THAY LỜI CHÀO MỪNG!

THAY LỜI CHÀO MỪNG!

LỜI CHÀO MỪNG

CẢM ƠN QUÝ THÂN HỮU ĐÃ MỞ CỬA VÀO NGÔI NHÀ ĐƠN SƠ "QUA DẤU BỤI THỜI GIAN" CỦA
TRẦN KIÊU BẠC.




Thursday, October 1, 2009

MÙA THU .




MỞ CỬA CHỜ THU.


Bởi nhặt được lá rơi ở cuối đường, nên gió ngập ngừng không buồn thổi nữa .Mưa cũng loay hoay bên trời thương nhớ. Người cũng xao lòng mở cửa chờ Thu.
Thu dạ thưa chào Tân Định đong đưa.Tiếng chuông nhà thờ nghe chừng vội vã.
Ô cửa sáng tiếng dương cầm rất lạ. Nốt nhạc tròn lăn xuống tận cầu thang.
Đêm cư xá dài bóng tối hành lang. Đèn hắt bóng dẫn chân Thu dạo bước.
Sớm một chút Thu về không báo trước. Chậm nửa ngày Thu cũng lỡ qua song.
Sàigòn mưa sợi vắt hình vòng cung. Trưa dột Tân Bình chiều giăng Phú Nhuận.
Thu nhón gót theo mưa vào Bến Cảng. Để dấu giày quanh cư xá Thanh Đa.
Không phải của mình, Thu của người ta. Nên lạ lẫm dáng Thu càng lạ lẫm.
Sông Sàigòn ngược xuôi dòng nước chậm. Cho con sóng buồn vỗ nhẹ trái tim Thu.
Thu nhẹ vàng không phải của mình đâu. Thu của ai lửng lơ màu thương nhớ.
Thấy Thu ghé về vội vàng mở cửa. Thu lơ đãng nhìn rồi vội vã quay lưng.
Thu bây giờ là Thu của người dưng!....



TRẦN KIÊU BẠC.

LỤC BÁT MÙA THU .




THU NGHIÊNG

Nghiêng về một phía mùa Thu
Rơi thêm lá đỏ trời như giao muà
Chiều qua lạc tiếng gió đưa
Gió nghiêng chở những âm xưa vọng về
Chạy quanh vòng dưới chân đê
Thu khao khát một lời quê hẹn hò
Nghiêng sông cho nhớ con đò
Nghiêng Thu để lá trầm tư phố vàng
Nghiêng đôi mắt biếc trong ngần
Mắt Thu tha thiết về ngang lối nầy
Nghiêng câu lục bát cho đầy
Cho Thu thêm ấm cho dài nhớ thương
Đêm nầy nghiêng sợi mưa tuôn
Nghiêng qua cho đổ lá buồn Thu ơi!


TRẦN KIÊU BẠC .



VIẾT TỪ SAU HÀNG DÂM BỤT.
Trần Kiêu Bạc

Nhà tôi, nhà em cách một hàng rào
Không biết tự bao giờ mọc cao hàng dâm bụt
Lớn lên rồi mới hay là ngăn cách
Lại nghĩ về Nguyễn Bính, giậu mồng tơi

Em lớn rồi mà nhỏ tuổi hơn tôi
Trăng đã tròn như chưa bao giờ khuyết
Lớn hơn em nhưng tôi còn chưa biết
Nhớ nhung nào lãng đãng mãi quanh sân

Trăng đã rằm mà chưa thể là trăng
Chiều thoang thoảng mùi hương đồng nội
Đêm ai hát ru bài " Sao Chẳng Nói " *
Biết nói làm sao, tuổi mới trăng rằm!

Một đêm đúng mùa trăng đến mười lăm
Bên kia hàng rào, hỏi tôi mượn sách
Em vò khăn tay quay qua cười khúc khích
Khi được hỏi sách nào? Toán hay Văn Chương?

"Không phải đâu, em thích Thơ hơn
Mượn vài quyển Thơ đêm nay em chép ..."
Tôi vô tư đưa mười quyển Thơ giấu trong ngăn cặp
Hôm sau đứng bờ rào trả sách em buồn hiu!

"Em ghét chàng Nguyễn Bính yếu như bún thiu
Có cái giậu mồng tơ mà không qua được..."
Nhà anh, nhà em cách hàng rào dâm bụt
Cao chưa khỏi đầu nhưng nào dám nhảy qua !
*****
Bây giờ trăng qua rằm, em đã của người ta
Chắc không còn nhớ ai bên hàng xóm
Mười năm qua, trăng dậy thì đã lu dần ánh sáng
Hàng dâm bụt cao rồi quá tầm mắt nhìn qua

Mà nhìn làm chi? Em đã của người ta!

(* Bản nhạc của Tuấn Khanh)


TRẦN KIÊU BẠC

Wednesday, September 30, 2009


LỜI THĂM MẸ TỪ MỘT NƠI XA.

Khuya rồi, thưa Mẹ ngủ chưa ?
Mền thì vẫn thiếu, chiếu thừa một bên
Không con, Mẹ vẫn nằm nghiêng
Chừa con khoảng trống không quên mỗi ngày
Chiếc giường như chở gió mây
Vào riêng một cõi chứa đầy tình thuơng
Bên đây vắng Mẹ con buồn
Bên kia Mẹ đợi thằng con chưa về
Lời ru cũ con thường nghe
Đêm khuya như Mẹ vỗ về lòng con
Ngày dài buồn lại buồn hơn
Nghĩ cây già nhớ lộc non cồn cào
Vì con đời Mẹ xanh xao
Biết bao giờ trút gánh sầu hai vai
Trời đêm đã mọc sao Mai
Ngủ đi, sao Mẹ thức hoài đêm thâu
Thức chi đêm lụn dầu hao
Khuya rồi, Mẹ thức càng lâu càng buồn!


TRẦN KIÊU BẠC ( 1993)


CÒN HOÀI MỘT DẤU HỎI .
Trần Kiêu Bạc

Tuổi thơ con có một thời hạnh phúcGọi "Mẹ ơi!" khi đói khát, lạnh lùngLòng vui lên thấy Mẹ cười trước mặtĐược vỗ về, được âu yếm yêu thươngNhà mình nghèo, Mẹ sợ thân con lạnhNên thức hòai, canh giấc ngủ thâu đêmCon trở giấc, Mẹ vội vàng lính quýnhẤp ủ con mặc gió bấc ngoài hiên .Lớn lên rồi lại rời xa tay MẹMẹ vẫn cười nghiêng theo bóng đời conKhi vấp ngã, gọi " Mẹ ơi!" , rất khẽĐỡ con lên, Mẹ hỏi " Có đau không " ?Từ ngàn xưa nước mắt luôn rơi xuốngHạt mưa sa đâu chảy ngược lên nguồn ?Trên đường đời Mẹ bao lần vấp ngãCó bao giờ con hỏi " Mẹ đau không "???


TRẦN KIÊU BẠC.



KHÔNG THỂ NÓI LỜI TỪ GIẢ.


Có một lần mình định giả từ thơ
Chưa được một lần mà băn khoăn mãi
Bỏ trơ trọi mấy vần ngoài trang giấy
Thơ cũng lẻ loi như cả đời mình

Thơ cũng biết buồn trong tối mông mênh
Cũng khóc mưa dầm ướt khung giấy mỏng
Thơ thức một mình đêm chờ đêm ngóng
Bàn tay cô đơn vươn tới vỗ về

Mình gởi tâm tình thơ vẫn im nghe
Thơ cần một điều khác hơn ngôn ngữ
Cầm viết lên hay gõ lên phím nhỏ
Thơ dắt quạnh hiu ra khỏi cuộc đời

Mình vẫn một mình, thơ vẫn rong chơi
Tưởng mình nghèo thơ bỏ qua chốn khác
Ngàn lần không, thơ vẫn chưa bước lạc
Thơ chẳng bao giờ ngoảnh mặt đi đâu

Ngồi một mình sóng sánh một niềm đau
Thấy thơ sao mà dễ thương đến vậy
Trong ly rượu cay, thơ lăn tới đáy
Uống cạn ly, thơ chảy đậm đầy người

Thôi không đành lời giả biệt, thơ ơi!

TRẦN KIÊU BẠC.







VẪN LÀ EM BÊN NẦY BIỂN RỘNG




Vẫn là em, vẫn là em



Xum xoe trong áo lụa mềm gió bay



Hôm nay em mặc áo dài



Vẫn em, dù đã bên ngoài quê hương



Dễ thôi, một chuyện bình thường



Quên trong góc tủ đã chừng vài năm



Áo dài tà Bắc, tà Nam



Vẫn ươm trong đó chút mầm nhớ quê



Nơi con sông nhỏ thầm thì



Còn vương chút "Nớ", chút "Ni" Huế buồn



Em như về giữa Cửu Long



Áo em thấp thoáng bên dòng sông xanh



Tóc em từng sợi mong manh



Chảy vào tà áo, chảy quanh gót hài



Đường ngôi em rẽ làm hai



Bên thương bên nhớ, bên ngày bên đêm



Xa quê chín khúc ruột mềm



Giấu trong tay áo niềm tin trở về



Vẫn em, áo, với tóc thề



Nghìn xa vẫn một tình quê đậm đà



Đã đành xa vẫn còn xa



Áo em vẫn nét mượt mà Việt Nam.






TRẦN KIÊU BẠC.

TA VÌ LỤC BÁT BƯỚC VÔ.


Trầm mình trong suối thơ ca
Nghe câu lục bát tưởng là ca dao
Lời thơ như muốn mở đầu
Cho ngàn sau những nhánh sầu mọc lên
Ai đem câu sáu bắt đền
Để câu tám nép một bên mà buồn
Mây dồn theo giọt mưa tuôn
Chảy theo lục bát cho hồn đong đưa
Đêm nằm mơ đẹp trời mơ
Ai từ lục bát bất ngờ bước ra
Cầm câu sáu tám ngâm nga
Ai làm cho cánh sao sa lưng trời
Nhớ ơn lục bát một đời
Cho mình viết được ngàn lời mộng mơ
Từ áo the dặm câu hò
Đến đôi guốc mộc gõ thơ xuống đời
Mở câu sáu gọi nụ cười
Khép câu tám đẩy đưa mời mọc nhau
Trờì mưa ướt cả mái đầu
Xin đừng dội ướt nửa câu thơ buồn
Xa thơ Đường Luật bình thường
Mà xa Lục Bát nhớ thương không bờ
Ta vì lục bát bước vô
Gặp ai từ đó tình cờ bước ra
Cũng đành như kẻ lạ xa
Nhưng còn lục bát còn là tình nhân.



TRẦN GIA TĨNH TÂM.

NHẶT HOA TRÊN NET.



Lời bài Dạ cổ hoài lang



Lời bài Dạ cổ hoài lang có rất nhiều dị bản. Do quá trình phát triển truyền miệng
trong 90 năm, từ nhịp đôi thành nhịp 32 mà các thầy đờn, nghệ sĩ thêm bớt, thay
đổi một vài từ để phù hợp với nhịp và cách ca của mình.
Thông thường nghệ sĩ cải lương ca lời sau:
Từ là từ phu tướng
Bảo kiếm sắc phán lên đàng
Vào ra luống trông tin nhạn
Năm canh mơ màng
Em luống trông tin chàng
Ôi gan vàng thêm đau
Đường dù xa ong bướm
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
Còn đêm luống trông tin bạn
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu
Vọng phu vọng luống trong tin chàng
Lòng xin chớ phũ phàng
Chàng là chàng có hay
Đêm thiếp nằm luống những sầu tây
Biết bao thuở đó đây sum vầy
Duyên sắc cầm đừng lạt phai
Là nguyện cho chàng
Hai chữ an bằng an
Trở lại gia đàng
Cho én nhạn hiệp đôi
Khi được nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển ký âm lại, các ca sĩ hiện nay thường hát phiên
bản có lời như sau:
Từ là từ phu tướng
Bảo kiếm sắc phong lên đàng
Vào ra luống trông tin nhạn
Năm canh mơ màng
Em luống trông tin chàng
Ôi gan vàng quặn đau í a
Đường dù xa ong bướm
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
Đêm luống trông tin bạn
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu
Vọng phu vọng luống trong tin chàng
Sao nỡ phũ phàng
Chàng hỡi chàng có hay
Đêm thiếp nằm luống những sầu tây
Bao thuở đó đây sum vầy
Duyên sắc cầm đừng lạt phai
Là nguyện cho chàng
Hai chữ an bằng an
Mau trở lại gia đàng
Cho én nhạn hiệp đôi
Còn giáo sư Trần Văn Khê thì cho rằng lời của bản Dạ cổ hoài lang sau đây mới
phù hợp với ngôn ngữ của người Việt những năm đầu thế kỷ 20:
Từ là từ phu tướng
Bửu kiếm sắc phong lên đàng
Vào ra luống trông tin nhàn
Năm canh mơ màng
Trông luống trông tin chàng
Ôi gan vàng quặn đau
Chàng dầu say ong bướm
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
Đêm luống trông tin nhạn
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu
Vọng phu vọng luống trong tin chàng
Xin chàng chớ phụ phàng
Chàng ơi! Chàng có hay?
Đêm thiếp nằm luống những sầu tây
Biết bao thuở đó đây sum vầy?
Duyên sắc cầm đừng lạt phai
Là nguyện cho chàng
Hai chữ an bằng an
Trở lại gia đàng
Cho én nhạn hiệp đôi
Trong giáo trình cổ nhạc tại Trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Bạc Liêu, lời
bản Dạ cổ hoài lang nhịp đôi sau đây mới được xem là bản gốc. Nhiều nhà nghiên
cứu tại tỉnh Bạc Liêu cũng khẳng định điều này.
Từ, từ phu tướng
Báu kiếm sắc phán lên đàng
Vào ra luống trông thơ nhạn
Năm canh mơ màng
Trông tin chàng
Gan vàng càng lại thêm đau
Lòng dầu say ong bướm
Xin cũng đừng phụ nghĩa tào khang
Đêm luống trông tin bạn
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu
Vọng phu vọng luống trông tin chàng
Xin đó chớ phụ phàng
Chàng chàng có hay
Đêm thiếp nằm luống những sầu tây
Bao thuở đó đây sum vầy
Duyên sắc cầm tình thương với nhau
Nguyện cho chàng
Đặng chữ bình an
Trở lại gia đàng
Cho én nhạn hiệp đôi với đó đây



Hoàng Oanh sưu tầm
HINH O^NG CVL /1960



DẠ CỔ HOÀI LANG : 90 NĂM.




Trong hành trình tìm lại những ngày đầu ra đời của Dạ cổ hoài lang, chúng tôi tìm về khu mộ của nhạc sĩ Cao Văn Lầu và vợ là bà Trần Thị Tấn nằm trang trọng trong khu di tích rộng lớn sắp được khánh thành tại thị xã Bạc Liêu. Cách đó không xa là nhà của ông Cao Văn Hoai - con trai thứ tư của ông Cao Văn Lầu. Chiều chiều, ông Tư Hoai vẫn thường ra mộ ba má để thắp nhang, hồi tưởng về những tháng ngày xưa cũ.
Chiếc áo rách vai
Trong những cuốn sổ tay hiệu Rafale, Igo vàng ố hiện được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Bạc Liêu, bút tích của nhạc sĩ Cao Văn Lầu vẫn còn nguyên với thời gian.
Trong sổ, ông vừa ghi lại những bài bản được ký âm ngũ cung, vừa vẽ hình bàn tay trái bấm đờn của mình, vừa ghi tiền bán cua, bán me, vừa... ghi nợ: “Bà Rớt thiếu nửa can nước mắm chưa trả tiền... Dâu cô Năm thiếu hai trái dừa...”.
Cuốn sổ cũng là nơi ông dặn dò con cháu: “Thằng Hai chớ nên đánh vợ” hay thảo sẵn di chúc: “Khi ba mất, nhớ để ba nằm gần má tụi con ở phía mặt trời mọc. Nhớ tụng kinh nhiều nhiều cho ba má nghen”.
Ông Tư Hoai năm nay đã hơn 80 tuổi, những bức tường trong căn nhà nhỏ của ông treo chi chít hình ảnh, bằng khen, báo chí liên quan đến cha ông và bản nhạc Dạ cổ hoài lang bất hủ.
Ông tự hào nói: “Hồi đó ba tui thương tui nhứt đó. Tui cũng là người ở gần ba nhiều nhứt. Nhưng tội nghiệp ba tui lắm, ổng hiền lành, tình cảm mà cứ khổ hoài!”.
Cái sự “khổ hoài” mà ông Tư Hoai miêu tả chính là cái nghèo tiền bạc và trắc trở về tình cảm trong cuộc đời của cha ông. Nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã lớn lên trong cảnh nghèo túng.
Nhưng được cái là: “Hồi đó ba tui đẹp trai lắm, trắng tươi à, lại hay mặc bộ bà ba trắng - ông Tư Hoai hào hứng kể - nên năm 20 tuổi ông đã chiếm được cảm tình của cô Hai Sang, con gái thầy đàn Nhạc Khị nổi tiếng trong vùng”.
Cũng theo lời ông Hoai, chuyện “tình trong như đã, mặt ngoài còn e” của họ kéo dài đến hai năm mà không ai dám bước tới. Hai người không đến được với nhau vì kỵ tuổi khiến ông Sáu Lầu đau khổ vô cùng. Cô Hai Sang sau đó cũng khép lòng lại, gần hai năm sau mới đi lấy chồng vì sự ép buộc của gia đình.
Ngày cưới của cô Hai Sang, ban nhạc tài tử của Cao Văn Lầu cũng được mời đến. Ông lòng đau như cắt. Mãi cho đến khi một bạn đồng môn trong lớp học nhạc đem xe tới ép rước đi thì ông mới miễn cưỡng đi mà không kịp thay áo. Ra đến đám tiệc, vì chiếc áo của mình bị rách bên vai nên ông cởi ra máng lên ghế rồi lo đờn ca, hát xướng phục vụ quan khách.
Lúc này cô Hai Sang ngồi trong phòng, nhìn thấy chiếc áo bà ba rách vai ấy mà khóc nức nở. Cô lặng lẽ lấy xuống vá lại nguyên vẹn. Rồi cô Hai Sang theo chồng. Chiếc áo vá vai trở thành vật kỷ niệm duy nhất còn lại, được ông trân trọng.
Hai người con còn sống của ông Cao Văn Lầu là ông Cao Văn Hoai và Cao Văn Bỉnh đều cho rằng chính kỷ niệm buồn của mối tình đầu đã là niềm cảm hứng cho ông sáng tác bài ca Chiếc áo rách vai.
Theo tài liệu của nhà văn Phan Trung Nghĩa, sau này khi ban nhạc tài tử của ông Sáu Lầu trở nên nổi tiếng, ông đứng ra tổ chức một đoàn nghệ sĩ cổ nhạc ca ra bộ được đông đảo khán giả mộ điệu ủng hộ.
Trong đoàn có cô Ba Phấn nổi tiếng xinh đẹp, dịu hiền lại có giọng ca ngọt ngào, truyền cảm. Giới địa chủ, công tử nhà giàu say mê cô Ba Phấn. Tuy nhiên, cô Ba Phấn chỉ dành tình cảm đằm thắm của mình cho ông Sáu Lầu. Chính điều này đã làm bọn công tử ghen ghét, tức giận. Một ngày nọ cô Ba Phấn bị bắt cóc, bị bóp cổ rồi bị vứt thi thể dưới chân cầu quay Bạc Liêu.
Phần mộ của vợ chồng nhạc sĩ Cao Văn Lầu bây giờ ở trong khu lưu niệm cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu - di tích lịch sử văn hóa - Ảnh: T.T.D.
Tình yêu son sắt
Chúng tôi tìm đến ngôi chùa Vĩnh Phước An, cũng không xa khu mộ và mảnh đất ngày xưa gia đình ông Sáu Lầu đã sống. Theo thầy trụ trì, hầu hết các tài liệu đều khẳng định chính tiếng trống đêm từ ngôi chùa này đã tác động sâu sắc vào tâm hồn nhạy cảm của Cao Văn Lầu, từ lúc còn bé cho đến khi trưởng thành và đóng vai trò là chất xúc tác để ông sáng tác bản Dạ cổ hoài lang.
Nghệ sĩ lão thành Lâm Tương Vân - người từng có nhiều dịp gặp gỡ nhạc sĩ Cao Văn Lầu - kể rằng qua hai cuộc tình dang dở, khổ đau và bất hạnh, ông Sáu Lầu đã nghe lời cha mẹ lấy cô thôn nữ Trần Thị Tấn với lý do “nhà họ cũng nghèo như nhà mình”.
Ngặt nỗi ăn ở với nhau suốt ba năm mà vợ ông Sáu Lầu vẫn không có thai khiến mẹ chồng phật ý, khuyên hai người nên ly dị để ông kiếm vợ khác, sinh con trai nối dõi. Không dám cãi lời má nhưng cũng không đành bỏ vợ, ông Sáu Lầu lại một lần nữa đối diện với nỗi đau xa cách người thương. Ngày chia tay, bà ôm trong người một gói quần áo cũ, đầu đội chiếc khăn rằn của ông rồi bước cao bước thấp đi về nơi vô định.
Ở lại, ông Sáu Lầu ngày ngày xách đờn ra phía bìa ruộng, nơi vợ chồng biệt ly lần đầu để đàn những bản mà vợ ông rất thích. Một đêm trung thu năm 1919, ông trằn trọc không ngủ được với bao nỗi ngổn ngang. Tiếng trống sang canh vọng lại từ ngôi chùa Vĩnh Phước An ở đầu xóm càng khiến ông thấy đau lòng. Bởi sang canh rồi lại sang canh, lại hết một đêm dài không ngủ. Mình thì chưa ra trận mà vợ đã thành người vọng phu.
Và thế là: Từ là từ phu tướng. Bảo kiếm sắc phán lên đàng. Vào ra luống trông tin nhạn. Năm canh mơ màng... Ông lẩm nhẩm những đoạn lời đầu tiên rồi tìm chữ nhạc ghép vào. Trải qua bao nhiêu đêm viết đi viết lại, Dạ cổ hoài lang ra đời. Mượn tiếng trống đêm (dạ cổ) để làm nhịp cầu chở những nhớ thương, mong đợi của người thiếu phụ vọng phu (hoài lang).
Bản nhạc được viết ra tự đáy lòng đã góp phần trùng phùng đôi vợ chồng son sắt. Những buổi nói dối mẹ đi hát đám nhạc lễ, ông Sáu Lầu đã lén gặp lại người vợ hiền. Rồi vợ ông có thai nên được mẹ chồng rước lại về làm dâu. Người con trai đầu lòng ấy chính là ông Cao Kiến Thiết - sau này là cán bộ cao cấp của Đại sứ quán Việt Nam tại Mông Cổ.
Ông Cao Kiến Thiết kể lại có lần nghe cha mình tâm sự với bạn bè rằng: “Lúc ấy tôi nghĩ giờ này vợ mình đang ở đâu? Chắc chắn là vợ mình thương mình nhiều hơn mình thương vợ mình. Số phận vợ mình như nàng Tô Huệ, vì quá thương chồng mà dệt bức cẩm hồi dâng lên vua. Hay như nàng Tô Thị chờ chồng đến hóa đá! Và tôi viết bản Hoài lang”.
HOÀNG OANH
















Friday, September 25, 2009


Một câu chuyện cảm động.


Câu chuyện đã xảy ra từ nhiều năm trước. Lúc đó, cô Thompson đang dạy tai trường tiểu học của một thị trấn nhỏ tại Hoa Kỳ. vào ngày khai giảng năm học mới, cô đứng trước những em học sinh lớp 5, nhìn cả lớp và nói cô sẽ yêu thương tất cả các học sinh như nhau. Nhưng thực ra cô biết mình sẽ không làm được điều đó bởi cô đã nhìn thấy cậu học sinh Teddy Stoddard ngồi lù lù ngay bàn đầu. Năm ngoái cô đã từng biết Teddy và thấy cậu bé chơi không đẹp với bạn bè, quần áo thì lôi thôi lếch thếch, còn người ngợm thì lại quá bẩn thỉu. "Teddy trông thật khó ưa".Chẳng những thế, cô thompson còn dùng cây bút đỏ vạch một chữ thập rõ đậm vào hồ sơ cá nhân của Teddy và ghi chữ F đỏ chói ngay phía ngoài (chữ F là hạng kém). Ở trường này, vào đầu năm học mỗi giáo viên đều phải xem thành tích học tập của từng học sinh trong lớp mình chủ nhiệm.Cô Thompson đã nhét hồ sơ cá nhân của Teddy đến cuối cùng mới mở ra xem, và cô rất ngạc nhiên về những điều đọc được. Cô giáo chủ nhiệm lớp 1 đã nhận xét Teddy như sau: "Teddy là một đứa trẻ thông minh và luôn vui vẻ. Học giỏi và chăm ngoan... Em là nguồn vui cho người chung quanh". Cô giáo lớp 2 nhận xét: "Teddy là một học sinh xuất sắc, được bạn bè yêu quý nhưng có chút vấn đề vì mẹ em ốm nặng và cuộc sống gia đình thật sự là một cuộc chiến đấu". Giáo viên lớp 3 ghi: "Cái chết của người mẹ đã tác động mạnh đến Teddy. Em đã cố gắng học, nhưng cha em không mấy quan tâm đến con cái và đời sống gia đình sẽ ảnh hưởng đến em nếu em không được giúp đỡ".Giáo viên chủ nhiệm lớp 5 nhận xét: "Teddy tỏ ra lãnh đạm và không tỏ ra thích thú trong học tập. Em không có nhiều bạn và thỉnh thoảng ngủ gục trong lớp".Đọc đến đây, cô Thompson chợt hiểu ra vấn đề và cảm thấy tự hổ thẹn. Cô còn thấy áy náy hơn khi đến lễ Giáng sinh, tất cả học sinh trong lớp đem tặng cô những món quà gói giấy màu và gắn nơ thật đẹp, ngoại trừ món quà của Teddy. Em đem tặng cô một gói quà bọc vụng về bằng loại giấy gói hàng nâu xỉn mà em tận dụng lại từ loại túi giấy gói hàng của tiệm tạp hóa. Cô Thompson cảm thấy đau lòng khi mở gói quà ấy ra trước mặt cả lớp. Một vài học sinh đã bật cười khi thấy cô giơ lên chiếc vòng giả kim cương cũ đã sút mất vài hột đá và một chai nước hoa chỉ còn lại một ít. Nhưng cô đã dập tắt những tiếng cười nhạo kia khi cô khen chiếc vòng đẹp, đeo nó vào tay và xịt một ít nước hoa trong chai lên cổ tay. Hôm đó Teddy đã nán lại cho đến cuối giờ để nói với cô: "Thưa cô, hôm nay cô thơm như mẹ em ngày xưa". Sau khi đứa bé ra về, cô Thompson đã ngồi khóc cả giờ đồng hồ. Và chính từ hôm đó, ngoài dạy học cô còn lưu tâm chăm sóc cho Teddy hơn trước. Mỗi khi cô đến bàn em để hướng dẫn thêm, tinh thần Teddy dường như phấn chấn hẳn lên. Cô càng động viên em càng tiến bộ nhanh. Vào cuối năm học, Teddy đã trở thành học sinh giỏi nhất lớp. Và trái với phát biểu của mình vào đầu năm học, cô đã không yêu thương mọi học sinh như nhau. Teddy là học trò cưng nhất của cô.Một năm sau, cô tìm thấy một mẩu giấy nhét qua khe cửa. Teddy viết: "Cô là cô giáo tuyệt vời nhất trong đời em". Sáu năm sau, cô lại nhận được một bức thư ngắn từ Teddy. Cậu cho biết đã tốt nghiệp trung học, đứng hạng ba trong lớp và "Cô vẫn là người thầy tuyệt vời nhất trong đời em". Bốn năm sau, cô lại nhận được một lá thư nữa. Teddy cho biết dù hoàn cảnh rất khó khăn khiến cho cậu có lúc cảm thấy bế tắc, cậu vẫn quyết tốt nghiệp đại học với hạng xuất sắc nhất, nhưng "Cô vẫn luôn là cô giáo tuyệt vời mà em yêu quý nhất trong đời". Rồi bốn năm sau nữa cô nhận được bức thư trong đó Teddy báo tin cho biết cậu đã đậu tiến sĩ và quyết định học thêm lên. "Cô vẫn là người thầy tuyệt nhất của đời em", nhưng lúc này tên cậu đã dài hơn. Bức thư ký tên Theodore F. Stoddard - giáo sư tiến sĩ.Câu chuyện vẫn chưa kết thúc tại đây. Một bức thư nữa được gửi đến nhà cô Thompson. Teddy kể cậu đã gặp một cô gái và cậu sẽ cưới cô ta. Cậu giải thích vì cha cậu đã mất cách đây vài năm nên cậu mong cô Thompson sẽ đến dự lễ cưới và ngồi ở vị trí vốn thường được dành cho mẹ chú rể. Và bạn thử đoán xem việc gì đã xảy ra? Ngày đó, cô đeo chiếc vòng kim cương giả bị rớt hột mà Teddy đã tặng cô năm xưa, xức thứ nước hoa mà Teddy nói mẹ cậu đã dùng vào kỳ Giáng sinh cuối cùng trước lúc bà mất. Họ ôm nhau mừng rỡ và giáo sư Stoddard thì thầm vào tai cô Thompson: "Cám ơn cô đã tin tưởng em. Cám ơn cô rất nhiều vì đã làm cho em cảm thấy mình quan trọng và cho em niềm tin rằng mình sẽ tiến bộ". Cô Thompson vừa khóc vừa nói nhỏ với cậu: "Teddy, em nói sai rồi. Chính em mới là người đã dạy cô rằng cô có thể sống khác đi. Cô chưa từng biết dạy học cho tới khi cô được gặp em".

Khuyết danh.

Monday, September 14, 2009




PHẢI CHI ...
Trần Kiêu Bạc

Phải chi mưa đổ về sông rộngÁo em chỉ ướt nửa vạt sauMưa đã vô tình ôm áo mỏngTrách chi vạt trước cũng thay màuPhải chi nắng trải trong lòng phốEm chỉ nghiêng che biển tóc thềTóc chẳng bay qua vuông cửa sổTrăm năm tình lạc đã quay vềPhải chi thề hẹn chỉ sớm trưaĐừng rụng sương khuya gió trái mùaTình trót ra đi tình sẽ lạiNhư đời rớt nắng lại rơi mưaPhải chi từ biệt là quên hếtKhông còn ray rứt phút thương đauPhải chi chia cắt mà tình chếtMình chẳng nhớ nhau đến bạc đầu .TRẦN KIÊU BẠC

NHẶT HOA TRÊN NET.

THÁNG TƯ NẮNG


Đêm thật sâu
và nỗi buồn rất lạ
như buổi chiều
góc phố tình cờ qua
chỗ ngồi quen
Starbucks nắng nhạt nhòa
cà phê đắng
hay tình yêu hóa đắng?

Tháng Tư rớt
trên vai em hờ hững
gió mùa về
rời rạc tiếng phong linh
căn phòng xưa
em về soi bóng mình,
tim lạnh ngắt
hay tình xưa quay quắt?

Tháng Tư nắng
lòng buồn như giấy trắng
trải ngoài hiên
phơi trần trụi ưu phiền
chân qua thềm
không còn bước hồn nhiên
Ngày sắp tắt
có nghe đời héo hắt?

Tháng Tư hết
tháng Tư nào đã chết?
hạnh phúc tàn
sầu thắp nến đi hoang
không còn ai
đêm, bóng tối rất dài.
ngày, nắng rũ
xóa tình ta đã cũ?


Tưởng Dung
(Tháng 4-2009)

NHẶT HOA TRÊN NET.


KHÔNG LÀ TRĂM NĂM.


Xin được ngủ quên thêm dăm phútnữa
Trên cuộc tình sắp sửa bặt tăm hơi.
Tôi cố nghiến nỗi buồn trong nỗi chết
Nên môi khô, mắt úa đã lâu rồi!

Đường vào tim nhau sao rất êm
Như khi ta không còn ngần ngại,
Rót say sưa những dòng mắt nồng nàn,
Trong nỗi chờ mong, trong lòng khao khát…

Trước lúc đối diện đã có lúc quay lưng
Nên chẳng lạ lùng phút giây gặp gỡ.
Níu hạnh phúc như níu hơi thở vội,
Tôi hay người không còn nữa thờ ơ!

Hãy nâng tay tôi bàn tay yếu đuối,
Chỉ từng lau lệ, chỉ từng đếm thương đau.
Sầu chưa xóa, ưu phiền còn gần gũi,
Đã đầy chưa, tình đang sắp hư hao!

Ngày tháng trở về, ngày tháng đổi thay,
Người đã đi qua, quên chưa hò hẹn.
Còn lại người ơi, còn chút hắt hiu…
Cuống quít đôi chân, lối xưa đã nghẽn!

Không là trăm năm, chưa là bến đỗ,
Người cứ cầm hồn thơ dại mà đi.
Tôi cứ ngẩn ngơ, một đời tưởng tiếc.
Duyên lỡ làng, nên tàn như mộng mị!


Tưởng Dung
(1973)

Wednesday, September 9, 2009

NHẶT HOA TRÊN NET.




Phạm Thiên Thư và "Ngày Xưa Hoàng Thị".


Ông sinh ra ở Lạc Viên- Hải Phòng. Năm 1954, khi mới 14 tuổi, ông theo cha mẹ di cư vào miền Nam, ngụ tại căn nhà gần khu Tân Định- Sài Gòn. “Tôi vẫn nhớ tới căn nhà những ngày ấy, đó là một căn nhà nhỏ nằm đằng sau chợ Tân Định. Cha tôi xin cho tôi học tại trường Trung học Văn Lang cách nhà chừng non một cây số. Tôi đã học hết tú tài ở đó”. Ông nhớ lại: Cũng trong những năm học tú tài này, ông đã để ý một cô bạn học cùng lớp tên là Hoàng Thị Ngọ, cô gái đó quê gốc Hải Dương, ở gần nhà ông. Nhưng chỉ là để ý thôi chứ không dám ngỏ lời.


Ngày xưa Hoàng thị.


Em tan trường về >

Đường mưa nho nhỏ >

Chim non giấu mỏ >

Dưới cội hoa vàng >


Bước em thênh thang >

Áo tà nguyệt bạch >

Ôm nghiêng cặp sách >

Vai nhỏ tóc dài >


Anh đi theo hoài >

Gót giày thầm lặng >

Đường chiều úa nắng >

Mưa nhẹ bâng khuâng >


Em tan trường về >

Cuối đường mây đỏ >

Anh nhìn theo Ngọ >

Dáng lau lách buồn


Tay nụ hoa thuôn >

Vương bờ tóc suối >

Tìm lời mở nói >

Lòng sao ngập ngừng >


Lòng sao rưng rưng >

Như trời mây ngợp >

Hôm sau vào lớp >

Nhìn em ngại ngần


Em tan trường về >

Đường mưa nho nhỏ >

Trao vội chùm hoa >

Ép vào cuốn vở >


Thương ơi! Vạn thuở >

Biết nói chi nguôi >

Em mỉm môi cười >

Anh mang nỗi nhớ >


Hè sang phượng nở >

Rồi chẳng gặp nhau >

Ơi mối tình đầu >

Như đi trên cát >


Bước nhẹ mà sâu >

Mà cũng hòa mau... >

Tưởng đã phai màu >

Đường chiều hoa cỏ >


Mười năm rồi Ngọ >

Tình cờ qua đây >

Cây xưa vẫn gầy >

Phơi nghiêng dáng đỏ >


Áo em ngày nọ >

Phai nhạt mấy màu >

Chân theo tìm nhau >

Còn là vang vọng >


Đời như biển động >

Xóa dấu ngày qua >

Tay ngắt chùm hoa >

Mà thương mà nhớ >


Phố ơi! Muôn thuở >

Giữ vết chân tình >

Tìm xưa quẩn quanh >

Ai mang bụi đỏ >


Dáng ai nho nhỏ >

Trong cõi xa vời. >

Tình ơi!.... Tình ơi!...>


Hàng ngày, khi xếp hàng vào lớp, cô gái đứng ở đầu hàng bên nữ, nổi bật, mái tóc dài xoã trên bờ vai mảnh dẻ. Ông chỉ im lặng ngắm nhìn. Rồi khi tan trường, cô gái một mình trên đường về nhà, ông lại là kẻ lẽo đẽo theo sau.> "Cô ấy ôm cặp đi trước, tôi đi theo nhưng không dám lên tiếng. Trong bóng chiều tà, ánh nắng hắt qua hàng cây, cô ấy lặng lẽ bước, gây cho tôi những cảm xúc bâng khuâng khó tả. Cứ thế, tôi chỉ biết lặng lẽ đi theo sau cô ấy hàng ngày, giấu kín những cảm xúc của mình không cho bất cứ ai biết”.

Sau khi học xong tú tài, khác với nhiều người, Phạm Thiên Thư chọn cửa Phật làm chốn dừng chân. Ông theo học trường Phật học Vạn Hạnh, gửi hồn trong lời kinh tiếng kệ. Thế nhưng mỗi khi đi ngang con đường một thủa xưa,hình ảnh cô gái với mái tóc xoã ngang vai lại hiện về trong ông. Và trong một lần đắm chìm trong cảm xúc ấy, ông đã cầm bút viết lên bài thơ Ngày xưa Hoàng thị: “Em tan trường về- Đường mưa nho nhỏ - Chim non giấu mỏ - Dưới cội hoa vàng…”.


Ông tâm sự: “Đây không phải là bài thơ đầu tay của tôi.

Cha tôi tuy làm nghề thuốc nhưng ông có làm thơ, tôi còn nhớ ông đã từng đạt giải Nhì về thơ do một tờ báo ở Hà Nội trao tặng.

Khi còn nhỏ tuổi tôi cũng đã làm vài bài thơ và được cha tôi khen. Nhưng tôi làm thơ chủ yếu để trải lòng mình chứ không làm thơ chuyên nghiệp. Vì vậy mãi đến năm 1968, tôi mới tự xuất bản tập thơ đầu tiên. In ít thôi, chủ yếu để mình đọc và tặng một số bạn bè thân. Tôi chẳng muốn nhiều người biết về mình”.

“Thế khi nào mọi người mới biết tới những bài thơ của bác?”- Tôi hỏi.

Phạm Thiên Thư trả lời: “Ấy là khi chúng tôi nhờ nhạc sỹ Phạm Duy phổ nhạc 10 bài Đạ o ca do tôi viết lời, Phạm Duy gặp và tình cờ đọc được tập thơ của tôi. Tôi cũng không nghĩ nhạc sỹ lại thích bài thơ Ngày xưa Hoàng thị đến thế, ông đề nghị phổ nhạc bài thơ đó. Dĩ nhiên được một nhạc sỹ nổi tiếng như Phạm Duy để ý đến bài thơ của mình thì có gì hạnh phúc bằng.

Và tôi cũng bất ngờ nghe lại bài thơ của mình khi đã phổ nhạc. Nhạc sỹ đã tôn bài thơ lên rất nhiều qua những giai điệu nhạc bay bổng”.

Vào những năm 70, bài Ngày xưa Hoàng thị đã trở thành một hiện tượng tại miền Nam Việt Nam. Ca sỹ Thanh Thúy là người đầu tiên thể hiện bài hát này và sau đó nhiều ca sỹ khác cũng chọn bài Ngày xưa Hoàng thị để hát, tạo thành trào lưu. Thậm chí báo chí Sài Gòn cũng vào cuộc, nêu câu hỏi “Nhân vật chính trong Ngày xưa Hoàng thị là ai?”. Một số người tự nhận mình là nhân vật của bài thơ, số khác thì phân tích bài thơ rồi cho rằng nhân vật chính trong bài thơ là cô A, cô B nào đó...

“Ngày đó báo chí cũng gặp tôi hỏi chuyện tôi nói rằng đó là cô Hoàng Thị Ngọ nhưng không biết tại sao nhiều người vẫn không tin”. Ông bảo.

Nhạc sỹ Phạm Duy còn phổ nhạc thêm một số bài thơ tình khác của ông như Đưa em tìm động hoa vàng, Gọi em là đoá tình sầu, Em lễ chùa này… Căn nhà của ông giờ là một quán cà phê nhỏ mang tên “Hoa vàng”, có lẽ ông lấy từ bài “Đưa em tìm động hoa vàng” để đặt tên. Quán nhỏ nhưng bài trí khá đẹp nên khá đông khách. Có lẽ ít ai vào quán lại để ý tới một ông già có dáng như một lão nông hay ngồi lặng lẽ trong góc nhà lại chính là nhà thơ Phạm Thiên Thư. Ông cười: “Thì tôi đâu dám nhận mình là nhà thơ”. Biết chúng tôi đang tìm hiểu về bài Ngày xưa Hoàng thị, cô con gái của ông tinh ý mở lại bản nhạc. Giọng ca của Thanh Thúy cất lên: “Em tan trường về- Đường mưa nho nhỏ…” Ông buông bút, nhắm mắt. Có lẽ ông đang hồi tưởng về những ngày xa xưa, những ngày trên con đường trải nắng vàng, một chàng trai trẻ lẽo đẽo theo chân cô gái tên Ngọ có mái tóc dài xo ngang vai… để rồi làm nên những vần thơ lung linh và xót xa đến thế.


Trọng Thịnh.

Tuesday, September 8, 2009




Ở NGẢ TƯ NHỚ MẸ .

Chờ đèn xanh cuối góc ngả tư
Bổng dưng nhớ Mẹ mình quá đỗi
Mẹ hiện ra bồng bềnh sương khói
Mắt ngóng chờ từng cánh chim xa

Ngả tư quen mỗi ngày con qua
Không đếm hết bao lần đèn đỏ
Đợi đèn xanh lắm khi con nhớ
Đường gập ghềnh Mẹ dắt con đi

Ngả ba ngả tư ở vùng quê
Đâu ai chờ đèn xanh vàng đỏ
Không có Mẹ , con đành vấp ngã
Trên nẻo ngược xuôi giữa cuộc đời

Chiều nay về không chút mưa rơi
Mà lạnh lắm lòng con nhớ Mẹ
Đèn xanh không lên không ngại trễ
Sợ chờ hoài không thấy Mẹ đâu!

TRẪN KIÊU BẠC

Wednesday, August 26, 2009


LẶNG IM, HOA HỒNG NỞ GIỮA TRANG THƠ.

( thơ Sinh Nhật cho NGƯỜI tặng hoa)


Có một chùm hoa hồng gói trong email
Em gởi chiều nay món quà đặc biệt
Trước ngày sinh anh bốn mươi lăm phút
Là người đầu tiên mừng sinh nhật năm nay

Đồng hồ hình như gõ chậm vài giây
Hay những đóa hồng vì anh đến sớm
Không như gió Thu vẫn thường về muộn
Tháng 8 năm nào cũng đợi mùa Thu

Hoa đã về đây hiền hậu, vô tư
Nắm tay nhau cùng mang màu áo mới
Hoa lặng im mỉm cười mà không nói
Như người tặng hoa mỉm mỉm môi hoài

Cảm ơn hoa đến từ nơi xa xôi
Thả chùm nụ cười như không mệt mỏi
Hoa không nói mà nói nhiều hơn nói
Lặng im, hoa hồng nở giữa trang thơ!



TRẦN KIÊU BẠC. ( 8/8/09)

KHI TRỞ LẠI, LÚC RỜI XA.


Sợi khói buồn đan cuối góc sân bay
Mùi đất nhớ xông lên khoang hành khách
Phi cơ lượn vòng, chân chưa chạm đất
Nước mắt lăn dài như thuở lên ba

Con sông lặng lờ không khác hôm qua
Đồng lúa sai bông vẫn oằn bông lúa
Ngườì quen vẫn đây, không gì xa lạ
Chỉ một mình ngơ ngác cõi quê xưa

Những câu thơ vắt từ giọt nước mưa
Chảy theo mình về một nơi nào khác
Treo chùm nhớ vào đám mây ngũ sắc
Rơi xuống quê làng nỗi nhớ xốn xang

Qua khung kính nhìn mặt đất hình vuông
Sao nỗi nhớ tròn trơn như hạt gạo
Dưới vòm mây Mẹ dãi dầu cơm áo
Chị khóc cười quanh cuộc sống ngược xuôi

Thong dong trở về vội vã ra đi
Gởi lại bên kia trái sầu nửa gánh
Quê người ai mang nửa vầng trăng lạnh
Chỉ quê mình đầy hơi ấm thủy chung!



TRẦN KIÊU BẠC ( 12/10/08, viết trên chuyến bay trở lai Hoa Kỳ)

SÔNG ĐỒNG NAI, Ở KHÚC NHỚ BIÊN HÒA.

Còn nỗi nhớ nằm vắt ngang qua tim
Không còn gì trên dòng sông xẻ nửa
Phía tả ngạn sông mê đầy sóng vỗ
Bên nầy sông ngâm đầy mắt Biên Hòa

Con sông nghiêng nhường ngày tháng đi qua
Nước pha lê chảy qua lòng không đục
Ở đâu đó vàng lên màu hoa cúc
Pha trộn màu hoa bưởi nở trắng tinh

Nước hoàng hôn chìm trong đất bình minh
Nuôi cây cỏ lớn lên trong nắng mới
Nuôi cả mắt ai ngàn năm trông đợi
Đêm khép rồi còn mắt nhớ đỏ hoe

Sông vẫn nằm nghiêng sóng vẫn cuồng mê
Treo nỗi nhớ dịu dàng trên lồng ngực
Đêm vào khuya sông quê còn thao thức
Chảy vào tim ai khúc nhớ bềnh bồng!


TRẦN KIÊU BẠC.

Saturday, August 22, 2009

Nhân ngày giỗ thứ 5 của NSND Bảy Nam:
Người mẹ trong đời con
.
TT - 1. Bốn năm trước (22-8-2004) đám tang NSND Bảy Nam tổ chức tại tư gia. Hàng ngàn khán giả đã đến thắp hương thương tiếc.

Những dịp Đoàn kịch nói Kim Cương tái diễn, đến xem NSND Bảy Nam diễn tại rạp dễ gặp cảnh khán giả đưa tay quệt nước mắt, rồi người này len lén nhìn người kia, ai cũng sụt sùi thương bà Tư trong lớp kịch trao đôi bông mù u cho cô Diệu (Lá sầu riêng) hoặc nghe những lời bà mẹ điên trong Bông hồng cài áo kêu tên con thảm thiết.
Và hôm ấy, trong dòng người xếp hàng đến viếng linh cữu của bà, thấy có nhiều khán giả là chị bán xôi, anh đạp xích lô, em bé đánh giày... những con người chịu nhiều cơ cực đến thắp hương tiễn biệt một người mẹ đáng kính trên sân khấu. Đến trưa thì một chị bán vé số bước vào. Cây gậy lần mò chậm rãi, chị nói lớn khiến ai cũng giật mình: “Cho con lạy má Bảy, cho con lạy má Bảy”.
NSƯT Kim Cương chạy đến. Bước đi của người phụ nữ chậm lại, chị khẽ hỏi: “Cô Kim Cương phải không?”. Chưa kịp nghe tiếng trả lời, chị đã òa khóc: “Em nghe má mất, từ Bến Lức đi quá giang xe đò lên đây. Em muốn lạy má Bảy”.
Sau làn khói hương và những lời khấn nhỏ chỉ một mình chị nghe, đôi mắt mù lòa không còn nước mắt để khóc. Chị kể về cuộc đời mình: “Con mồ côi từ nhỏ. Năm lên bốn tuổi căn bệnh đậu mùa khiến đôi mắt con teo lại và tối sụp cho tới bây giờ. Con không biết cha mẹ là ai, con chỉ mơ thấy mình có một người mẹ hiền lắm. Năm con 14 tuổi, trên bến Bắc Mỹ Thuận, lúc con đi bán vé số, xe đò mở radio tuồng kịch Lá sầu riêng. Con cầm lòng không đặng, bám theo xe để nghe cho hết vở tuồng. Nhờ chú tài xế thương cho một cái ghế đẩu, con ngồi nghe đến quên hết mệt nhọc. Từ đó về sau con tin trong đời mình đã có một người mẹ, đó là má Bảy của con”.
Nguôi cơn xúc động, người phụ nữ bán vé số dạo nói: “Lát nữa tôi ghé Trường Nguyễn Đình Chiểu thăm đứa bạn. Nó cũng xem bà Bảy là mẹ. Mỗi chuyến từ quê lên đây tôi đều ghé thăm nó”.
2
Chiều xuống, dãy nhà nghỉ trường dành cho những người khiếm thị Nguyễn Đình Chiểu rộn ràng tiếng nói cười của những người mù vừa tan lớp học. Dưới một gốc phượng nhỏ có hai người phụ nữ ngồi buồn. Qua câu chuyện với hai chị, tôi biết người phụ nữ bán vé số tên Nguyễn Thị Liên (42 tuổi), còn bạn gái tên Lê Thị Nam (41 tuổi). Chị Liên quê ở Bến Lức, còn chị Nam là đồng hương, lên TP sống tại Trường Nguyễn Đình Chiểu đã 15 năm.
Chị Nam nói: “Tôi thương bà Bảy và xem bà như mẹ, vì tôi cũng như Liên, có biết mẹ mình là ai. Làm việc ở đây tôi mua hầu như không thiếu cuốn băng nào có bà Bảy đóng. Không xem được hình thì mình nghe tiếng nói của bà. Tôi thuộc hết tuồng Lá sầu riêng. Vì mỗi lời nói của bà như chính bà đang nói với tôi”.
Rồi hai chị miên man kể về những lần vượt qua khó khăn để cố sống lương thiện. Chị Nam có một bầy con nuôi ở trường thương yêu chị hết dạ, chị Liên cũng có một đứa con trai nhỏ đang học lớp 4: “Nó cũng mồ côi nên tôi xin về nuôi” - chị nói và cố nhướng đôi mắt lên trời...
3
Hôm nay, đúng năm năm ngày mất của bà, lại nghĩ về một người nghệ sĩ được giới sân khấu xem là tượng đài của những vai bà mẹ. Không chỉ làm vui những khán giả mua vé đến với nghệ thuật để được học những điều hay lẽ phải, bà còn là một người mẹ của rất nhiều mảnh đời bất hạnh - những người bà gọi là “bạn tri kỷ” của nghề hát. “Có đau nỗi đau của họ tôi mới sống trọn vẹn với nhân vật của mình”, bởi tâm niệm ấy mà lúc còn sống, mỗi khi có tiền do con cháu cho ăn quà vặt, bà lại gửi đến các báo để giúp đỡ người nghèo khó. Bà không ghi tên của bà mà ghi: “bà Tư bán chè, bà Năm cháo lòng”.
Cách đây không lâu, tình cờ gặp lại chị Liên, chị khoe: “Bây giờ tôi lên Sài Gòn ở luôn rồi, đứa con trai đã lớn, giờ vừa đi học vừa chạy xe ôm. Nó hứa ngày giỗ của ngoại Bảy sẽ chở tôi ra nghĩa trang TP để thắp hương”. Chị cười, gương mặt bình an...

THANH HIỆP

Tái bản cuốn sách Trôi theo dòng đời

Kỷ niệm năm năm ngày mất của NSND Bảy Nam, NSƯT Kim Cương quyết định tái bản có bổ sung cuốn sách Trôi theo dòng đời.
Trong lần tái bản này, NSƯT Kim Cương đã dày công sưu tập và bổ sung vào sách những tư liệu quý về cuộc đời và sự nghiệp của NSND Bảy Nam (1913-2004) - cây đại thụ của sân khấu cải lương và kịch nói Nam bộ. Đặc biệt nhất là bài viết do chính bà Bảy chấp bút trong những ngày cuối đời: Người bạn chí thân và Đêm diễn cuối cùng, kể về người bạn thân nhất của bà là nghệ sĩ Sáu Bê và sự cố bà bị nhồi máu cơ tim trong suất diễn cuối cùng của cuộc đời với vở Lá sầu riêng trong đêm kỷ niệm Sài Gòn - TP.HCM 300 năm.
Lời bạt của sách sẽ là những dòng tâm thư nói về cảm xúc sau năm năm mất mẹ của NSƯT Kim Cương với tựa: Đường xa vạn dặm. Ngoài ra, bên cạnh những bài báo viết về NSND Bảy Nam sau khi bà mất trong năm năm qua, cuốn sách mới còn tập hợp hơn 60 hình ảnh tư liệu chưa từng công bố về NSND Bảy Nam qua các thời kỳ.
Cuốn sách (dự kiến phát hành ngày 15-9) như một nén hương gửi đến người mẹ hiền của riêng chị, cũng là người mẹ hiền của những số phận trên sân khấu của nhiều thế hệ khán giả, người lao động nghèo.

H.OANH

Sunday, August 16, 2009







QUA MÀN SƯƠNG THƯƠNG NHỚ .


Có lẽ mai tôi về lại Tây Ninh
Thăm căn nhà xưa còn nguyên ở đó
Mắt lơ láo nhìn xuyên qua đám cỏ
Khoảng trống không hồn mồ mã mẹ cha

Từ đỉnh Bà Đen nhìn xuống cõi xa
Qua đám bụi Gò Dầu cay đôi mắt
Đời may mắn còn cho màu tóc bạc
Không chắc có người biết mình là ai

Gởi nhớ thương vào một gói trên tay
Cầm không hết tuổi thơ vừa khuỵu ngã
Nâng không nổi những ngày xanh rời rã
Tâm hồn trắng đầy những khúc khăn tang

Sẽ chạy một vòng cho mỏi đôi chân
Ghé xóm Đạo kinh buồn Tha La cũ
Dựa hai bờ Vàm Cỏ Đông màu mỡ
Nhìn lúa xanh đồng xanh cả tình quê

Sẽ đứng trên lầu trường học ngày thơ
Khóc thật dài như chưa từng được khóc
Lau thật kỹ nỗi buồn xưa côi cút
Theo dấu giày thơ ấu giẫm lên nhau

Chưa về quê nhà lòng đã xôn xao
Trong trí nhớ lung linh làn sương mỏng
Dẫu mưa có làm đôi vai ướt sũng
Vẫn mong nắng đầy nhuộm đỏ màu môi

Nằm bé bỏng trong lòng quê mẹ vui
Nâng niu chiếc nôi rung từng nhịp thở
Ở đầu thôn hương lòng yêu mở ngõ
Thơm phức tình người, kỷ niệm trắng tinh

Chờ tôi về, mai mốt, nhé Tây Ninh !…


TRẦN KIÊU BẠC. (2000)

Thursday, August 13, 2009




Phong Kiều Dạ Bạc .

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang Phong ngư hoả đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Bán dạ chung thanh đáo khách thuyền
Trương Kế

Bản dịch của Tản Đà:
Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San





Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:
Phong Kiều Dạ Bạc là bài thơ rất nổi tiếng của Trương Kế (张继 Zhang Jì), tác giả sống vào khoảng trước sau năm 756- đời vua Đường Túc Tông. Trương Kế tự là Ý Tôn, từng thi đậu tiến sĩ và làm quan trong triều với chức vụ Tự bộ viên ngoại lang, về sau bị đổi ra Hồng Châu coi việc tài phú và mất tại đây. Sinh thời, ông là người học rộng, thích đàm đạo và bàn bạc văn chương, thế sự... đặc biệt rất thích làm thơ.
Nguyên tác bài thơ Phong Kiều dạ bạc sau này đã được Khang Hữu Vi đời nhà Thanh khắc trên tấm bia lớn dựng trong chùa Hàn San để cho người đời sau qua đây thưởng lãm.

Wednesday, August 5, 2009









MỘT SỚM MƯA NGÂU.


Sáng hiu hắt nhớ chiều râm ran mong
Như Chức Nữ khóc Ngưu Lang tháng bảy
Chưa mưa Ngâu sao buồn lăn xuống đáy
Cuối vạt sầu chưa dược bắt tay nhau

Thôi đừng về đây cho ướt mưa Ngâu
Hãy đứng đó cho tình yêu xao xác
Cứ để máu tràn hai ngăn tâm thất
Sẽ thấy tình mình màu mỡ bao nhiêu

Tiếc những chiều ta chờ đợi e-mail
Thơì gian không nhiều để mình suy nghĩ
Im lặng chờ nhau là đang phung phí
Một góc đời đáng lẽ để yêu nhau

Lần cuối cho nhau không giống lần đầu
Đêm chia tay không như ngày gặp mặt
Nắng thiêu đốt đã làm khô cơn khát
Lãng du nơi nào, ơi giọt nước tình yêu

Sớm em về nhớ mang mưa Ngâu theo
Xin đưng đợi trời mưa chiều tháng bảy
Một giọt nước cuối cùng còn đứng lại
Là biển đời xao động trái tim anh.



TRẦN KIÊU BẠC.



ĐỂ HỒN TRÔI VỀ NĂM THÁNG CŨ.

Trời đang ru hồn lặng lẽ đêm tháng Giêng
Một tiếng phone reo nghe chừng xa lạ
Tiếng quen bên kia giòn tan cười còn trẻ quá
Những gương mặt bạn bè độ lượng như vầng trăng

Thế là mình đã qua mấy chục năm
Những sợi nhớ rơi theo chiều thẳng đứng
Chạm vào ngón chân đau một thời quên lãng
Kỷ niệm nào còn xếp sóng nằm nghiêng

Mình trở về trong khói sóng lênh đênh
Buổi sáng chim kêu đầy sân Học Viện
Đêm phấn mịn thoa sạch hơi phiền muộn
Để mai nầy cao vút một đường bay

Mình trở về đây Ký Túc Xá còn ai !
Cảm ơn tiếng phone chở mình quay lại
Đâu chỉ năm người cười trong phone ban nãy
Còn rất đông những khuôn mặt sáng trăng rằm

Giá mà kim đồng hồ quay ngược vài chục năm
Đêm chắc còn sáng đèn qua ô cửa kính
Ngày đầy tiếng chim khi trời chưa sáng
Trưa có người ngủ quên góc thư viện buồn

Đêm nầy tháng Giêng lặng lẽ một vầng trăng
Lại như có trăm người trăm tiếng nói
Bạn mình ơi! Đâu ngày mình trẻ tuổi
Gặp nhau bây giờ, mai mốt gặp nhau không ?


TRẦN KIÊU BẠC. (đêm 12/2/2006)
gởi Trần Bạch Thu, Lê Phước Ba, Phạm Phước Ngữ, Ngô Xuân Vũ , Triệu Hoà ( 5)những bạn gọi phone chung bất ngờ trong đêm








MÀU TRẮNG HOA SƯA.



Về thăm Hà Nội mùa nầy
Nhìn hoa Sưa trắng nở đầy phố quen
Nghe người kễ chuyện bên đèn
Một ngườì lính trận bình yên về làng
Trước khi trở lại chiến trường
Chàng trồng cây nhỏ trong vườn người yêu
Cho nàng thấy bớt quạnh hiu
Khi đêm thương nhớ lúc chiều vắng xa
Dặn rằng cứ độ tháng ba
Cây hoa sẽ nở đầy hoa Xuân thì
Nếu màu hoa đỏ, anh về
Bằng hoa nở trắng, anh đi muôn trùng
Khuyên nàng nên vội lấy chồng
Quên đi người đã gieo trồng cây hoa
Trời sang đến tiết tháng ba
Cây hoa nở trắng sân nhà đìu hiu
Nhìn hoa cô gái đăm chiêu
Khóc như mưa đổ đong nhiều nhớ nhung
Mỗi năm hoa trắng khắp vùng
Ngườì con gái hóa điên khùng mỗi năm
Nhìn hoa chết rụng đầy sân
Thương người yêu nhớ những lần gặp nhau
Chàng không về lại nữa đâu
Làm sao nàng nỡ làm dâu nhà người
Người xưa biết chuyện bùì ngùi
Ươm cây nhân giống gởi lời thương thân
Sau nầy những cặp tình nhân
Hái hoa cài tóc gọi mầm thủy chung
Hoa đầy thêm trắng một rừng
Khung trời Hà Nội ân cần đón hoa
Cần đặt tên nghĩ không ra
Người đời cứ gọi hoa là Hoa Sưa

Tôi về Hà Nội trời mưa
Hoa Sưa đã nở khi vừa sang Xuân
Trải lòng chuyên cũ rưng rưng
Khóc cho màu trắng não nùng hương đưa
Tạ ơn hoa nở đúng mùa
Như lòng chung thủy ngàn xưa vẫn còn
Tạ lòng người lính phong sương
Tạ tình cô gái giữ hồn hoa Sưa.


TRẦN KIÊU BẠC.







NGÓNG PHÍA TRỜI TÂY.


Mặt trời sắp lặn đàng Tây
Lòng ta đã biết mợt ngày sắp qua
Nhìn nghiêng bỗng thấy tuổi già
Ngày xưa thơ trẻ đã xa mất rồi
Bỏ quên con mắt biết cười
Còn chăng môi hát những lời vu vơ
Bờ bên Đông nước xanh lơ
Chiều rơi một khúc vàng chờ bờ Tây
Ngồi bên nọ ngóng bên nầy
Trước sau vẫn thấy loay hoay một mình
Mở lòng theo những câu Kinh
Đêm đen trộn với ngày xanh bồi hồi
Lang thang đi dọc cuộc đời
Thấy như chấm hết ngày dài ngược xuôi.



TRẦN KIÊU BẠC.




TIẾC .






Ngồi đây tiếc nuối không cùng
Tiếc thời mình đã người dưng nhau rồi
Phải chi đừng bước chung đôi
Thì đâu khóc lúc ngậm ngùi xa nhau
Giá mà biển cứ xanh màu
Thì con sóng chẳng bạc đầu vì ai
Lỡ rồi, tay đã rời tay
Màu đêm đã xuống bóng ngày đã qua
Thương nhau rồi lại chia xa
Bây giờ mới tiếc thuở là người dưng
Nhin nhau thốt tiếng “Giá đừng”
Giá đừng yêu, chẳng bâng khuâng tiếc hoài
Giá mà tay chẳng câm tay
Thì đâu phải nói với ai giá đừng
Phải chi mình cứ người dưng …



TRẦN KIÊU BẠC.



NHỚ TẠT VÀO ĐÊM.


Đêm nằm lại nhớ cõi quê
Nếu mà trăn trở bốn bề nhớ thêm
Lạ lùng cái nhớ thâu đêm
Nhớ như mưa tạt đến mềm ruột gan
Mơ xa lại nhớ mộng gần
Nhớ quay nhớ quắt trăm năm nhớ về
Thôi thì mang tuổi thơ đi
Ôm thời xanh tóc mà nghe muộn phiền
Làm sao quên thuở hồn nhiên
Nhiều khi nhớ cũng là quên thật rồi
Đã vù bay tuổi hai mươi
Chỉ còn đậu lại vàng rơi tuổi vàng
Trong vùng ký ức ngổn ngang
Tuổi xanh ghen ghét tuổi vàng đáng yêu
Đêm bồng cái nhớ liêu xiêu
Quê trong cõi nhớ, nhớ nhiều cõi quê.


TRẦN KIÊU BẠC.

MÙI THƠM CỦA ĐẤT.


Ngồi bên bờ đất Rạch Sơn
Nghe mùi rơm rạ rải thơm hồn mình
Đất thơm từ cụm bình minh
Thơm qua trời lặn cho xanh tuổi vàng
Nhớ hồi còn nhỏ lang thang
Bơi trong sóng nước mỡ màng tuổi xuân
Rạch Sơn vẩy chút hương trầm
Lớn ròng như khúc phù vân cuộc đời
Nghe câu vọng cổ bồi hồi
Nhớ bàn chân đất của thời xa xưa
Cái thời mưa chạy theo mưa
Nắng đùa theo nắng vẫn chưa biết buồn
Câu ca cũ chảy thành nguồn
Quyện trong sương sớm vào hồn ca dao
Ngồi bên bờ rạch đã lâu
Cái thương cái nhớ chạm nhau thật gần
Tạ ơn con rạch dịu dàng
Cho thơm mùi đất bàng hoàng như say!


TRẦN KIÊU BẠC



CHỢ TẾT .






Ngồi nhìn chợ Tết vừa tan
Hình như Mai chẳng kịp vàng buổi trưa
Phải chăng trời sớm sang mùa
Nên chùm hoa Cúc cũng chưa kịp vàng


TRẦN KIÊU BẠC.



MỘT GIÂY XAO ĐỘNG.


Đìu hiu gió đìu hiu mây
Đìu hiu đến cả bàn tay người tình
Một giây suy nghĩ quẩn quanh
Thì ra mới biết một mình đìu hiu!



TRẦN KIÊU BẠC.






LỤC BÁT- CHUỖI THƠ RỜI.


Ngày đi qua nắng thôi vàng
Đêm về có mộng cũng tan theo ngày
Xòe tay đếm những ngón tay
Đếm bao ngón ngắn ngón dài mà đau!
Trăng cười chi mãi đêm thâu
Để ai đổ bóng bên cầu trần ai
Trách chi dây buộc vào dây
Tìm nhau nào nắm được tay mà tìm
Ngày đi trờì đã sang đêm
Hỏi nhau đã đến cõi riêng bao giờ
Hay chờ đêm vuớng câu thơ
Để đêm không sáng và bơ vơ ngày
Đêm tan mà nhớ vẫn đầy
Rượu còn chưa biết tỉnh say lúc nào
Còn cuộc sống còn chiêm bao
Ngày còn mộng mị đêm vào cõi mơ.



TRẦN KIÊU BẠC.



MUỘN RỒI.


Muộn rồi, anh đã quên em
Ở chung quả đất cũng thèm mộng mơ
Muộn rồi, đã sẩy câu thơ
Viết hoa mấy chữ giả vờ đẩy đưa
Muộn rồi, trời đã thôi mưa
Lấy đâu nước sạch gội vừa tóc em
Muộn rồi, ngày đã vào đêm
Tìm đâu bóng nắng bên thềm đợi nhau
Muộn rồi, cau đã xa trầu
Đừng mong vôi đỏ trầu cau, muộn rồi!



TRẦN KIÊU BẠC.