh, vân vân
1940 - về Quảng Nam chăn bò
1942 - trở ra Huế, vì nhớ nhung gái Huế
1949 - nhập ngũ, bộ đội công binh. Hai năm sau giải ngũ
1952 - vào Sài gòn, 1955 (57) khởi sự viết về Nguyễn Du và một vài nhận xét về Truyện Kiều và một vài nhận xét về Bà Huyện Thanh Quang, một vài nhận xét về Chinh Phụ Ngâm ...
1957 - TÂN VIỆT xuất bản: Giảng luận về Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Giảng luận về Chu Mạnh Trinh, Giảng luận về Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị.
…
1969 - Bắt đầu điên rực rỡ
1970:
1. Lang Thang Du hành Lục Tỉnh (Khách sạn Long xuyên Bà Chủ cho ở đầy đủ tiện nghi không lấy tiền)
2. Gái Châu Đốc Thương yêu và Gái Long Xuyên Yêu dấu
3. Gái Chợ Lớn Khiến bị bịnh lậu (bịnh hoa liễu)
1971 - 75 - 93:
Điên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang
Rong chơi như hài nhi (con nít)
Được gia đình ông Phó Chủ Tịch (482) Lê Quang Định, Hội Đồng Thành Phố đối xử thơ mộng thênh.
Kính dâng Kim Thúy, Kim Hồng, Kim Hoa, đôi lời rốt cuộc.....
Bình sinh mộng tưởng vấp phải niềm thương yêu của Kim Cương Nương Tử, Hà Thanh Cố Nương và Mẫu Thân Phùng Khánh (tức Trí Hải Ni Cô)
Do đâu mà ra được như thế ?
Đáp: Có lẽ đầu tiên kỳ tuyệt là do ân nghĩa bốn bề thiên hạ đi về tập họp tại Già Lam, Vạn Hạnh và Long Huê và Tịnh Xá Trung Tâm và Pháp Vân và xiết bao Chùa Chiền Miền Nam nước Việt, không biết nói sao cho hết.
Trong tiểu sử tự ghi, ông có nhắc đến một vài người cụ thể. Tuy nhiên, những người phụ nữ này được Bùi Giáng tôn vinh như là ‘mẫu thân sinh đẻ ra mình’, tuyệt không có chút gì là quan hệ nhục thể của tình yêu nam nữ, nhớ mong, hờn ghen, đau khổ, hẹn hò, mộng mơ như trong thơ tình của những nhà thơ khác.
Em vui - nước ngọt xuôi dòng
Em buồn - toàn diện đèo bòng buồn theo
Em vui - tinh thể bọt bèo
Em buồn - toàn diện thu vèo sang đông
Ngổn ngang gò đống chất chồng
Em về vĩnh viễn đêm mồng một giêng
Em đi thanh thản ngọc tuyền
Anh ngồi nốc rượu nốc phiền thiên thu
Kim Cương Nương Tử tuyệt trù
Thơ thần chất vấn dặm cù tình điên
(Kim Cương Nương Tử)
Ngày xưa, nghệ sĩ Kim Cương được giới hâm mộ gọi là ‘Kỳ nữ’ và Bùi Giáng cũng là một trong những người đã ‘mê Kim Cương như điếu đổ’. Nói về mối tình si của Bùi Giáng dành cho mình, Kim Cương đã thổ lộ:
Đúng hơn đó là mối tình thơ, như một thi sĩ cần một nàng thơ, mà nàng thơ thì bao giờ cũng nên là một hình ảnh không chạm tới được. Thi hứng được nuôi sống bằng tình yêu bị bỏ đói là vậy. Bùi Giáng là một thiên tài, nhưng ngô nghê say say tỉnh tỉnh. Nói là yêu thì bảo sao yêu được ông nhà thơ liêu xiêu, mình treo trái cây tòng teng. Hôm nào vui thì làm thơ tặng, tôi còn giữ cả chục bài, hôm thì ổng qua ổng... chọi đá. Thơ thì tôi cất giữ, người thơ tôi trân quý. Ngày ổng mất tôi chỉ biết cám ơn anh đã là một thi sĩ thiên tài, và đã cho tôi một mối tình đơn phương chung thủy suốt 40 chục năm trời.
Kỳ nữ Kim Cương và Bùi Giáng
Đối với Bùi Giáng, mối tình si của ông mang một sắc thái Tiên chứ không phải Tục:
Kính thưa công chúa Kim Cương,
Trẫm từ vô tận ven đường ngồi đây.
Tờ thư rất mực móng dày,
Làm sao định nghĩa đêm ngày yêu nhau?
(Kính thưa)
Kim Cương biết Bùi Giáng lúc khoảng 19 tuổi khi còn theo đoàn cải lương của bà Bảy Nam. Thật ra, ông chú ý đến KC trong một đám cưới của đôi bạn Hạnh - Thùy. Sau đám cưới, một hôm Thùy bảo KC: "Có một ông giáo sư Đại học Văn khoa, đi học ở Đức về, ái mộ chị lắm, muốn đến nhà thăm chị". KC trả lời: "Ừ, thì mời ổng tới".
Hóa ra là Bùi Giáng, lúc ấy đang dạy học, cũng áo quần tươm tất chứ chưa có "điên điên" như sau này. Bùi Giáng lui tới, mời KC lên xe đạp ông chở đi chơi, rồi lại cầu hôn... Bởi sau vài lần tiếp xúc, bà thấy ở ông toát lên cái gì đó "kỳ kỳ", bất bình thường, nên bà sợ.
Đeo đuổi mãi không được, Bùi Giáng thở dài nói: "Thôi, chắc cô không ưng tôi vì tôi lớn tuổi hơn cô (Bùi Giáng lớn hơn KC mười mấy tuổi), vậy cô hứa với tôi là sẽ ưng thằng cháu của tôi nhé. Nó trẻ, lại đẹp trai, học giỏi". Kim Cương ngần ngừ: "Thưa anh, chuyện tình cảm đâu có nói trước được. Tôi không dám hứa hẹn gì đâu, để chừng nào gặp nhau hẵng tính...". Ý bà muốn hoãn binh. Nhưng Bùi Giáng đã đùng đùng dắt cháu tới. Trời ơi, hóa ra đó là thằng nhỏ mới... 8 tuổi. KC hết hồn. Thôi rồi, ổng đúng là không bình thường!
Bùi Giáng cũng bày tỏ lòng thương kính ni sư Trí Hải (1938 - 2003), có tên đời là Tôn Nữ Phùng Khánh, nên thường gọi bà là ‘Mẫu thân Phùng Khánh’. Sau khi ông mất, Ni Sư Trí Hải có giảng cho Tăng Ni Phật tử về thâm nghĩa trong thơ ca của Bùi Giáng trong nhiều buổi giảng.
Con về giũ áo đười ươi
Nực cười Trí Hải ngậm ngùi mẫu thân
Đẻ con một trận vô ngần
Mẹ còn đẻ nữa một lần nữa thôi
Mẫu thân Phùng Khánh tuyệt vời
Chiều xuân thơ mộng dưới trời bước đi
(Thơ điên)
Có lần ông nói: “Phùng Khánh Mẫu Thân là mẹ Việt Nam, tôi là con dân Việt Nam. Vậy thì tất nhiên Phùng Khánh là mẹ của tôi vậy. Nếu tôi không nhận Phùng Khánh là mẹ, thì chẳng ra tôi là người Lào? Hoặc là người Cao Miên? Hoặc con dân Âu Mỹ ư? Huống nữa là: Phùng Khánh là bà mẹ loài người. Vậy Phùng Khánh là mẹ của tôi. Nếu tôi không phải là con của Phùng Khánh, thì chẳng ra tôi chẳng phải con người? Chẳng ra tôi là con vật?” (Đặng Tiến, Bùi Giáng Thi Sĩ Kỳ Dị).
Thương quý ni sư Trí Hải ông thương lây qua các ni cô khác, nhất là các ni cô ở chùa Dược Sư, nơi mà ông thường lui tới nghỉ chân, được ăn cơm, được lì xì tiền tiêu vặt. Cảm nghĩa, cảm tình ông đã coi chùa Dược Sư là thơ mộng nhất, các ni cô là người hiền thục nhất, đẹp nhất trong giới nữ lưu.
Đi tu thứ nhất ở chùa,
Thứ nhì ở tận cuối mùa lang thang
Dược Sư thơ mộng vô vàn,
Sầu lên vút tận mây ngàn tần thân
Hai chữ ‘tần thân’ nhiều người không hiểu. Tự điển Hán Việt giải thích: Tần là luôn luôn và Thân là rên rỉ. Đọc bốn câu thơ lục bát của ông, mới thấy được cái tài hoa, cái xuất khẩu thành thơ, cái uyên bác trong tứ thơ của ông. Có lẽ chỉ thi sĩ ‘Bùi Bàng Giúi’ mới có thể giảng giải hết thâm ý của chính mình.
Theo Võ Đắc Danh, hồ sơ lưu trữ tại nhà thương điên Biên Hoà ghi nhận Bùi Giáng nhập viện hai lần. Lần thứ nhất vào năm 1969, lần thứ hai vào năm 1977, thời gian này Nguyễn Ngu Í vẫn còn trong bệnh viện, hai người cùng ở khu 3. Bệnh án của Bùi Giáng có đoạn ghi:
“Bệnh tái phát từ tháng 4/1969, có hôm thức suốt đêm để viết, nói huyên thuyên, chơi chữ, có khi la thất thanh, ý tưởng tự cao tự đại. Hay phát biểu ý kiến về những vấn đề chính trị, văn hoá trọng đại, có ý nghĩ bị người ta phá hoại sự nghiệp văn chương. Tháng 3/1969 bị cháy nhà và cháy tất cả sách vở quý báu nên đương sự bị bệnh mỗi ngày một nặng hơn...”
Cung Tích Biền kể: “Khoảng đầu thập niên 70 người ta đưa ông vào nhà thương điên Biên Hòa chữa cái bệnh ‘đứng ngã ba nhìn ra ngã bảy’. Từ nhà thương điên trở ra, bữa gặp nhau thấy ông rất tỉnh. Bèn hỏi một câu thường tình: ‘Nhà thương Biên Hòa trị cái tẩu hỏa hay nhỉ!’. Ông trả lời tỉnh queo: “Chữa trị quái gì đâu. Chẳng là ở ngoài mình thấy mình điên số một, khi vô nhà thương điên mới hiểu ra mình là đồ bỏ, điên nhí, điên tiểu thủ công nghiệp; trong nhà thương điên nhiều cha điên thượng thừa, điên vĩ đại hơn mình nhiều. Do vậy mà mình tự động thôi điên”.
Uống và say nói lăng nhăng
Miệng mồm lí nhí thằn lằn đứt đuôi
Tâm can chân thể chôn vùi
Mặt trời không mọc với người lem nhem
Còn đâu nguyệt tỏ bên thềm
Ôi người uống rượu còn thêm điên rồ
(Người điên uống rượu)
Ông điên từ bữa hôm qua
Tới hôm nay nữa gọi là ba hôm
Thanh thiên về dự hội đàm
Thành thân thiên hạ muôn vàn mai sau
Ông điên từ một lần đầu
Tới lần đuôi đứt ruột rầu rĩ đau
Tuyệt mù biển cạn sông sâu
Bụi hồng tản mác trước sau bây giờ
(Ông Điên)
'Ông Điên' đã tự viết về mình như sau: “Nó điên? Vâng nhưng điên một cách vui vẻ. Bạ đâu gọi đó là mẫu thân bát ngát của con. Người ta bảo rằng nó không điên. Có kẻ bảo rằng nó giả vờ điên. Muốn biết nó điên hay không điên, hay giả vờ điên, thì trước hết phải đáp vào câu hỏi: Sao gọi là điên? Nhưng mà? Nhưng mà đó là một câu hỏi chưa hề có một lời giải đáp dưới gầm trời và suốt xưa nay vậy”.
Nỗi buồn nỗi khổ đời xưa
Nỗi sung sướng đến móc mưa bất ngờ
Đời xưa đất đá đều đờ đẫn điên
Đời này đất đá cằn khô
Điên duỗi dọc, điên ngửa nghiêng
Điên là hạnh phúc thần tiên ở đời
Điên rồi rốt cuộc hỡi ôi
Cũng đành chấm dứt lìa đời hết điên
(Dzách)
Tiên hay Điên? Phải chăng Điên là một cách hành Thiền của Bùi Giáng? Và Điên cũng là cách né tránh đối diện với thực tại, thực tại thời chiến tranh Việt Nam, trước và sau 1975? Ta không thấy Bùi Giáng bày tỏ bất cứ chính kiến nào về thực tại đó như thơ văn đương thời. Bài thơ Về Quảng Nam được viết bằng ngôn ngữ đời thường thể hiện rõ thái độ né tránh ấy:
Chiêm bao tôi thấy tôi về Quảng Nam
Rong chơi Đại Lộc, Điện Bàn
Duy Xuyên, Tiên Phước, Hoà Vang, Thăng Bình...
Tìm người bạn cũ không ra
Còn phong cảnh cũ khác xa những ngày...
Xóm làng đồng ruộng lạ thay
Chỉ còn dáng núi chạy dài xa xa
Giữ nguyên hình ảnh đậm đà
Còn trong kỷ niệm bao la tuổi nào...
Ngắm nhìn. Tim máu xôn xao
Tôi rời đất Quảng trở vào Miền nam
Tâm hồn bao xiết hoang mang
Bài thơ viết vội, dở dang lạ lùng
(1995)
Nguyễn Minh Vương viết về Bùi Giáng: “Vậy Bùi Giáng là ai? Và ai là Giàng Búi? Câu trả lời đã được các bậc nguyên lão, những người đã cùng lăn lộn với lão trong cõi trần ai khổ lụy này giải mã. Lý lẽ của các vị thật hợp tình hợp lý. Với ‘người thơ’, tác giả đã nói lên cái tính bình dân của Lão Bùi, với ‘Cuồng Bồ tát’, tác giả khác đã nói lên tầm mức cứu độ chúng sinh của Giàng Búi thị hiện trong hình tướng của người điên, với ‘thi sĩ kỳ dị’, tác giả cho thấy sức sáng tác kinh hồn bạt vía cũng như những chiêu thức (ngôn từ) mà ông dùng trong thơ thì xưa nay chưa có ai nghĩ bàn đến. Có thể nói, Lão Bùi đã được nói rất nhiều, viết cũng rất nhiều, bàn cũng chẳng thiếu, thậm chí nhà văn Phạm Thị Hoài còn đề xuất một giải thưởng văn học mang tên Bùi Giáng trên talawas.org để tôn vinh. Như thế, kẻ hậu sinh này [Nguyễn Minh Vương] muốn nói, muốn viết về ông, cũng chỉ là múa rìu qua mắt thợ, thấy người sang bắt quàng làm họ”.
Nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn nói: “Viết đôi lời hay nhiều lời về Bùi Giáng không bằng đọc Bùi Giáng. Đọc Bùi Giáng không bằng giao du với Bùi Giáng. Giao du với Bùi Giáng không bằng sống như Bùi Giáng. Mà sống như Bùi Giáng thì thật vui mà thật khó vậy!”.
Bùi Giáng là Tiên, là Bụt? Khi ai chửi ông cũng ừ mà ai khen ông cũng ứ ư, chẳng thèm phản ứng lại những trước những ngôn từ như hòn đá ném vào ông. Ông chỉ là ‘người bình thường’, bình thường đến nỗi ông không ý thức được sự bình thường đó và cũng không đòi hỏi phải thế này, phải thế kia mới bình thường. Ấy cũng chính là ý nghĩa của công án “Bình thường tâm thị đạo”. Ông là Tiên, là Bụt vì ông không thách thức, không ham muốn chinh phục cuộc đời, ông chỉ là trẻ con mơ mộng bay đến cung trăng, bay lên đỉnh Everest để đùa vui non nước trong ngần, phiêu bồng trăng mọc non ngàn lá sương.
Ông là ‘người cõi trên’ vì dám chửi cha bọn nho hương nguyện đầu xanh còn chưa ráo máu mà chuyên môn gùn ghè bám riết nhe răng hút máu xương tinh thể tài hoa thị hiện trong sát na thống ẩm cuồng ca và thậm chí, nếu cần thí mạng mình để đổi lại.
Máu xương tinh thể thiên tài,
Da xương làm chiếc quan tài chôn thây,
Lũ người trước tớ sau thầy,
Nhai văn nhá chữ miệng đầy máu xương
Nhưng ông cũng là quỷ khi ông chửi bới, rượt đuổi những đứa trẻ trêu chọc ông bằng những lời không ai hiểu được của kẻ điên. Ông là quỷ khi ông mơ mộng được làm tình với Nương Tử Kim Cương. Phan Nhiên Hạo viết trong bài đã dẫn:
“Ông dùng ngón trỏ và ngón giữa móc vào nhau tạo thành một dấu hiệu tục tĩu mà trẻ con hay làm. Tay kia cầm một quả chanh, không biết kiếm đâu ra. Ông cố nhét quả chanh vào giữa cái hình ô van tạo nên bởi hai ngón tay, miệng lẩm bẩm: “Ðây là con cặc nhét vô cái lồn Kim Cương. Con cặc to quá nhét vô không được (!)”.
Ông là ma trong dáng vẻ khùng điên si cuồng đến nỗi người ta hay lấy ông làm biểu tượng để hù dọa con nít. Con ma Giàng Búi lúi húi loanh quanh dạo khắp nẻo phố phường, sẵn sàng đốp chát đến cùng với con mẹ hàng hàng tôm hàng cá.
Lê Bích Sơn có cả một ký ức về Bùi Giáng qua bài viết “Bùi Giáng & Trò chơi bán dùi”:
Khác với những gì người ta nói về Bùi Giáng, cái tên Bùi Giáng đến với hắn [Lê Bích Sơn] bằng tất cả những cảm giác rùng rợn và lo sợ… mỗi khi phạm phải một sai lầm. Bùi Giáng trong hắn đích thực là “Ông Ba Bị”, nhân vật đen đủi, gớm ghiếc với chiếc bị lớn trong tay chuyên bắt con nít bỏ bao, trong những câu chuyện răn đe của người lớn…
Năm bảy, tám tuổi gì đó, lần đầu tiên hắn “diện kiến” Bùi Giáng trong một lần tan học. Bùi Giáng mặc áo quần rách tả tơi, gầy đen, tay cầm một cây gậy quấn vải có cột vài chai lọ trên đó, và dĩ nhiên không cầm chiếc bị nào để bắt cóc con nít… Ông Ba Bị Bùi Giáng hiền hơn những gì hắn nghe người ta kể!
…Sau đó, hắn tham gia cùng lũ trẻ trong vùng “chơi trò Bùi Giáng”. Trò chơi vừa thích thú, vừa lo âu sợ hãi lạ lùng. Bọn trẻ thi nhau tìm đến gần ông rồi bất chợt hô to: “Bùi Giáng…bán dùi, Bùi Giáng…bán dùi…” rồi xô nhau mà chạy… Không biết ông có đuổi theo phía sau hay không, nhưng “chơi trò Bùi Giáng” quả là một điều thích thú của lũ trẻ ngày đó.
Thời gian sau, bọn trẻ không còn thấy hình bóng Bùi Giáng nữa. Đoạn đường từ cầu Diêu Trì đến Ngã Ba Phú Tài vắng bóng ông. Người ta thay nhau truyền những “bản tin”, đại loại như: “Bùi Giáng do C.I.A cài lại, và đã được “bốc” đi Mỹ tháng trước…”, hoặc “Bùi Giáng đã được một nhóm người vượt biên “tóm cổ” lên một chiếc tàu ra đi từ cảng Quy Nhơn…để thông dịch”; ... Nói chung, Bùi Giáng đã rời khỏi Quy Nhơn để… đi Mỹ.
Monday, October 17, 2011
Lại xa Hà Nội mùa mới chớm Thu
Ngoái lại sau lưng sông Hồng vẫn đỏ
Cây bàng xanh vừa thay màu nhung nhớ
Trời chưa mưa sao ướt mắt ai rồi !
Không biết ngày nào trở lại Hà thành ơi!
Đường thiên lý tàu đi xuôi không ngược
Lúc tiễn đưa không rời nhau nửa bước
Chia tay rồi mờ sắc đỏ phù sa!
Mùa Thu chờ, mùa Thu không vội qua
Thu đứng lại treo cao từng khúc nhớ
Lòng người đi mang theo mùi hoa sữa
Lúc quay về chắc còn chút hương phai
Lại xa rồi phố cũ xám màu vôi
Trong đáy mắt lời thương chưa kịp nói
Cầu Long Biên dẫn tình xa vời vợi
Màu tang buồn pha bụi đỏ ven sông
Thu biệt ly dừng ở bến sông Hồng
Thu không chở người đi quay trở lại
Người đi xa còn vẳng nghe tiếng gọi
Mùa Thu ơi! Trả tình lại cho người.
TRẦN KIÊU BẠC
Rất xa mà ngỡ thật gần
Mới quen giây lát,mới thân thôi mà!
Tưởng gần mà lại hóa xa
Thời gian ngắn ngủi chẳng là gì đâu
Tiếc ngày xưa chẳng biết nhau
Giờ cau trái chín mơ trầu lá khô
Trao nhau trăm mối tơ vò
Tìm nhau trong cõi hư vô cuộc đời
Ước chi giữ được nụ cười
Siết bàn tay nhỏ, bên người tri âm
Chỉ thơ nói tiếng yêu thầm
Chắc gì tay lại được nằm trong tay?
Người còn đó ta còn đây
Hai vì sao lạc mong ngày gặp nhau
Trầu vàng vẫn bén hương cau
Dẫu còn xa vẫn tin nhau là gần.
TRẦN KIÊU BẠC
Sunday, October 16, 2011
Saturday, October 15, 2011
Thursday, October 13, 2011
XA RỒI TIẾNG CHIM TUỔI THƠ |
Những ngày thơ đầy ắp những tiếng chim |
Sunday, October 9, 2011

(điệu Ca dao) |
| "Má ơi ! Đừng gả con xa Chim kêu vượn hú biết nhà Má đâu? " (1) Mai nầy xong lễ trầu cau Con ôm khăn gói làm dâu nhà người Con về bên đó xa xôi Xa như con nước sông trôi dặm dài Quê chồng muôn ngã ngược xuôi Phận làm dâu biết buồn vui riêng mình Trót làm ngọn sóng chênh vênh Bão giông đâu biết bình yên đâu ngờ Gom đầy một góc ngày thơ Gởi cho Má cất trong giờ rước dâu " Má ơi đừng đánh con đau Để con bắt ốc hái rau Má nhờ " (2) Câu ca dao những ngày xưa Má đưa võng, buộc lời ru vào hồn Quê xa nhớ Má lòng buồn Lại thèm Má đánh trận đòn thật đau Bây giờ cam phận con dâu Lại đi bắt ốc hái rau cho người Ghe đưa dâu trở lại rồi Cúi đầu lạy Má con rời xa quê Trăm năm chưa chắc con về Nghe ca dao nhớ bờ đê sông nhà Má ơi! Đừng gả con xa!... ( 1) ( 2) Ca dao VN . TRẦN KIÊU BẠC |
Tuesday, September 27, 2011
NHẶTHOA TRÊN NET
Guillaume Apollinaire là một thi sĩ, văn sĩ, kịch tác gia đại tài của nước Pháp. Ông sinh năm 1880 và mất năm 1918 vì một chứng bệnh cúm cấp tính. Tâm hồn ông rất nhạy cảm với ngoại cảnh và con người nên thơ ông dễ đi vào lòng người như hai nhà thơ đàn anh trường phái tương trưng (symbolist) của nền thơ văn Pháp là Verlaine và Rimbaud. Bài thơ “L’Adieu” dưới đây diễn tả một cuộc tình tan vỡ không biết vì sao. Dù chỉ có 5 câu nhưng là một bài thơ mùa Thu trữ tình lãng mạn nổi tiếng của ông. Hoa thạch thảo (bruyère-heather) là loài hoa dại mọc ven đường nhưng qua những vần thơ tuyệt tác của thi sĩ đã len lén đi vào vườn hoa thơ văn một cách êm ái nhẹ nhàng. Thạch thảo mang màu tím, màu của sự tan tác chia ly nên các thi văn nhạc sĩ thường mượn màu tím để diễn tả những cuộc tình không tới. Nhạc sĩ Hoàng Trọng đã viết bản nhạc “ Ngàn thu áo tím” thể điệu Valse lả lướt dặt dìu để nói lên tâm sự đau buồn của một cô gái mất người yêu:
Ngàn thu mưa rơi trên áo em màu tím
Ngàn thu đau thương vương áo em màu tím
Nhuộm tím những tháng ngày mất nhau
Nảy giờ hoa lá cánh hơi nhiều, bây giờ mời các bạn thưởng tức bài thơ tình bất hủ của Apollinaire:
"J'ai cueilli ce brin de bruyère
L'automne est morte souviens-t'en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps Brin de bruyère
Et souviens-toi que je t'attends "
(L'Adieu – Guillaume Apollinaire)
Anh ngắt đi một cành hoa thạch thảo
Em nhớ chăng mùa Thu đã chết rồi
Và chúng ta sẽ không còn gặp lại nhau nữa trên cõi đời nầy
Khi mùi hương thời gian hoa thạch thảo vẫn đọng lại đâu đây
Thì em ơi! Em có nhớ phương trời nầy anh vẫn mãi chờ đợi em
(Vĩnh biệt – Nguyên Trần thoát dịch)
Sunday, September 18, 2011

TẠ LỖI VỚI DÒNG SÔNG
Chân thành tạ lỗi dòng sông
Mười năm xa xứ mình không trở về
Đêm nghe sóng dội tình quê
Biết sông còn đợi người đi năm nào
Trở mình trong giấc chiêm bao
Thấy sông vẫn trẻ như vào hai mươi
Đâu đây còn vẳng tiếng cười
Trầm mình sóng đẩy loi ngoi giữa dòng
Trong con nước lớn nước ròng
Còn ai còn nắm tay không bên bờ
Bông lục bình tím ngẩn ngơ
Mười năm còn tím lòng chờ người xa?
Sông dài con nước trôi qua
Tình còn để lại quê nhà xa xưa
Thật tình một tiếng dạ thưa
Xin sông thứ lỗi người chưa quay về.
TRẦN KIÊU BẠC
NHẶT HOA TRÊN NET
Lương Châu từ (凉州词) là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt nổi tiếng của Vương Hàn (王翰) được sáng tác từ tên gọi của một điệu hát cổ của người Trung Hoa nói về chủ đề trận mạc, biên ải. Trong thơ cổ Trung Hoa, nhiều điệu hát dân gian như các từ, khúc Thượng chi hồi, Chiến thành nam, Tương tiến tửu, Hoàng tước hành, Lạc mai hoa... được rất nhiều nhà thơ ưa chuộng và thường dùng để đặt tên cho tác phẩm của mình, đặc biệt trong Đường thi.
Vương Chi Hoán, một tác giả thời Sơ Đường cũng có bài thơ Lương Châu từ (hay còn có tên Xuất tái-Lương Châu từ) nhưng không nổi tiếng bằng.Văn bản
葡萄美酒夜光杯, 欲飲琵琶馬上催. 醉臥沙場君莫笑, 古來征戰幾人回? |
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,
Dục ẩm tì bà mã thượng thôi.
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu,
Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi?
Dịch ý:
Chiếc ly dạ quang tinh xảo được đổ đầy rượu nho ngon tuyệt
Vừa muốn say sưa một phen, thì đột nhiên tiếng đàn tì bà tưng bừng vang từ trên lưng ngựa xuống như thôi thúc tướng sĩ cùng can ly.
Dù có say nằm lăn trên sa trường, mong các vị đừng chê cười,
Trước giờ người đi chinh chiến mấy ai còn sống trở về
Dịch thơ:
“ Bồ đào rượu ngát chén lưu ly,
Toan nhắp tỳ bà đã dục đi.
Say khướt chiến trường anh chớ mĩa,
Xưa nay chinh chiến mấy ai về.”
Trần Nam Trân dịch
Thursday, September 8, 2011

| MƯA DÀI ĐÊM PHÚ NHUẬN |
| Đêm qua mơ, Thấy Phú Nhuận mưa hoài Những cột điện đứng im nhìn em lau nước mắt Trong khung cửa vàng có tim người thổn thức Ngoài bức rèm xanh tay còn hứng giọt mưa tuôn Đêm qua mơ, Thấy hạt mưa hình vuông Bay xeo xéo qua lòng con phố cũ Hạt lại tròn như lòng em vẫn nhớ Hạt vuông tròn, hạt nghiêng xéo lòng em! Lại nằm mơ thấy những khúc mưa mềm Đêm chưa qua, mưa còn qua lòng đất Biết gởi ai lòng mình đang hiu hắt Người bên đây, người cuối góc chân trời Phố đêm nầy sao cứ mãi mưa rơi Em cô phụ một đời mưa trong mắt Dòng lệ đã khô, mưa làm thêm mắt ướt Tưởng lệ mình, đâu biết lệ từ mưa! Biết giờ nầy ai đang ở rất xa Bên kia mùa Thu bên nầy giông bão Ước chi ai về che chung manh áo Thì kễ chi mưa lạnh ướt đêm dài Đêm Phú Nhuận còn mơ, Mưa vẫn mưa hoài Em lang thang qua café Chợt Nhớ Quán đóng cửa nhìn em con mắt lạ Lại cô đơn nhìn Phú Nhuận cô đơn Đường về khuya hạt nhớ cứ vuông tròn Bay không ngớt qua lòng người cô phụ Thôi để buồn em làm viên sỏi nhỏ Đau dưới chân ai nhìn mưa cuộn quanh đời Chừng nào hết mưa, đêm Phú Nhuận ơi!TRẦN KIÊU BẠC |
Tuesday, September 6, 2011
THƠ MẸ (GÓP NHẶT)

Ở NGÃ TƯ NHỚ MẸ
Chờ đèn xanh cuối góc ngã tư
Bổng dưng nhớ Mẹ mình quá đỗi
Mẹ hiện ra bồng bềnh sương khói
Mắt ngóng chờ từng cánh chim xa
Ngã tư quen mỗi ngày con qua
Không đếm hết bao lần đèn đỏ
Đợi đèn xanh lắm khi con nhớ
Đường gập ghềnh Mẹ dắt con đi
Ngã ba ngã tư ở vùng quê
Đâu ai chờ đèn xanh vàng đỏ
Không có Mẹ, con đành vấp ngã
Trên nẻo ngược xuôi giữa cuộc đời
Chiều nay về không chút mưa rơi
Mà lạnh lắm lòng con nhớ Mẹ
Đèn xanh không lên không ngại trễ
Sợ chờ hoài không thấy Mẹ đâu!
TRẦN KIÊU BẠC
NÚI KHÓC
Núi mồ côi đứng im lìm một chỗ
Tiễn Mẹ đi xa núi khóc một mình
Mẹ đi đâu trong cõi trời mây gió
Ngóng Mẹ về, không thấy, núi buồn tênh
Những cánh chim lạc bầy kêu xao xác
Có phải gào lên tiếng gọi Mẹ không
Con nai nhỏ xa đàn còn ngơ ngác
Mẹ đâu giờ giữa rừng lá mênh mông
Rừng cây ơi còn bạn bè đông đủ
Núi một thân sao lạnh quá đêm nầy
Không có Mẹ ai nhóm cho chút lửa
Chôn chân rồi núi chờ mãi Mẹ đây
Tưởng đá cứng không bao giờ đá khóc
Nghĩ núi cao không ướt mắt bao giờ
Nhưng Mẹ đi không bao giờ được gặp
Đá núi buồn nước mắt chảy thành mưa.
TRẦN KIÊU BẠC
Hôm Má một mình ra đồng vắng
Hồn con theo Má xuống mộ phần
Chị em khóc ngất trong tang trắng
Con tưởng mình ôm cổ áo quan
Xa lắm con về đâu còn kịp
Trăm điều đã trễ nói Má nghe
Má chỉ lặng im đôi mắt khép
Mặc tiếng ru xưa rụng sau hè
Sắc không đời chỉ còn không sắc
Má một tay buồn nắm tay không
Một tay cố níu đàn con nhỏ
Hai tay hai nắm cỏ phù vân
Tưởng như con khóc bên phần mộ
Quỳ nghe tiếng Má gọi con hoài
Đêm ở bên đây ngày bên đó
Làm sao đáp được tiếng Má ơi!
Hơn mười năm lẻ không về được
Mười năm con dựa vách mồ côi
Con không còn dáng con ngày trước
Thuở Má cầm tay dắt vào đời
Lâu quá, lâu rồi không gặp lại
Muôn đời con dõi mắt trông theo
Bước chân Má buồn qua luân ải
Chắc đã mỏi rồi khúc quạnh hiu
Hôm nay giỗ Má con buồn lắm
Một chút khói hương gởi quê nhà
Má đi trong cõi xa ngàn dặm
Xin về cho ấm đứa con xa
Khói trắng làn hương như tóc trắng
Nấm mồ chưa kịp phủ màu xanh
Con đốt hưong bay trong đêm vắng
Nửa gởi quê xa, nửa cho mình!
TRẦN KIÊU BẠC
CHÙM THƠ SINH NHẬT

SINH NHẬT, Ý NGHĨ VỤN CÒN LẠI |
Ngọn nến hôm nay biết giận hờn Cháy như tranh vẽ nhạt màu sơn Hai ngọn đứng nghiêm chào tuổi cũ Một bầy nến mới đợi gọi tên Đếm những hàng đèn im tiếng thở Vẫy chào một tuổi vội đi qua Buồn xâu từng chuỗi xâu từng chuỗi Rót vào ly trống những xót xa Có phải tháng năm là dao nhọn Gọt giũa cho đời thấy biển dâu Tiếc rẻ tuổi đời qua như bão Nên hàng nến đỏ cháy thật lâu Không phải hôm nay nến giận hờn Mà chính lòng mình khoác khói sương Đứng trên làn khói nhìn ngang dọc Tưởng như dòng sáp chảy qua hồn Nhìn qua trong suốt đáy ly không Thấy tuổi thơ như khối vàng ròng Nghe lại lời ru bên võng Mẹ Ngửi mùi hương đậm thuở thanh xuân. TRẦN KIÊU BẠC (8/8) |
SINH NHẬT, NHÌN RA TỪ MỘT GÓC NHỎ
Từ trong góc nhỏ cuộc đời
Đã thêm một tuổi nữa rồi hôm nay
Cầm cây nến đỏ trên tay
Thấy còn hơi ấm những ngày còn thơ
Quay về đếm dấu chân xưa
Quanh đường xuôi ngược trầm tư một mình
Một năm âu yếm để dành
Một ngày Sinh Nhật, một thân mỏi rời
Ngổn ngang thương nhớ một trời
Ngàn lời chưa nói , một lời lặng im
Ngày buồn ngồi đứng không yên
Mai đưa qua hết một miền lãng quên
Từng dòng sáp khổ cháy lên
Đưa đời ta đến đầu ghềnh thác xa
Từ trong góc nhỏ nhìn ra
Dường như Sinh Nhật không là hôm nay!
TRẦN KIÊU BẠC (8/8)
SINH NHẬT, MƯA THÁNG TÁM
Em hồn nhiên thả chùm mưa qua bên nầy
Nói gởi mưa Sàigòn làm quà Sinh Nhật
Hạt mưa trong veo như mắt em chưa khóc
Chảy đầy ly cho Sinh Nhật nằm nghiêng
Anh cầm hạt mưa không nhớ tuổi tên
Mưa hẻm nhỏ chừng hơn mười năm trước
Mưa mấy tuổi làm sao anh nhớ được
Chỉ nhớ mưa lăn quăn trong hẻm nhỏ buồn
Gặp mưa Saìgòn anh lại nhớ thêm
Đêm tháng tám mưa chìm trong áo lụa
Có thi sĩ nào đã ngợi ca mưa tháng sáu
Anh tầm thường nên mưa tháng tám đẹp hơn
Bởi Sinh Nhật anh rơi vào tháng tám buồn
Giọt mưa Ngâu nát lòng Ngưu Lang Chức Nữ
Nhưng mưa đã cột hai mình từ hai nửa
Thành một mình nên tháng tám tình thân
Cảm ơn mưa âu yếm từ Sài gòn
Hứng từng giọt thấy đời vui một chút
Cảm ơn mưa kỷ niệm hẻm buồn hôm trước
Chảy qua bên nầy như mắt em trong veo.
TRẦN KIÊU BẠC (8/8)
SINH NHẬT NGÀY THỨ BẢY |
Sinh nhật năm nay nhằm thứ bảy TRẦN KIÊU BẠC (8/8) |
MƯA ĐỜI THÁNG TÁM
Bỗng dưng đời gởi một cơn mưa
Mây cũng nhanh chân đón gió mùa
Cát gọi nước lên dòng sông cũ
Bụi đường xóa sạch dấu chân xưa
Mắt chạm khẽ vào mây ngũ sắc
Nghe sóng buồn đẩy khúc ca dao
Tháng 8 mưa dồn tay lạnh ngắt
Cho ngày Sinh Nhật nến lao xao
Mưa chảy mấy hàng quanh ngọn nến
Lòng như ướt đẫm những lo âu
Chờ ai, không thấy ai cùng đến
Tim còn đập khẽ những buồn đau
Tạ ơn Mẹ đã cho con tiếng khóc
Thổi vào con hơi thở trầm luân
Tạ ơn những cơn đau xé ruột
Sinh con trong tháng 8 mưa dầm
Tạ ơn những hạt mưa đến trễ
Cho mình quen chịu những phong ba
Để biết nhân gian còn quạnh quẽ
Những trận roi đời mãi xót xa!
Trán còn lấm tấm hạt mưa rơi
Nhớ Mẹ đưa con gặp cuộc đời
Mẹ có đi xa xin trở lại
Tháng 8 đừng qua tháng 8 ơi!
TRẦN KIÊU BẠC
(8/8)











